335 Giải pháp và phương hướng hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính ở Việt Nam hiện nay - Pdf 23

1
LỜI MỞ ĐẦU I. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Kế toán ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền văn minh của nhân loại, nó
là công cụ quản lý kinh tế quan trọng, có nhiệm vụ tính toán phản ánh qúa trình
hoạt động kinh tế và kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thò
trường, kế toán là phong vũ biểu xác đònh nguồn thông tin trung thực để xác đònh
hiệu qủa kinh tế và các phương án quản lý, giúp các nhà đầu tư, các chủ doanh
nghiệp, các tầng lớp nhân dân lao động sử dụng tốt nhất nguồn vốn và tiền tiết
kiệm của mình để làm lợi cho các cá nhân, các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh
tế. Số liệu kế toán trung thực được thông tin rộng rãi sẽ là tiền đề cho việc hình
thành và phát triển các thò trường, đặc biệt là thò trường tài chính, tạo lòng tin cho
nhân dân, Đảng, chính phủ để xây dựng một nền kinh tế ngày càng giàu mạnh.
Trong qúa trình chuyển đổi cơ chế ở nước ta hiện nay, công tác kế toán càng trở
nên quan trọng, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn phức tạp trong việc tìm tòi đổi mới
để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài chính. Những năm qua cùng với quá trình
phát triển kinh tế và quá trình đổi mới của cơ chế kinh tế, hệ thống kế toán Việt
Nam đã không ngừng hoàn thiện và phát triển góp phần tích cực có hiệu qủa vào
công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, đặc biệt là hệ thống báo cáo tài chính, một
bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán, với vai trò là phương tiện để truyền đạt
những thông tin tài chính có ích cho người sử dụng để đề ra các quyết đònh kinh tế.
Tuy đã được cải cách và hoàn thiện, nhưng hệ thống kế toán nói chung và hệ thống
báo cáo tài chính hiện hành nói riêng vẫn còn bộc lộ một số nhược điểm chưa phù

2
hợp vơi cơ chế kinh tế, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của các đối tượng sử
dụng và chưa thực sự là công cụ hữu ích trong việc đề ra các quyết đònh kinh tế.
Trên cơ sở nhận thức về lý luận, thực tiễn và trong phạm vi nghiên cứu mô hình báo
cáo tài chính hiện hành tại Việt Nam, tôi mong muốn tham gia một số ý kiến nhỏ

pháp tính toán .
Về sử dụng thông tin kế toán. Kế toán được đònh nghóa là một phương pháp
cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu qủa và đánh giá hoạt động của mọi
tổ chức.
Đó là những thông tin cần thiết cho :
- Công tác lập kế hoạch, kiểm tra và ra quyết đònh trong quản lý.
- Khả năng thanh toán của tổ chức đối với các nhà đầu tư, tín dụng, cơ quan
Nhà nước và các tổ chức khác.
Có thể khái quát từ đònh nghóa trên thành hai điểm chính :
- Trọng tâm phục vụ, hoặc tiêu điểm của kế toán là tổ chức. Mọi thông tin
kế toán cung cấp đều nhằm phục vụ tổ chức.

- Thông tin kế toán rất cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp. Những
thông tin này được dùng trong việc ra quyết đònh ở bên trong tổ chức ( bởi

4
những người giữ vai trò quản lý ) và cả bên ngoài tổ chức ( bởi những nhà
đầu tư trong việc bỏ tiền vào kinh doanh để mong thu được lợi nhuận, bởi
các nhà tín dụng trong việc cho doanh nghiệp vay tiền…)
Về hoạt động kế toán. Đònh nghóa thứ hai dựa trên công việc của một người
làm kế toán. Trong kế toán, kết qủa hoạt động kinh tế của doanh nghiệp được thu
thập, phân tích, đo lường, sắp xếp, ghi chép, tóm tắt và phản ánh dưới dạng thông
tin.
Điều này cho thấy công việc của người kế toán là một công việc tổng hợp
đòi hỏi nhiều hoạt động khác nhau. Chủ yếu bao gồm :
- Xác đònh số liệu nào liên quan, thích ứng với các quyết đònh đưa ra.
- Xử lý và phân tích các số liệu liên quan.
- Chuyển các số liệu đó thành thông tin phục vụ cho việc ra quyết đònh.
Căn cứ vào điều lệ tổ chức kế toán Việt Nam thì “ Kế toán là công việc ghi
chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trò, hiện vật và thời gian lao động,

