DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ DÙNG TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 01: Sơ đồ các phòng ban Tổng công ty Sông Đà
MỤC LỤC
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ
Tóm tắt luận văn
Lời mở đầu
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về báo cáo tài chính với việc
phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1. Bản chất và vai trò của hệ thống báo cáo tài chính
1.1. Bản chất của hệ thống báo cáo tài chính
1.2. Vai trò của hệ thống báo cáo tài chính
1.3. Mục đích của hệ thống báo cáo tài chính
2. Hệ thống báo cáo tài chính ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.1. Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam trước năm
1995
1.2.2. Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam từ năm 1995
đến nay.
1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu của báo cáo tài chính được sử dụng để phân
tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3. Nội dung chuẩn mực kế toán và kinh nghiệm một số nước trong
việc lập báo cáo tài chính
1.3.1. Chuẩn mực kế toán quốc tế
1.3.2. Kinh nghiệm của một số nước trong việc lập báo cáo tài chính
1.3.3. Sự khác biệt giữa hệ thống báo cáo tài chính của Việt Nam so với
chuẩn mực kế toán quốc tế và một số nước
1.4. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua hệ thống
báo cáo tài chính
1.4.1. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang
1
2.3.2. Phân tích tình hình đầu tư và cơ cấu kinh doanh
2.3.3. Phân tích hiệu quả sinh lời hoạt động kinh doanh
2.4. Đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo tài chính với việc phân tích
tình hình tài chính tại Tổng công ty Sông Đà
2.4.1. Ưu điểm
2.4.2. Tồn tại và nguyên nhân chủ yếu
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo
tài chính với việc phân tích tình hình tài chính tại Tổng công ty Sông
Đà
33
34
49
49
49
51
52
53
54
55
58
60
62
63
63
64
65
65
67
71
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính với việc
Sơ đồ 02: Quá trình lập bảng cân đối kế toán của Văn phòng Tổng công ty và
các đơn vị phụ thuộc
Sơ đồ 03: Quy trình lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Văn phòng
Tổng công ty và các đơn vị phụ thuộc
Sơ đồ 04: Quy trình lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Văn phòng Tổng công
ty và các đơn vị phụ thuộc
Sơ đồ 05: Quy trình lập báo cáo tài chính hợp nhất tại Tổng công ty
Bảng 01: Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động của Tổng Công Ty Sông Đà
Bảng 02: Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn
Bảng 03: Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
Bảng 04: Hệ số vòng quay tài sản và hệ số quay vòng các khoản phải thu
Bảng 05: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản
Phụ lục số 01: Hệ thống báo cáo tài chính hiện hành ở Việt Nam
Phụ lục số 02: Hệ thống Báo cáo tài chính của Tổng công ty Sông Đà
Phụ lục số 03: Hệ thống Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Sông Đà 2
Phụ lục số 04: Hệ thống Báo cáo tài chính của Tổng công ty Sông Đà (Hoàn thiện)
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với tiến trình phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam, hệ thống báo
cáo tài chính cũng không ngừng được đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với các
chuẩn mực chung của kế toán quốc tế thu hẹp sự khác nhau giữa kế toán Việt Nam
với các chuẩn mực chung vủa kế toán quốc tế.Tuy nhiên, do môi trường kinh tế xã
hội luôn biến động, nhu cầu về thông tin của nhà quản lý và các đối tác kinh doanh
luôn biến động nên hệ thống báo cáo tài chính cần thiết phải không ngừng được
đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế đáp ứng nhu
cầu thông tin của người sử dụng đặc biệt là Việt Nam chúng ta giờ đây đã là thành
viên của WTO thì việc công khai các thông tin tài chính giúp cho các nhà đầu tư
nước ngoài ra các quyết định đầu tư lại càng quan trọng và cần thiết.
Thời gian sắp tới Tổng công ty Sông Đà sẽ trở thành Tâp đoàn kinh tế đầu
tiên tại Việt Nam với những đóng góp vô cùng to lớn của Tổng công ty đối với đất
tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng hệ thống báo cáo tài chính với việc phân tích tình
hình tài chính tại Tổng công ty Sông Đà
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo tài
chính với việc phân tích tình hình tài chính tại Tổng công ty Sông Đà.
