o0o – HỌC VIỆN NGÂN HÀNG – o0o Tiền tệ - Ngân hàng
BÀI THẢO LUẬN:
So sánh cấu trúc hệ thống
trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay
với Mĩ, Pháp, Anh
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
DANH SÁCH NHÓM:
1. Phạm Trung Hiếu - NT - 01649.727.456
2. Phạm Trí Trung
3. Nguyễn Văn Hải
4. Phạm Bùi Việt Phương
5. Nguyễn Tiến Lâm
6. Nguyễn Hoàng Long
7. Lê Đức Hoàng
8. Lê Phương Toan
9. Hồ mậu Lượng
2
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
NỘI DUNG:
I. TỔNG QUAN VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH................................................................................4
1. Khái niệm...............................................................................................................................................4
2.Chức năng của trung gian tài chính....................................................................................................4
3. Phân loại trung gian tài chính.............................................................................................................4
II. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT NAM.....................................5
1. Các ngân hàng trung gian....................................................................................................................5
2. Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.................................................................................................10
III. SO SÁNH CẤU TRÚC HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT NAM VỚI MĨ,
PHÁP, ANH.............................................................................................................................................14
4
Trung gian tài chính
trung gian nhận tiền
gửi
trung gian đầu tư Tổ chức tiết kiệm theo
hợp đồng
Ngân hàng thương mại
Các tổ chức tiết kiệm
Ngân hàng đầu tư
Công ty tài chính
Quỹ đầu tư tương hỗ
Công ty bảo hiểm
Quỹ hưu trí
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
Hiện nay, hệ thống trung gian tài chính Việt Nam đã phát triển đầy đủ 3 loại hình chủ yếu, bao gồm: các
trung gian nhận tiền gửi, trung gian đầu tư và các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng. Tuy nhiên, sự phát
triển các loại hình công ty, tổ chức trung gian tài chính trong mỗi loại là chưa thực sự đầy đủ, trong đó:
• Các ngân hàng trung gian (Các trung gian nhận tiền gửi) hệ thống ngân hàng
• Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng :Các trung gian đầu tư: công ty tài chính, công ty chứng
khoán, quỹ đầu tư; Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: công ty bảo hiểm
1. Các ngân hàng trung gian - trung gian nhận tiền gửi:
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tới tháng 11/2009 Việt nam hiện có 5 Ngân hàng thương mại lớn
(Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát
triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên
doanh; 36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính;
13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Dân số nước ta hiện nay ước khoảng 86 triệu người, GDP khoảng 65 tỷ USD, số lượng các ngân hàng
này hiện này được xem là đông đảo với một thị trường tài chính nhỏ như Việt Nam. Hệ thống ngân hàng
Việt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh trong những năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân
35%/năm.
Tuy nhiên xét về quy mô vốn ta thấy sự áp đảo của NHTMNN:
Bảng 1: Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%)
Loại hình TCTD 2006 2007 2008 2009 6t/2010
NHTM Nhà nước 62,3 53,3 51,48 49,4 48,2
NHTM cổ phần 22,8 31,5 32,45 33,2 34,7
Chi nhánh NHNN 9,8 9,6 10,26 11,43 11,89
NH liên doanh 1,1 1,25 1,25 1,36 1,38
Nguồn: Báo cáo số 49/BC-NHNN năm 2009 của NH Nhà nước về việc rà soát 10 năm thực hiện Luật các
TCTD và tính toán của tác giả.
1.1.2.Khái quát hiện trạng các NHTM VN:
Với tổng tài sản có tỷ trong 140% GDP hệ thông ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng
trong sự phát triển của kinh tế VN khi các doanh nghiệp VN có tích lũy vốn chưa cao vôn kinh doanh
chủ yếu dựa vào vốn vay từ ngân hàng.
Hiện nay số lượng NH quá nhiều, trong đó nhiều NH năng lực rất yếu. Tôi cho rằng cơ cấu lại hệ thống
NH thương mại trước hết cần giảm bớt số lượng NH thương mại nói riêng và các tổ chức tài chính nói
chung thông qua việc nâng chuẩn hoạt động. Khi đó những NH không đủ tiêu chuẩn để hoạt động toàn
quốc có thể phát triển theo kiểu NH khu vực, bị giới hạn trong một phạm vi hoạt động nhất định tùy
theo mức vốn cụ thể.
Về hoạt động:
- Năng lực cạnh tranh
Một hệ thống NH không thể phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh cao trong bối cảnh năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế thấp. Về các chỉ số phát triển tài chính, Báo cáo phát triển tài chính 2009 của Diễn
đàn kinh tế thế giới (WEF) xếp hạng VN đứng thứ 49 trên 52 nước được đánh giá. Hầu hết các chỉ số
6