được sử dụng trong nội bộ, không cung cấp cho bên ngoài.
Trên bình diện tổng quát, mục tiêu của kế toán là thu thập và truyền đạt các
thông tin cần thiết để đưa ra các quyết đònh có liên quan đến quản trò, đầu tư, tài
trợ, tín dụng, cho vay trong một doanh nghiệp. Xét một cách cụ thể hơn, mục tiêu
của kế toán là cung cấp dữ liệu có liên quan đến :

6
- Việc sử dụng các tài nguyên ( Tài sản ) của doanh nghiệp, các nghóa vụ
và trách nhiệm đối với tài nguyên và vốn chủ sở hữu.
- Các biến động về vốn do ảnh hưỡng của các hành vi kinh tế, pháp lý và
các giao dòch thương mại.
- Các thành qủa đạt được của doanh nghiệp trong một thời kỳ kinh doanh
nhất đònh.
1.2. Bản chất và vai trò của hệ thống báo cáo tài chính
1.2.1 Bản chất của hệ thống báo cáo tài chính
Theo hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, báo cáo tài chính được xác
đònh là loại báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình về
kết qủa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất đònh, được
thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau do Nhà nước
quy đònh thống nhất và mang tính pháp lệnh.
Có các yếu tố cơ bản hình thành bản chất của báo cáo tài chính là :
- Những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.
- Nguyên tắc kế toán của chế độ quy đònh hoặc được thừa nhận.
Theo viện kiểm toán viên công chứng Hoa kỳ ( AICPA ) “ Hệ thống báo cáo
tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét đònh kỳ về quá trình
hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết qủa
đạt được trong thời kỳ báo cáo. Hệ thống báo cáo tài chính phản ánh sự kết hợp của
những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá
nhân mà trong đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh
hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện. Những đánh giá đúng đắn tuỳ thuộc

Về mặt kinh tế, báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho nhà quản lý và chủ
yếu là các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, là công cụ để ra quyết đònh. Theo
“ Báo cáo công ty “ được xuất bản bởi tổ chức kế toán viên chuyên nghiệp ở Anh
và xứ Wales ( 1975 ), những người sử dụng báo cáo tài chính bao gồm :
+ Những người chủ sỡ hữu và cổ đông : Họ cần biết những rũi ro về vốn, cần
các thông tin về các rũi ro tiềm tàng trong các doanh nghiệp có liên quan đến
khoản đầu tư của họ. Họ cần những thông tin để ra các quyết đònh mua bán các
chứng khoán, đánh giá khả năng trả cổ tức của doanh nghiệp.
+ Nhà cho vay : Họ quan tâm đến các thông tin giúp họ xác đònh xem các
khoản nợ gốc và lãi của họ có được trả khi đến hạn không.
+ Nhà cung cấp : Họ quan tâm đến những thông tin có khả năng giúp họ xác
đònh xem những khoản tiền mà doanh nghiệp nợ liệu có được trả đúng hạn không.
Những tín chủ thương mại thường quan tâm đến doanh nghiệp trong khoảng thời
gian ngắn hơn so với các nhà cho vay, trừ trường hợp họ phụ thuộc vào sự liên tục
sản xuất của doanh nghiệp vì doanh nghiệp là khách mua hàng chính của họ.
+ Khách hàng : Họ quan tâm đến những thông tin về khả năng tiếp tục hoạt
động của doanh nghiệp, đặc biệt là khi họ có những mối liên hệ dài hạn hoặc phụ
thuộc vào doanh nghiệp.
+ Nhân viên Công ty : Nhân viên và các nhóm đại diện của họ quan tâm đến
các thông tin về tính ổn đònh và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Họ cũng quan
tâm đến các thông tin giúp họ đánh giá khả năng chi trả lương, trợ cấp hưu trí và
thời cơ tuyển dụng lao động của doanh nghiệp.