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI
VIỆC PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1. Bản chất và vai trò của hệ thống báo cáo tài chính
1.1.1. Bản chất của hệ thống báo cáo tài chính
Trong lý thuyết hạch toán kế toán đã nêu rõ phương pháp tổng hợp, cân đối
kế toán là phương pháp khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh
và các mối quan hệ kinh tế khác thuộc đối tượng hạch toán. Một trong những hình
thức biểu hiện cụ thể của phương pháp tổng hợp, cân đối kế toán là hệ thống các
bảng tổng hợp cân đối thường gọi là các báo cáo tài chính. Như vậy, báo cáo tài
chính là những báo cáo tổng hợp nhất là về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng
như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Để hiểu
thêm về bản chất của báo cáo tài chính có thể xem xét thêm một số quan điểm của
nước ngoài khi xác định bản chất của báo cáo tài chính.
Bản chất của báo cáo tài chính được Viện kiểm toán viên công chứng Hoa
Kỳ nêu lên như sau: Hệ thống báo cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ
cho việc xem xét, đánh giá định kỳ báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý,
về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được trong kỳ. Hệ thống
báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp những sự kiện kinh tế phát sinh được ghi nhận
trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, những công bố và ghi chú
trên thuyết minh báo cáo tài chính trên cơ sở những nguyên tắc kế toán và những
đánh giá, phán xét mang tính chất cá nhân, mà trong đó những phán xét và các
nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận, phân
loại và trình bày các sự kiện kinh tế phát sinh đó. Những đánh giá, phán xét đúng
đắn tùy thuộc vào khả năng xét đoán trung thực, liêm khiết của người lập báo cáo
và kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình và kết quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính chủ yếu của
doanh nghiệp.
- Cung cấp số liệu, tài liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích
hoạt động kinh tế, tài chính, để nhận biết tình hình và kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính,
tình hình về nhu cầu và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Dựa vào báo cáo tài chính để phân tích, phát hiện khả năng tiềm tàng về
kinh tế, tài chính, dự đoán tình hình và xu hướng hoạt động của doanh nghiệp để từ
đó đề ra các quyết định đúng đắn và có hiệu quả.
- Cung cấp tài liệu, số liệu để tham khảo phục vụ cho việc lập kế hoạch sản
xuất, kinh doanh, kế hoạch đầu tư, các dự án sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.
Đối với từng đối tượng sử dụng thông tin của báo cáo tài chính có ý nghĩa
và tác dụng cụ thể như sau:
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, Hội đồng quản
trị, Ban giám đốc: báo cáo tài chính cung cấp thông tin để doanh nghiệp phân tích,
đánh giá tổng hợp về thực trạng và tiềm năng tài chính, khả năng thanh toán, tình
hình và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình và thực trạng quản lý kinh tế tài
chính, để từ đó hoạch định các chính sách quản lý và sử dụng tài sản, chính sách
huy động và sử dụng vốn, chính sách quản lý doanh thu, chi phí và sử dụng các
luồng tiền của doanh nghiệp.
- Đối với những đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu
tư, các chủ nợ, ngân hàng: thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp họ đánh giá
tiềm năng và thực trạng tài chính, thực trạng hoạt động kinh doanh và khả năng
sinh lời, khả năng thanh táon và những rủi ro, để có những quyết định hợp lý đối
với việc đầu tư, mức độ và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay; đối với các nhà cung
cấp và khách hàng thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp họ có những đánh
giá về triển vọng kinh doanh và khả năng cung cấp nguồn hàng, khả năng thanh
toán ngắn hạn, để có những quyết định đúng đắn về các quan hệ kinh doanh, bạn
Quá trình phát triển hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam cho đến trước năm
1995 có thể được khái quát qua 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Giai đoạn quản lý nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp – trước năm 1986
Ở đoạn này, kế toán được sử dụng chủ yếu để quản lý việc thu, chi ngân
sách, phục vụ cho yêu cầu quản lý, kiểm soát việc chấp hành kế hoạch bảo vệ tài
sản xã hội chủ nghĩa. Hệ thống báo cáo kế toán được ban hành lần đầu theo Quyết
định 122/CP ngày 01/12/1970 của Hội đồng Chính Phủ bao gồm 13 biểu báo cáo:
Bảng tổng kết tài sản; Tăng giảm tài sản và quỹ khấu hao; Vốn cơ bản; Chi phí
phục vụ, quản lý sản xuất; chi phí sản xuất theo yếu tố; Giá thành sản phẩm so
sánh được và toàn bộ sản phẩm theo khoản mục; Giá thành đơn vị các sản phẩm
chủ yếu; Những nhân tố làm tăng giảm giá thành; Tiêu thụ; Lãi lỗ và các khoản
thanh toán với Ngân sách.
