Ph n III PHầ ƯƠNG HƯỚNG HO N THIÀ ỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ
V KINH DOANH PH N BÓN VÔ CÀ Â Ơ Ở VIỆT NAM
1-/ NHU CẦU PH N BÓN CÂ ỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM TỚI.
Từ nay đến năm 2000 v 2010 nhu cà ầu phân bón của Việt Nam cũng
vẫn sẽ tiếp tục tăng lên h ng nà ăm, bởi hai lý do:
-Một l ,à Việt Nam trong quỹ đất của mình vẫn còn khoảng 3 triệu ha có
thể khai thác đưa v o sà ản xuất nông nghiệp, nhất l à ở vùng Tây Nguyên và
một số nơi ở miền núi phía bắc.ở đồng bằng Sông Cửu Long, Chính Phủ Việt
Nam dự định cố gắng đến năm 2010 sẽ đưa phần lớn số đất n y v o sà à ử dụng.
Mặt khác, khả năng tăng vụ của Việt Nam vẫn còn khá lớn ở tất cả các vùng
nhất l à đồng bằng Sông Cửu Long. Nếu l m tà ốt công tác thuỷ lợi, bảo đảm
việc tưới tiêu chủ động, đồng thời có các giống cây trồng phù hợp, có sự
chuyển dịch cơ cấu cây trồng tốt, thì vụ tăng vụ sản xuất sẽ tăng nhanh. Dự
tính đến năm 2000, nhờ tăng vụ Việt Nam có thể tăng diện tích gieo trồng lên
từ 300- 500 ng n ha.à
Diện tích gieo trồng tăng l nhân tà ố quan trọng góp phần l m cho nhuà
cầu về phân bón tăng lên h ng nà ăm.
-Hai l ,à cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất
nông nghiệp, trình độ thâm canh của sản xuất cũng không ngừng nâng cao, nhu
cầu phân bón vì thế cũng từng bước được tăng lên. sự tăng lên ở đây cũng
thể hiện hai phương diện: một mặt l nhà ững nơi nông dân đã dùng phân hoá
học rồi, sẽ tăng thêm số lượng sử dụng trên 1 ha mỗi vụ, mặt khác nông dân ở
những nơi chưa sử dụng v chà ưa biết sử dụng, sẽ dần dần l m quen và ới việc
sử dụng- chính điều n y sà ẽ l m cho nhu cà ầu phân bón tăng đáng kể trong
những năm tới.
Thực ra so với quy trình kỹ thuật hiện nay trong sản xuất nông nghiệp do
Bộ nông nghiệp v phát trià ển nông thôn đề ra. Thì lượng phân bón đã sử dụng
tính bình quân trên mỗi ha của Việt Nam mới đạt khoảng 60-70% yêu cầu.
So với các nước trong khu vực v các nà ước có nông nghiệp tiên tiến
trên thế giới, thì lượng phân hoá học Việt Nam đã sử dụng tính bình quân
ĐB Sông Hồng
597.000 653.000 740.000
Khu 4 cũ
66.000 72.000 90.000
Duyên Hải Miền Trung
147.000 152.000 160.000
Tây Nguyên 83.000 86.000 90.000
Đông nam bộ
155.000 60.000 165.000
Đồng bằng Sông Cửu Long
656.000 720.000 830.000
Như vậy, ta thấy riêng phân ure, bình quân nhu cầu mỗi năm tăng thêm
khoảng 150.000 tấn.
2-/ NHỮNG GIẢI PH P Á ĐỂ ỔN ĐỊNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ V À
KINH DOANH PH N BÓN VÔ CÂ Ơ Ở VIỆT NAM
2.1-/ Vấn đề tổ chức sản xuất phân bón trong nước.
2.1.1. Về phân Lân:
Với nhu cầu phân lân như đã dự đoán, với năng lực sản xuất hiện tại
của các doanh nghiệp sản xuất phân lân trong nước, chúng tôi cho rằng như
vậy l à đáp ứng được- thậm chí cần đầu tư kỹ thuật v công nghà ệ để nâng
cao hơn nữa chất lượng của phân lân, l m cho nó không nhà ững đáp ứng được
nhu cầu của sản xuất nông nghiệp trong nước m còn tià ến tới xuất khẩu nữa.
2.1.2 Phân NPK:
Hiện nay các xí nghiệp thuộc Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam mỗi
năm sản xuất được từ 450.000- 500.000 tấn. Đồng thời ở các ng nh, các à địa
phương cũng có một số cơ sở sản xuất được từ 70.000- 100.000 tấn- Như vậy
tổng lượng phân NPK sản xuất được trong nước trong hai năm 1998 v 1999à
khoảng 500- 600 ng n tà ấn. Như thế mỗi năm chỉ cần nhập thêm khoảng 150-
200 ng n tà ấn l à đủ. Song song với các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư xây
dựng, hiện tại đang có 4 doanh nghiệp sản xuất phân NPK do các doanh nghiệp
Năng lực
sản xuất
Khối lượng
sản xuất
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
1.Trung Quốc
18.037 16.400 4.500
2 ấn Độ
16.224 14.200 3.200
3.Liên Xô cũ
11.840 8.200 6.000
Trong đó- Nga
5.293 3.900 3.200
Ukraina 3.460 3.000 2.300
Berarus 1.098 650 150
4.Mỹ
6.954 7.250 800 3.000
5. Inđonexia
6.303 5.400 1.700
6. Pakistan 3.255 3.200 100
7.Canađa
3.102 3.150 1.800 250
8.Bănglađét
2.787 2.300 450
9.Rumani 2.404 1.150 950
10.arâp Saoudite 1.892 2.150 1.800
11.Bắc Triều Tiên
v nà ăm 2000 sẽ l 187 USD.à
Mặt khác, kinh nghiệm sản xuất phân ure của các nước đang phát triển
thời gian qua cho thấy rằng, ít có nước n o sà ản xuất được ure với giá dưới
200USD/ tấn. Chính vì thế, trong điều kiện hiện nay khi m xu thà ề ho nhà ập
v hà ợp tác kinh tế ng y c ng tà à ăng trong lĩnh vực cũng như trên thế giới, thì
chúng ta cần phải tính kỹ việc xây dựng nh máy phân ure Phú Mà ỹ- Nếu tính