208 Phương hướng hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính- kế toán trong việc phân tích tình hình tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay - Pdf 23

Lời mở đầu
Trong nền kinh tề thị trờng hiện nay, các thành phần kinh tế, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhà nớc đều có khả năng phát huy quyền chủ động của mình trong
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nh trong hoạt động tài chính. Để thích ứng với
sự biến động lớn của nền kinh tế đồng thời để đứng vững trong cạnh tranh , các
doanh nghiệp đều phải đề ra những chiến lợc phát triển dài hạn và ngắn hạn, mà
một trong những nhiệm vụ quan trọng quyết định đó là quan tâm tới tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Nếu nh việc cung ứng, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
trôi chảy là tiền đề đảm bảo cho hoạt động tài chính đợc hiệu quả thì việc tổ chức
và huy động các nguồn vốn kịp thời, việc quản lý và phân phối nguồn vốn đúng
đắn sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh đợc tiến hành liên tục và
có lợi nhuận cao. Do đó, để đáp ứng một phần các yêu cầu mang tính chiến lợc của
mình , các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài
chính của doanh nghiệp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính để từ đó phát
triển mặt tích cực, hạn chế tiêu cực của hoạt động tài chính , xác định nguyên nhân
cơ bản đã ảnh hởng đến các mặt này để từ đó đa ra các biện pháp cần thiết , kịp
thời nhằm cải tiến hoạt động tài chính , tạo tiền đề tăng hiệu quả của sản xuất kinh
doanh . Nh vậy việc phân tích tình hình tài chính thông qua các bản báo cáo tài
chính không những có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá những tiềm lực vốn
có của doanh nghiệp , xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh
mà còn thông qua đó xác định đợc xu hớng phát triển của doanh nghiệp tìm ra
những bớc đi vững chắc , hiệu quả trong tơng lai gần. Nó thực sự là một công cụ
trong công tác quản lý của chủ doanh nghiệp nói riêng và hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung.
Hiện nay, trong chặng đờng đầu tiên của công cuộc Công nghiệp hoá- hiện
đại hóa, hệ thống các bản báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp còn
- 1 -
nhiều bất cập. Đặc biệt, hệ thống thuế cũng nh các văn bản quy định việc thu sử
dụng vốn của các doanh nghiệp , phơng pháp hạch toán, kế toán tài sản cố định, tài
sản lu động ảnh hởng rất lớn đến việc lập bản báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp. Từ nhận thức về tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính qua báo

- 3 -
2. Nguồn vốn tài trợ đợc huy động ở đâu, vào thời điểm nào với một cơ cấu
vốn tối u và chi phí vốn thấp nhất?
3. Lợi nhuận của doanh nghiệp đợc sử dụng nh thế nào?
4. Phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính nh thế nào để thờng
xuyên đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính?
5. Quản lý các hoạt động tài chính nh thế nào để đa ra các quyết định thu, chi
phù hợp.
6. Các câu hỏi trên đây cha phải là tất cả mọi vấn đề của họat động tài chính
doanh nghiệp nhng đó là những câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến cách thức tổ
chức, quản lý tài chính doanh nghiệp.
1.1.2. Các quan hệ tài chính
Căn cứ vào hoạt động của một doanh nghiệp trong một môi btrờng kinh tế xã hội
có thể thấy quan hệ tài chính rất phong phú, đa dạng, xuyên suốt cuộc đời của các
doanh nghiệp. Các quan hệ đó là:
a. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà n ớc:
Quan hệ này phát sinh trong quá trình trao đổi hàng hoá dịch vụ phân phối sản
phẩm quốc dân giữa Nhà nớc với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải nộp thuế
cho Nhà nớc theo luật định. Nhà nớc cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động( đối với
doanh nghiệp Nhà nớc).
b. Quan hệ tài chính với doanh nghiệp tài chính :
Doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi mua bán các sản phẩm tài chính
nhằm thoả mãn nhu cầu vốn của mình. Trong quá trình đó, doanh nghiệp luôn phải
tiếp xúc với thị trờng tài chính mà chủ yếu là thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn.
Với thị trờng tiền tệ: thông qua thị trờng các ngân hàng, doanh nghiệp có thể
tạo đợc nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của
mình. Đồng thời các doanh nghiệp đều phải mở tài khoản tại một ngân hàng nhất
- 4 -
định và thực hiện các giao dịch mua bán qua chuyển khoản. Do đó, quan hệ tài
chính giữa doanh nghiệp và các ngân hàng trở thành quan hệ vốn có bền vững.