Mục tiêu của hệ thống báo cáo này là nhằm hệ thống các số liệu và những
thuyết minh cần thiết nhằm thể hiện tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh và sử dụng vốn của đơn vị kế toán trong một thời kỳ nhất định bằng những
chỉ tiêu tài chính đã quy định. Số liệu này được các cơ quan quản lý chức năng của
nhà nước sử dụng để nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, kiểm soát
việc tuân thủ các quy định và điều hành các tài nguyên giữa các xí nghiệp trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Hệ thống báo cáo tài chính trong giai đoạn này đã cung cấp thông tin toàn
diện về hoạt động của doanh nghiệp phục vụ cho yêu cầu quản lý tập trung có tác
dụng tích cực cho việc kiểm soát và chỉ đạo của cơ quan chủ quản cũng như của
các cơ quan chức năng của Nhà nước để thực hiện yêu cầu kế hoạch hóa tập trung,
phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế còn rất nhiều manh mún
và kém phát triển. Tuy nhiên hệ thống báo cáo tài chính này bộc lộ những nhược
điểm:
- Cấu trúc của hệ thống báo cáo quá cồng kềnh ( 13 báo cáo) với quy định và
việc tính toán các chỉ tiêu phức tạp, đòi hỏi người lập và người đọc báo cáo
phải có một hiểu biết tương xứng về kế toán.
xác định các nội dung thông tin được cung cấp vừa thiếu sót vừa chưa đảm bảo
tính khoa học, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Những hạn chế này làm ảnh
hưởng đến tính hữu ích của thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng và do
vậy phần nào đã làm mờ nhạt vai trò của kế toán trong công tác quản lý.
Tóm lại, hệ thống báo cáo thời kỳ trước 1995 qua 3 giai đoạn có chiều
hướng giảm về số lượng báo cáo, các chỉ tiêu trình bày tăng tính tổng hợp, nội
dung các chỉ tiêu ngày càng phong phú, phản ánh đầy đủ hơn các nghiệp vụ kinh tế
mới của nền kinh tế thị trường về hình thức trình bày thông tin trên báo cáo ngày
càng thể hiện tính khoa học thông qua việc phân loại, sắp xếp các chỉ tiêu. Hơn
nữa, hệ thống báo cáo tài chính đã có sự chuyển hướng về xác định đối tượng phục
vụ, từ đối tượng là phục vụ cho quản lý và kiểm soát của nhà nước thì cuối giai
đoạn này đã chuyển dần sang phục vụ thông tin cho nhiều đối tượng khác hướng
tới hội nhập với quốc tế về kế toán, làm tiền đề cho việc hội nhập kinh tế.
1.2.2. Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam từ năm 1995 đến nay.
Giai đoạn này là giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế đất
nước, là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Trước yêu cầu đổi mới của
nền kinh tế cũng như sự hội nhập kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đòi hỏi phảI
được đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ và triệt để cả nội dung lẫn hình thức
nhằm đáp ứng yêu cầu và nội dung của cơ chế quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị
trường và từng bước hòa nhập với các nguyên tắc, chuẩn mực, thông lệ chung về
kế toán phổ biến của các nước trên thế giới và trong khu vực. Do đó, hệ thống báo
cáo tài chính ở giai đoạn sau 1995 luôn không ngừng được hoàn thiện dần cho phù
hợp với các chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được ban hành.
Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao
gồm 4 biểu mẫu báo cáo:Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế, yêu cầu chỉ đạo điều hành các
ngành, các Tổng công ty… có thể quy định thêm các báo cáo tài chính chi tiết
khác.
trong quá trình hoạt động kinh doanh đã phù hợp hơn với thông lệ chung của kế
toán trên thế giới và tạo được sự tin cậy cho các đối tượng bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp. Tuy nhiên vẫn có một số hạn chế nhất định về nội dung và phương
pháp lập. Vì thế, ngày 09/10/2002 Bộ tài chính đã ban hành thông tư số
89/2002/TT – BTC.
* Hệ thống báo cáo tài chính điều chỉnh theo thông tư số 89/2002/TT-
BTC ngày 09/10/2002 của Bộ tài chính:
Ngày 31/12/2001, Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành Quyết định số
149/2001/QĐ-BTC về việc ban hành và công bố 4 chuẩn mực kế toán đợt 1:
Chuẩn mực số 02: Hàng tồn kho
Chuẩn mực số 03: Tài sản cố định hữu hình
Chuẩn mực số 04: Tài sản cố định vô hình
Chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác
Và ban hành thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán
thực hiện 4 chuẩn mực kế toán đợt 1, theo đó hệ thống báo cáo tài chính với 4 mẫu
biểu có những thay đổi ở Biểu 01-DN – Bảng cân đối kế toán và Biểu 02 – DN –
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
* Hệ thống báo cáo tài chính điều chỉnh theo thông tư số 105/2003/TT-
BTC ngày 04/11/2003:
Đến ngày 31/12/2006 06 chuẩn mực kế toán đợt 2 được ban hành theo quyết định
số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 gồm:
Chuẩn mực số 01: Chuẩn mực chung
Chuẩn mực số 06: Thuê tài sản
Chuẩn mực số 10: ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
Chuẩn mực số 15: Hợp đồng xây dựng
Chuẩn mực số 16: Chi phí đI vay
Chuẩn mực số 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Tiếp theo đó, ngày 30/12/2003, Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành quyết định số
234/2003/QĐ-BTC công bố 06 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 3 gồm:
Chuẩn mực số 05: Bất động sản đầu tư
BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, hệ thống báo cáo
tài chính hiện hành ở Việt Nam bao gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài
chính giữa niên độ. (Phụ lục số 01)
- Báo cáo tài chính năm gồm:
+ Bảng cân đối kế toán Mẫu số B 01 – DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B 02 – DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03 – DN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B 09 – DN
- Báo cáo tài chính giữa niên độ: báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo cáo
tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm
lược.
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
+ Bảng cân đối kế toán giữa niên độ ( dạng đầy đủ) Mẫu số B 01a – DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
(dạng đầy đủ)
Mẫu số B 02a – DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (dạng đầy đủ) Mẫu số B 03a – DN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính(dạng đầy đủ) Mẫu số B 09a – DN
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:
+ Bảng cân đối kế toán giữa niên độ ( dạng tóm lược) Mẫu số B 01b – DN
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
( dạng tóm lược)
Mẫu số B 02b – DN
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( dạng tóm lược) Mẫu số B 03b – DN
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính ( dạng tóm lược) Mẫu số B 09b – DN
1.2.2.1. Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 01- DN
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn
diện tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm
lập báo cáo tài chính.
Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về tổng giá trị tài sản hiện có của
Trước khi lập bảng cân đối kế toán cần phải thực hiện một số việc: tiến hành
kết chuyển các khoản có liên quan giữa các tài khoản phù hợp với quy định; kiểm
kê tài sản và tiến hành điều chỉnh số liệu trong sổ kế toán theo số kiểm kê, đối
chiếu số liệu giữa các sổ kế toán liên quan; khóa sổ các tài khoản tổng hợp, chi tiết
để xác định số dư cuối kỳ.
Theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “ Trình bày báo cáo tài chính”
từ đoạn 15 đến đoạn 32, khi lập và trình bày Bảng cân đối kế toán phải tuân thủ các
nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính.