9
+ Chính phủ : Họ quan tâm đến việc phân bổ các nguồn lực và vì thế mà họ
quan tâm đến cả hoạt động của doanh nghiệp. Họ cũng yêu cầu các thông tin để
điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp, xác đònh chính sách thuế và coi đó là
cơ sở cho việc thống kê thu nhập quốc dân cũng như các thống kê khác tương tự.
+ Công chúng : Doanh nghiệp ảnh hưỡng đến công chúng bằng nhiều dạng,
doanh nghiệp có thể đóng góp lớn vào nền kinh tế của đòa phương như tuyển dụng

đến môi trường kế toán như : Hệ thống luật pháp, luật thuế, mức độ lạm phát, yếu
tố văn hoá, chính trò xã hội….
1.3.2 Mục tiêu của báo cáo tài chính
Theo quan điểm tổng quát, mục tiêu của thông tin trong báo cáo tài chính là
cung cấp những chỉ dẫn hữu ích cho việc lấy các quyết đònh về quản trò, đầu tư, tín
dụng… về một thực thể. Theo một quan điểm ít tổng quát hơn, mục tiêu của thông
tin trong báo cáo tài chính là trình bày những chỉ dẫn cho phép tiên liệu những số
tiền, lòch trình và khả năng thu tiền về trong tương lai.
Tháng 12/1988 ủy ban chuẩn mực kế toán thuộc viện các kế toán viên công
chứng Cana có bổ sung thêm các kiến nghò và hiện nay đã có hiệu lực pháp lý
liên quan đến việc trình bày các thông tin kế toán như sau: “ Mục tiêu của báo cáo
tài chính là truyền đạt những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và
những người sử dụng khác cần phải đưa ra các quyết đònh và sung dụng tài nguyên

11
hoặc đánh giá những thể thức mà ban giám đốc thực hiện nhiệm vụ quản trò của
mình “ . Do đó báo cáo tài chính phải cung cấp các thông tin về :
+ Các tài sản có, các quyền và nghóa vụ, các vốn riêng của chủ sỡ hữu trong
một thực thể kinh tế.
+ Sự tiến triễn của các tài sản, các quyền lợi, nghóa vụ và vốn của chủ sỡ
hữu.
+ Thành tích kinh tế của một thực thể.
Nói cách khác, mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin
về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và những biến động về tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Những thông tin này rất hữu ích giúp cho người sử dụng ra
các quyết đònh kinh tế kòp thời.
Các báo cáo tài chính được lập theo mục đích này đáp ứng những yêu cầu
chung của hầu hết những người sử dụng . Tuy nhiên, các báo cáo tài chính không
cung cấp toàn bộ các thông tin mà người sử dụng yêu cầu để ra các quyết đònh về
quản lý kinh tế vì chúng chỉ đưa ra những ảnh hưỡng tài chính quá khứ và cũng

kinh tế của người sử dụng, những thông tin này không thể bò loại ra vì lý do là nó có
thể sẽ là rất khó hiểu đối với người sử dụng.

13
1.3.3.2 Tính thích hợp
Để có ích, các thông tin phải phù hợp để đáp ứng các yêu cầu đưa ra các
quyết đònh kinh tế của người sử dụng. Những thông tin có chất lượng phù hợp là
những thông tin có tác động đến quyết đònh kinh tế của người sử dụng bằng cách
giúp họ đánh giá các sự kiện qúa khứ, hiện tại, tương lai hoặc xác nhận, chỉnh lý
các đánh giá quá khứ của họ. Vai trò xác nhận và dự đoán của các thông tin có
quan hệ tương hổ lẫn nhau. Ví dụ các thông tin về mức độ tài sản và cơ cấu tài sản
hiện có rất có giá trò đối với người sử dụng khi họ muốn dự đoán khả năng của
doanh nghiệp để tận dụng cơ hội và phản ứng với các tình huống ngược lại. Các
thông tin tương tự đóng vai trò xác nhận về các chẩn đoán quá khứ, ví dụ, tìm ra
cách thức để xây dựng nên doanh nghiệp hoặc lập kế hoạch kinh doanh.
Tuy nhiên nếu có sự chậm trể trong việc báo cáo các thông tin thì sự chậm
trể đó có thể làm mất đi tính phù hợp của các thông tin. Vì vậy, thông tin phải được
công bố kòp thời để các đối tượng sử dụng đưa ra các quyết đònh đúng lúc, trước khi
các cơ may có ảnh hưỡng đến quyết đònh của họ trôi qua. Để cung cấp những thông
tin trên cơ sở kòp thời, người ta cho rằng cần thiết phải báo cáo trước khi tất cả các
phương diện của giao dòch hoặc sự kiện được nhận biết.
Như vậy, để thông tin trên báo cáo kế toán được thích hợp, nó phải có các
phẩm chất : Một giá trò dự kiến, một giá trò xác nhận và sự công bố kòp thời.
1.3.3.3 Tính đáng tin cậy
Để hữu ích, thông tin phải đáng tin cậy. Các thông tin có chất lượng đáng tin
cậy khi chúng không mắc những sai lầm nghiêm trọng hoặc phản ánh méo mó một
cách cố ý và có thể phụ thuộc vào người sử dụng khi sử dụng các thông tin đó cho

