BÀI THẢO LUẬN
HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT
NAM & ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT CÁC TỔ
CHỨC TÍN DỤNG 2010
NHÓM 8
H302, sáng thứ 6
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
2
Mục lục
I. TỔNG QUAN VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH 3
1. Sự ra đời hệ thống trung gian tài chính 3
2. Đặc trưng trung gian tài chính 5
3. Vai trò và chức năng trung gian tài chính 6
II. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
VIỆT NAM 10
1. Trung gian nhận tiền gửi – hệ thống ngân hàng Việt Nam 10
2. Trung gian đầu tư 17
3. Tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng – công ty bảo hiểm 19
III. ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2010 25
rút ra bất cứ lúc nào nhưng với loại hình bảo hiểm, quỹ hưu trí, khoản tiền đóng để mua
bảo hiểm không được phép rút ra mà chỉ được chi trả theo những điều khoản trong hợp
đồng.
Thứ hai, với tư cách là một tổ chức huy động và cung ứng nguồn vốn trong
nền kinh tế, có thể hiểu như TGTC là chiếc cầu nối giữa hai chủ thể, giữa những người
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
4
có vốn nhàn rỗi với những người dư thừa về vốn. Tuy nhiên nhiệm vụ trung gian của
trung gian tài chính không chỉ dừng lại ở đó mà nó còn đóng vai trò trung gian trong
nhiều hoạt động khác như là phương tiền để nhà nước điều hành chính sách tiền tệ khi
cân thiết.
Trong bài thảo luận này chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu Trung gian tài chính
với tư cách là cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn.
b. Các tổ chức trung gian tài chính chủ yếu
- Trung gian tài chính nhận tiền gửi
Các tổ chức nhận tiền gửi là các trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông
qua các dịch vụ nhận tiền gửi để cung cấp cho những chủ thể cần vốn dưới hình thức
các khoản vay trực tiếp. Các tổ chức này bao gồm các ngân hàng thương mại và các tổ
chức tiết kiệm…
- Các trung gian đầu tư
Các trung gian đầu tư bao gồm ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính, quỹ đầu tư
tương hỗ và các công ty đầu tư mạo hiểm
- Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là các trung gian tài chính có nguồn vốn hoạt
động được hình thành từ các hợp đồng, theo đó các tổ chức này nhận các khoản đóng
góp theo định kỳ và thực hiện chi trả các trường hợp sự kiện xảy ra trong hợp đồng.
Loại hình tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng có các công ty bào hiểm và các quỹ trợ cấp
hưu trí…
c. Tổ chức tín dụng:
giữa người có vốn và người cần vốn bao gồm: gồm trung gian tài chính nhận tiền gửi,
trung gian đầu tư và tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng. Còn tổ chức tín dụng là doanh
nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi, cấp tín
dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy ta có thể thấy các tổ chức
tín dụng đều là các trung gian tài chính, chỉ khác nhau về hoạt động theo từng loại hình.
Tuy nhiên ngược lại không phải tất cả các trung gian tài chính đều là tổ chức tín
dụng. Đó là một số trung gian tài chính hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán ví dụ:
ngân hàng đầu tư, công ty môi giới chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán.
Từ đây chúng ta có thể kết luận khái niệm trung gian tài chính rộng
hơn, nó bao trùm khái niệm tổ chức tín dụng.
2. Đặc trưng của hệ thống trung gian tài chính
a. Tạo ra tài sản tài chính và nguồn vốn
Để hiêu thêm đặc trưng này, chúng ta có thể lấy một ví dụ minh họa:
Một người có 100 đồng cho vay, khi cho vay trực tiếp thì người cho vay có tài sản
là 100 đồng, người đi vay có nguồn vốn là 100 đồng, tài sản = nguồn vốn. Trong trường
hợp cho vay qua trung gian tài chính, cụ thể là ngân hàng, người cho vay cũng có 100
đồng tài sản , người đi vay có 100 đồng nguồn vốn nhưng trong trường hợp này ta thấy
bản thân trung gian tài chính đã tạo ra tài sản và nguồn vốn, cụ thể là ngân hàng có tài
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
6
sản là 100 đồng khi nhận tiền gửi và tạo ra nguồn vốn 100 đồng khi cho vay đông thời
tự tạo ra tài sản qua khoản lãi kiếm được khi cho vay. Lúc này tổng tài sản và tổng
nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ là 200 đồng
b. Kết nối giữa người có vốn tạm thời nhàn rỗi với người có nhu cầu về vốn
Nếu không có trung gian tài chính, người có vốn và người thiếu vốn phải gặp gỡ
trực tiếp, họ phải tự tìm kiếm thông tin về nhau cùng tình trạng thông tin bất cân xứng
đã dẫn đến chi phí giao dịch cao cùng với đó là rủi ro lớn. Với sự xuất hiện của trung
gian tài chính, người có vốn và người cần vốn không nhất thiết phải gặp trực tiếp, với sự
chuyên nghiệp của mình các trung gian tài chính sẽ làm giảm chi phí giao dịch và quản
gây ảnh hưởng đến tính hiệu quả trong luân chuyển vốn trên thị trường tài chính
Các trung gian tài chính là tổ chức chuyên nghiệp hoạt dộng trong lĩnh vực tài
chính nên họ có nhiều kinh nghiệm và kiến thức hơn so với những người cho vay đơn
lẻ, do đó họ sẽ thu thập, xử lý thông tin hiệu quả hơn, nhờ đó đánh giá mức độ rủi ro
chính xác hơn. Đồng thời, họ có khả năng kiểm soát quá trình sử dụng vốn của người đi
vay, có thể giảm bớt những thiệt hại do rủi ro đạo đức gây ra.