1.2.Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tài chính hiện hành của doanh nghiệp với quá khứ hay so sánh giữa
các doanh nghiệp khác nhau trong cùng một ngành kinh tế. Thông qua việc phân
tích tình hình tài chính, ngời sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng hiệu quả
kinh doanh cũng nh những rủi ro trong tơng lai và triển vọng của doanh nghiệp.
Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của
nhiều nhóm ngời khác nhau nh: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhà đầu t,
các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín dụng, các nhà quản lý, các nhân viên
ngân hàng, các nhà bảo hiểm, kể cả các cơ quan chính phủ và ngời lao động. Mỗi
một nhóm ngơig này có những nhu cầu thông tin khác nhau nên có những cách
nhìn khác nhau về tình hình tài chính của công ty. Song trên thực tế, những nhóm
ngời này đều dựa trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần quan tâm để đa
ra các quyết định đầu t đúng đắn nhất, phù hợp với họ nhất.
Đối vói doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng
đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Thông thờng, để tối đa hoá
nguồn vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp thờng có xu hớng sử dụng đòn bẩy tài
chính. Nhng cái gì cũng có mặt trái của nó đó là rủi ro rất cao có thể dẫn tới nguy
cơ phá sản của doanh nghiệp do tính thanh khoản của các dòng tiền thấp, không có
đủ khả năng trả nợ. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không đi vay, không huy động
thêm vốn để mở rộng khả năng kinh doanh của mình thì nguồn vốn chủ sỏ hữu của
doanh nghiệp có thể bị bào mòn dần và sẽ không tiếp tục kinh doanh đợc. Do đó,
- 6 -
đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, điều đặc biệt cần lu ý đó là phải có
các chính sách bổ sung kịp thời nhằm điều tiết sự chênh lệch giữa việc huy động
vốn và sử dụng vốn của mình một cách hợp lý thông qua việc phân tích các chỉ tiêu
từ các bản báo cáo tài chính.
Đối với các chủ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, mối quan tâm của họ
chủ yếu hớng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đăc biệt chú ý tới
số lợng tiền mặt, các chứng khoán khả mại, các khoản phải thu, hàng tồn kho tức

trạng, tiềm năng của doanh nghiệp.
II. Hệ thống báo cáo tài chính công cụ để phân tích tình
hình tài chính của doanh nghiệp .
2.1. Mục đích và nội dung của báo cáo tài chính .
* Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn
và công nợ cũng nh tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp. Những báo cáo này do kế toán soạn thoả theo định kỳ nhằm mục đích
cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Bởi vậy, hệ
thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp đợc lập với mục đích sau:
+ Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản,
công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong một kỳ hạch toán nh: Tài sản lu động, tài sản cố định, nợ ngắn hạn, nợ dài
hạn, nguồn vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán hay doanh thu, thu nhập tr-
- 8 -
ớc lãi và thuế, thu nhập sau thuế trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp .
+ Cung các các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình
hình và kết quả hoạt động, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt
động đã qua và những dự đoán trong tơng lai. Thông tin của báo cáo tài chính là
căn cứ quan trọng để đè ra những quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh, hoặc đầu t vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, các nhà đầu t, các
chủ nợ hiện tại và tơng lai của doanh nghiệp.
*Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp gồm 4 biểu mẫu báo cáo:
+ Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
+ Báo cáo lu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN)
+ Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B04-DN)
Ngoài ra còn tồn tại một số báo cáo khácphục vụ các yêu cầu của doanh

2.3.Bảng cân đối kế toán .
2.3.1. Bản chất và ý nghĩa của bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng
quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh
nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Số liệu trên BCĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp
theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành các tài sản đó. Căn
cứ vào BCĐKT có thể nhận xét, đành giá khái quát tình hình tài chính của doanh
nghiệp.
2.3.2 Nội dung và kết cấu của BCĐKT
BCĐKT đợc chia làm 2 phần: Phần Tài sản và Phần Nguồn vốn
* Phần Tài Sản: Các chỉ tiêu ở phần Tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản
hiện có của doanh nghiệp tai thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn
tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản đợc phân chia
nh sau:
+ Tài sản lu động và đầu t ngắn hạn gồm: Tiền ( tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân
hàng, tiền đang chuyển); Các khoản phải thu ( phải thu của khách hàng, trả trớc
cho ngời bán, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác, dự phòng các khoản phải
thu khó đòi ); Hàng tồn kho (TSLĐ nằm trong quá trình dự trữ chuẩn bị sản xuất,
TSLĐ đang trong quá trình trực tiếp sản xuất, TSLĐ nằm trong quá trình dự trữ
tiêu thụ, dự phòng giảm giá hàng tồn kho) ; TSLĐ khác nh tạm ứng cho ngời lao
động, chi phí trả trớc, các khoản cầm cố, ký quỹ ngắn hạn, ký cợc ; Vốn lu động
thờng xuyên cần thiết
Tài sản đầu t ngắn hạn bao gồm những tài sản đầu t tài chính có thời hạn thu
hồi vốn không quá 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.
+Tài sản cố định và tài sản đầu t dài hạn
Tài sản cố định bao gồm nhà xởng, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp.
- 11 -
Tài sản đầu t dài hạn gồm những tài sản đầu t tài chính có thời hạn hồi vốn
trên một năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status