+ Tính khách quan
Để có độ tin cậy cao, thông tin trong các báo cáo tài chính phải khách quan,
không bò xuyên tạc, bóp méo một cách cố ý. Các báo cáo tài chính sẽ không được
coi là khách quan nếu như bằng việc lựa chọn hoặc trình bày thông tin chúng có
ảnh hưỡng đến việc ra các quyết đònh hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bày đó
nhằm đạt đến kết qủa mà người lập báo cáo đã biết trước.
+ Tính thận trọng
Những người lập báo cáo tài chính thường phải trình bày các nội dung về
nhiều sự kiện, tình thế không chắc chắn khó có thể tránh được, chẳng hạn như khả
năng thu hồi các khoản nợ khó đòi, thời gian hữu dụng có thể của máy móc thiết bò.
Các yếu tố không chắc chắn như vậy được hạch toán bằng cách trình bày nội dung,
bản chất của nó và thực hiện nguyên tắc thận trọng trong việc lập báo cáo tài
chính. Thận trọng bao gồm cả mức độ lường trước các sự kiện cần xét đoán trong
qúa trình dự đoán trên cơ sỡ những dữ liệu không thật chắc chắn, ví dụ tài sản và
thu nhập thì không được tính cao lên, ngược lại công nợ và chi phí không được tính
thấp xuống. Tuy nhiên, việc thực hiện tính thận trọng không có nghóa là che dấu
nguồn dự trữ hoặc lập các quỹ dự phòng lớn hơn yêu cầu thực tế. Việc cố ý ghi giá
trò của tài sản hoặc thu nhập thấp hơn thực tế hoặc xác đònh chi phí, công nợ cao
hơn thực tế không được coi là sự thận trọng mà là xuyên tạc sự thật và điều này sẽ
dẫn đến việc các thông tin trong báo cáo tài chính thiếu khách quan.
16
1.3.3.4 Tính so sánh được và tính nhất quán
Vì người sử dụng phải so sánh các thông tin trong các báo cáo tài chính của
kỳ này với kỳ trước để xác đònh xu hướng biến động về tình hình tài chính và kinh
doanh của doanh nghiệp. Người sử dụng cũng phải so sánh các báo cáo tài chính
của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá mối tương quan về tình hình tài chính,
tình hình kinh doanh và các thay đổi về tình hình tài chính của các doanh nghiệp. Vì

1.4.1.1 Tình hình tài chính
Các yếu tố có liên quan trực tiếp tới việc xác đònh và đánh giá tình hình tài
chính là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Những yếu tố này được đònh nghóa
như sau :
(a) Tài sản : Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu
được lợi ích kinh tế trong tương lai.
(b) Nợ phải trả : Là nghóa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ
các giao dòch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán
từ các nguồn lực của mình.
(c) Vốn chủ sở hữu : Là giá trò vốn của doanh nghiệp được tính bằng
số chênh lệch giữa giá trò Tài sản của doanh nghiệp trừ Nợ phải
trả.

18
Khi xác đònh các khoản mục trong các yếu tố của báo cáo tài chính phải chú
ý đến hình thức sở hữu và nội dung kinh tế của chúng. Trong một số trường hợp, tài
sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng căn cứ vào nội dung kinh tế
của tài sản thì được phản ánh trong các yếu tố của báo cáo tài chính.
+ Tài sản
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn
tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản
tiền mà doanh nghiệp phải chi ra.
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thể hiện trong các trường
hợp, như :
(a) Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác
trong sản xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dòch vụ cho khách
hàng.
(b) Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác.
(c) Để thanh toán các khoản nợ phải trả.
(d) Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.