• Vai trò giảm thiểu rủi ro
Trong hoạt động đầu tư gặp rất nhiều rủi ro như rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro
thanh khoản, rủi ro đạo đức. Với quy mô vốn lớn, tính chuyên nghiệp, các trung gian tài
chính có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tư cùng với các nghiệp vụ giám sát quá
trình sử dụng vốn của các chủ thể đi vay đã góp phần giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư
và chính bản thân các trung gian tài chính. Các nhà đầu tư nhỏ lẻ khi đầu tư qua trung
gian tài chính sẽ đảm bảo được an toàn hơn so với việc đầu tư trên thị trường tài chính
trực tiếp do họ có thể đầu tư phải những nơi không ổn định, rủi ro cao dẫn đến mất vốn.
• Vai trò là kênh gián tiếp giúp nhà nước can thiệp vào nền kinh tế
Trung gian tài chính còn đóng vai trò là phương tiện để nhà nước thực hiện chính
sách tiền tệ thích hợp để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn.Ví dụ
khi kinh tế phát triển chậm, suy thoái trì trệ, nhà nước có thể áp dụng chính sách tiền tệ
nới lỏng, qua việc mua chứng khoán của các ngân hàng thương mại, khi đó một lương
cung tiền sẽ được bơm vào nền kinh tế, tạo ra áp lực giảm lãi suất, chi phí vay vốn
giảm, kích thích kinh tế phát triển. Trong trường hợp ngược lại, khi tăng trưởng quá
nóng, lạm phát tăng cao, nhà nước sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt qua việc bán
trái phiếu trên thị trường mở, làm giảm cung tiền, tăng lãi suất, nền kinh tế qua đó tăng
trưởng chậm lại, giảm lạm phát. Ngoài ra, với tín dụng thông qua dịch vụ thanh toán
không dùng tiền mặt đã giúp lưu thông an toàn hơn.
Các trung gian tài chính có nhiều loại hình, mỗi loại hình có mục tiêu khác nhau tùy
theo mục đích hoạt động của mình, với ngân hàng thương mại đó là mục tiêu lợi nhuận,
NHTW có thể qua NHTM để can thiệp như trên. Ngoài ra một số trung gian tài chính
khác như ngân hàng chính sách đẫ đóng vai trò là kênh gián tiếp giúp nhà nước điều
chỉnh những ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện thời hạn vay đối với các đối tượng chính
NGƯỜI CẦN
VỐN
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
9
trung gian tài chính. Hai kênh dẫn vốn này bổ sung cho nhau làm cho luôn vốn luân
chuyển được dễ dàng và hiệu quả.
• Chức năng kiểm soát
Các trung gian tài chính thực hiện chức năng kiểm tra giám sát của mình để giảm
thiểu những nguy cơ lựa chọn đối nghịch và những rủi ro về đạo đức khi cho vay.
Để thực hiện tốt chức năng này, các trung gian tài chính phải kiểm tra kĩ, thu thập
xử lý thông tin chính xác trước khi cho vay, định kì kiểm soát trong quá trình cho vay
và sau khi cho vay đối với các doanh nghiệp nói riêng – bộ phận đi vay lớn nhất – và
toàn bộ những đối tượng đi vay.