Nhằm đảm bảo tính chính xác của bảng cân đối kế toán, khi tính toán ghi
chép các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán phải tuân theo những nguyên tắc cơ
bản sau:
- Trước khi lập bảng cân đối kế toán, cần phải kiểm tra việc ghi chép trên sổ
kế toán xem đã đầy đủ, trung thực và chính xác chưa, bằng cách đối chiếu,
kiểm tra giữa sổ sách kế toán liên quan với nhau, giữa sổ kế toán với thực tế.
- Cột số đầu năm lấy số liệu ở cột cuối kỳ của bảng cân đối kế toán cuối niên
độ trước chuyển sang. Số đầu năm không thay đổi trong suốt niên độ báo
cáo.
- Cột số cuối kỳ: theo nguyên tắc lấy số dư cuối kỳ trên các sổ kế toán tổng
hợp hoặc chi tiết tương ứng với chỉ tiêu đó để lập.
- Những chỉ tiêu phản ánh tài sản thì căn cứ vào số dư cuối kỳ bên nợ của
các tài khoản phản ánh tài sản ( các tài khoản loại 1 và loại 2) để lập ở phần
tài sản của Bảng.
- Những chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn thì căn cứ vào số cuối kỳ bên có của các
tài khoản phản ánh nguồn vốn tương ứng ( các tài khoản loại 3 và loại 4) để
lập phần nguồn vốn.
- Những chỉ tiêu có tính chất điều chỉnh giảm cho các khoản vốn ( các khoản
dự phòng, hao mòn tài sản cố định…) được lập sau chỉ tiêu mà nó điều
chỉnh ( cùng tài sản) bằng cách lấy số dư bên có của các tài khoản tương ứng
để ghi số đỏ ( số âm). Tương tự những tài khoản thuộc loại 4 mà có số dư
bên nợ cũng được ghi vào các chỉ tiêu bên nguồn vốn, nhưng ghi số đỏ vì
cáo còn cho biết được các yếu tố liên quan đến việc tính toán xác định kết quả kinh
doanh của từng loại hoạt động ( sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính và hoạt dộng
khác).
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp cho người sử dụng những
thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận (hoặc lỗ) phát sinh từ hoạt động kinh
doanh thông thường; về thu nhập, chi phí và lợi nhuận khác phát sinh từ những
hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp trong một
kỳ kinh doanh. Đồng thời báo cáo kết quả kinh doanh còn phản ánh chi phí thuế
thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận thuần của doanh nghiệp trong kỳ đó. Chi phí
thuế thu nhập gồm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phảI nộp trong kỳ và chi phí
thuế thu nhập hoãn lại.
Thông tin cung cấp trên Báo cáo kết quả kinh doanh cùng với thông tin trên
BCTC khác giúp cho người sử dụng có những nhận xét, đánh giá về năng lực kinh
doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong kỳ, những nhân tố, ảnh hưởng
đến kết quả kinh doanh và triển vọng hoạt động trong thời gian tới.
Phương pháp lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
- Việc lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ những nguyên
tắc kế toán cơ bản quy định trong Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực
chung”, tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày BCTC quy định
tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày BCTC” và các quy định hiện hành
về BCTC.
- Các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải được phản ánh
trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xác định giá trị, ghi nhận và trình bày có
liên quan được quy định ở các Chuẩn mực kế toán cụ thể.
- Trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các loại chi phí được trình bày
theo chức năng của chi phí ( theo khoản mục chi phí). Nhưng trong bản
thuyết minh BCTC doanh nghiệp phải cung cấp những thông tin bổ sung về
tính chất của các khoản chi phí ( thông tin về chi phí theo yếu tố).
- Trường hợp do tính chất ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp không thể
trình bày các yếu tố thông tin trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
thu tiền mặt như bán tài sản, bán chứng khoán đầu tư, thu nợ các Công ty khác, thu
lại về phần đầu tư. Các khoản chi tiền mặt như mua tài sản, mua chứng khoán đầu
tư của doanh nghiệp khác…