Nợ phải trả phát sinh từ các giao dòch và sự kiện đã qua, như mua hàng hoá
chưa trả tiền, sử dụng dòch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hoá,
cam kết nghóa vụ hợp đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác.
+ Vốn chủ sở hữu

20
Vốn chủ sở hữu được phản ánh trong bảng cân đối kế toán, gồm : vốn của
các nhà đầu tư, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các qũy, lợi nhuận chưa
phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá lại tài sản.
(a) Vốn của các nhà đầu tư có thể là vốn của chủ doanh nghiệp, vốn
góp, vốn cổ phần, vốn Nhà nước.
(b) Thặng dư vốn cổ phần là chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu với
giá thực tế phát hành.
(c) Lợi nhuận giữ lại là lợi nhuận sau thuế giữ lại để tích lũy bổ sung
vốn.
(d) Các qũy như qũy dự trữ, qũy dự phòng, quỹ đầu tư phát triển.
(e) Lợi nhuận chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ
sở hữu hoặc chưa trích lập các qũy.
(f) Chênh lệch tỷ giá gồm :
- Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng.
- Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi doanh nghiệp ở trong nước hợp nhất báo
cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài sử dụng đơn vò tiền tệ kế
toán khác với đơn vò tiền tệ kế toán của doanh nghiệp báo cáo.
(g) Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trò ghi sổ
của tài sản với giá trò đánh giá lại tài sản khi có quyết đònh của
Nhà nước, hoặc khi đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, cổ phần.
1.4.1.2 Tình hình kinh doanh
Lợi nhuận là thước đo kết qủa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các
yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác đònh lợi nhuận là Doanh thu, Thu nhập khác


thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng….
+ Chi phí
Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.
Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp, như : giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt
động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền…Những chi
phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu
hao máy móc, thiết bò.
Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như : chi
phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố đònh, các khoản tiền bò khách hàng phạt do
vi phạm hợp đồng….
1.4.2 Ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính phải ghi nhận các yếu tố về tình hình tài chính và tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp, trong các yếu tố đó phải được ghi nhận theo từng
khoản mục. Một khoản mục được ghi nhận trong báo cáo tài chính khi thoả mãn cả
hai tiêu chuẩn :

23
(a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế hoặc làm giảm lợi ích kinh tế
trong tương lai.
(b) Khoản mục đó có giá trò và xác đònh được giá trò một cách đáng tin
cậy.
Ghi nhận tài sản
Tài sản được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi doanh nghiệp có khả
năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và giá trò của tài sản đó được xác đònh
một cách đáng tin cậy.
Tài sản không được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi các chi phí bỏ

1.5

Báo cáo tài chính theo khuôn khổ y ban chuẩn mực kế toán quốc
tế ( IASC )
1.5.1 Mục tiêu cơ bản của báo cáo tài chính theo khuôn khổ IASC.
Trong khuôn khổ mang tính lý luận kế toán của IASC, các báo cáo tài chính
là nhằm mục đích cung cấp cho một bộ phận lớn những người sử dụng thông tin
tiềm năng các thông tin hữu dụng cho việc đưa ra những quyết đònh kinh tế như các
thông tin về tình trạng tài chính, kết qủa hoạt động kinh doanh và những biến động
của tình trạng tài chính công ty. Những người sử dụng thông tin ở đây là một bộ
phận lớn những nhà đầu tư, cán bộ công nhân viên công ty, các nhà đầu tư tài
chính, các nhà đầu cơ, các nhà giao dòch, khách hàng, Chính phủ, các cơ quan quản

25
lý Nhà nước, công chúng. Các nhà đầu tư là những người cung cấp vốn rủi ro cho
doanh nghiệp nên có thể nói rằng các báo cáo tài chính đáp ứng được yêu cầu của
các nhà đầu tư thì cũng có thể làm thoả mãn được hầu hết yêu cầu của những người
sử dụng thông tin khác.
Vậy, để quyết đònh những vấn đề kinh tế những người sử dụng thông tin do
các báo cáo tài chính của công ty cung cấp ( mà chủ yếu là các nhà đầu tư ) sẽ yêu
cầu việc đánh giá khả năng, thời gian và tính xác thực của việc tạo ra các khoản lãi
bằng tiền cũng như các vật có giá trò như tiền của công ty. Những người sử dụng
thông tin này, trong trường hợp được cung cấp những thông tin xung quanh tình
trạng tài chính của công ty sẽ có thể đánh giá được khả năng sinh lời của công ty
đó.
Để tăng khả năng sinh lời, các công ty phải đầu tư tiền tệ vào những tài sản
phi tiền tệ. Việc đánh giá khả năng thành bại đối với những hoạt động của công ty
được căn cứ vào những khoản thu được từ những khoản chi phí ( hoặc đầu tư ) trong
một thời gian dài. Do đó, những người sử dụng thông tin luôn quan tâm đến những
thông tin về khả năng sinh lời của doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status