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
10
II. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Hiện nay, hệ thống trung gian tài chính Việt Nam đã phát triển đầy đủ 3 loại hình chủ
yếu, bao gồm: các trung gian nhận tiền gửi, trung gian đầu tư và các tổ chức tiết kiệm theo
hợp đồng. Tuy nhiên, sự phát triển các loại hình công ty, tổ chức trung gian tài chính trong
mỗi loại là chưa thực sự đầy đủ, trong đó:
• Các trung gian nhận tiền gửi: hệ thống ngân hàng
• Các trung gian đầu tư: công ty tài chính, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư
• Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: công ty bảo hiểm
1. TRUNG GIAN NHẬN TIỀN GỬI - HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tới tháng 11/2009 Việt nam hiện có 5 Ngân
• Nhận tiền gửi. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết
kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng
trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng
mức lãi suất tương đối cao.
• Bảo quản vật có giá trị. Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực
hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo
quản. Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho
khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành
như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp
vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của
ngân hàng thực hiện.
• Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những
năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với khối
lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu –
Mỹ. Thông thường, ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là
họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền
gửi mà ngân hàng huy động được.
• Cung cấp các tài khoản giao dịch. Tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit)
– một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc
mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được
xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng
bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao
dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
• Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp
thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy
mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust
service). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông
thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
b. Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
• Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài
trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ
cao. Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng thường
được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân
hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu
ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro.
• Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín
dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách
hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế.
-- Thảo Luận Tiền Tệ Ngân Hàng--
13
• Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong
việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao
động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế.
Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS và
Keogle) cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế
hoạch này cần đến.
• Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Các ngân hàng bắt đầu bán
các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ
phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh
doanh chứng khoán.
• Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản
tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc
sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài
khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển
vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản
tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương
lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương
trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu,
lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng phong phú, phục vụ mọi thành phần kinh tế.
• Hai Luật ngân hàng có hiệu lực từ cuối năm 1998 là bước tiến mới về củng cố,
hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Cơ chế chính sách về hoạt
động ngân hàng đã ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế; Khuôn
khổ thể chế ngày một thông thoáng và minh bạch hơn. Những phân biệt đối xử
giữa loại hình tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức tín dụng
nước ngoài đã từng bước được loại bỏ; Chức năng cho vay tín dụng chính sách
và cho vay tín dụng thương mại đã được tách bạch; Các NHTM, các tổ chức tín
dụng đã được tự chủ và tự chịu trách nhiệm khá đầy đủ. Tính cạnh tranh của các
tổ chức tín dụng được nâng cao; Thị trường dịch vụ ngân hàng được phát triển an
toàn và hiệu quả.
• Hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho nền
kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốn đầu tư
toàn xã hội. Tăng trưởng tín dụng liên tục tăng trong các năm 2005 và năm 2006
ước tăng khoảng 24%, cao hơn mức 19% năm 2005. Tổng phương tiện thanh
toán so với GDP tăng từ 26,5% năm 1991 lên 75,2% năm 2004; tỉ lệ thanh toán
bằng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán giảm từ 31,6% năm 1991
xuống 20,6% năm 2004 và khoảng 18% năm 2005, ..v.v; Hệ thống ngân hàng
cũng có nhiều đóng góp cho tăng trưởng, phát triển và ổn định nền kinh tế trong
những năm qua.
• Chính sách tiền tệ (CSTT) được đổi mới và điều hành theo nguyên tắc thị trường
và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các công cụ gián tiếp điều hành CSTT đã được
hình thành và phát triển. Chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái đã được áp dụng
linh hoạt theo cơ chế thị trường. Chính sách tín dụng được mở rộng và đổi mới
theo hướng tạo sự công bằng, bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế, doanh
nghiệp và mọi đối tượng dân cư.
• Hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại tài chính, tăng vốn điều lệ cho các
NHTMNN, xử lý nợ xấu (hiện tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ đã giảm từ gần 20%
trong những năm 90 xuống còn khoảng 3,1%), đào tạo cán bộ và nâng cấp hệ
thống trên cơ sở công nghệ hiện đại, nối mạng và thanh toán điện tử…
nghiệp hóa của đất nước. Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn huy động
ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn
huy động ngắn hạn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với các nước đang phát
triển, kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định, độ tin cậy của đồng tiền còn thấp, huy
động vốn dài hạn khó khăn… Chính phủ đều có chính sách cho phép sử dụng
một phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, đồng thời áp dụng
một số chính sách hỗ trợ để đảm bảo khả năng thanh toán của các ngân hàng.
Tuy nhiên, tỷ lệ trên phải có một giới hạn nhất định. Việc sử dụng vốn ngắn hạn
cho vay trung và dài hạn ở nước ta hiện nay tới 50% là quá cao, nếu duy trì quá
lâu sẽ là yếu tố gây rủi ro lớn và có nguy cơ gây ra thiếu an toàn cho toàn bộ hệ
thống.