PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG Ở VIỆT NAM - Pdf 12

ÂẢI HC HÚ
KHOA LÛT

NIÊN LUẬN

PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CƠNG VÀ
GIẢI QUYẾT ĐÌNH CƠNG Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên
thực hiện:
ThS. Đào Mộng Điệp
Tạ Thò Hà
Lớp: Luật KT-K35A

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình làm niên luận với vốn kiến thức đã được Thầy
– Cô truyền đạt và trang bị vững vàng trong những năm học tại KHOA
LUẬT – ĐẠI HỌC HUẾ. Cùng với sự chỉ dẫn nhiệt tình, cung cấp những
thông tin quý báu đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề niên luận một cách
hoàn thiện nhất. Trước hết xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Khoa
Luật – Đại học Huế, quý thầy cô giáo trong khoa đã cung cấp kiến thức và
kỹ năng cho tôi trong suốt thời gian vừa qua. Đặc biệt tôi xin cảm ơn cô
Đào Mộng Điệp người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện và trình
bày đề tài một cách chính xác và đầy đủ.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

2
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ Bộ luật lao động
TTLĐTT Tranh chấp lao động tập thể
TCCĐ Tổ chức công đoàn
3

lượng cuộc đình công. Đặc biệt là xảy ra tại các doanh nghiệp hoạt động
theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn nước ngoài gây chú ý lớn với
dư luận xã hội, tạo ra bức xúc lớn với nền kinh tế. Vấn đề này đang là sự
quan tâm của Chính phủ Việt Nam, các nhà làm luật Việt Nam, người sử
dụng lao động, người lao động và của cả nền kinh tế Việt Nam.
Do vậy nghiên cứu về vấn đề đình công cả về trên bình diện lý luận và
thực tiễn là rất cần thiết và mang tính thời sự sâu sắc. Với nhận thức của
mình và kiến thức có được khi học tại Khoa Luật – Đại học Huế, tôi chọn
đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về đình công và giải quyết đình công
theo pháp luật Việt Nam”cho đề tài niên luận của mình với mong muốn
nghiên cứu sâu hơn về một phần kiến thức đã học và có thể góp một số ý
kiến nhỏ về một vấn đề đang được xã hội rất quan tâm là “Đình công”.
1.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận về tranh chấp lao động tập thể và đình công.
Nghiên cứu thực tiễn về vấn đề đình công hiện nay ở Việt Nam để đưa
ra những cách thức giải quyết.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
“Một số vấn đề pháp lý về đình công và giải quyết đình công theo
pháp luật Việt Nam”.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
6
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt quá trình hoàn thành đề tài niên
luận là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin.
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, đánh giá và tổng hợp các thông
tin, tư liệu làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. Phương pháp thống
kê: thống kê các vụ đình công đã xảy ra ở Việt Nam và diễn biến, cách giải
quyết các vụ đình công đó, phương pháp tổng hợp,…
1.5. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài niên luận này tôi muốn làm sáng tỏ mặt lý luận về tranh
chấp lao động và đình công, hiểu được vấn đề thực tiễn về đình công tại

cao thì việc người lao động cùng làm liên kết với nhau tạo thành một tập
thể đoàn kết là một điều bắt buộc để có những lợi thế trong quan hệ lao
động.Tranh chấp lao động tập thể có hai loại:
TTLĐTT về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử
dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định
của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy
chế và thỏa thuận hợp pháp khác.
8
TTLĐTT về lợi ích là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thể lao
động yêu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật
lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp
khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động và người sử dụng
lao động.
Tuy nhiên, việc đình công chỉ được tiến hành đối với các TTLĐTT về
lợi ích, đây là một điểm mới của Bộ luật lao động năm 2012 so với BLLĐ
năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2007). Tuy vậy không phải cứ xảy ra
TTLĐTT về lợi ích là xảy ra đình công, mà đình công chỉ xảy ra khi tranh
chấp lao động giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động
không thể tiếp tục “bắt tay” hợp tác với nhau được. Đình công được xem là
đỉnh cao của TTLĐTT về lợi ích mà biểu hiện rõ nhất là sự ngừng việc triệt
để và có tổ chức của tập thể lao động. Pháp luật nước ta và pháp luật của
các nước trên thế giới cũng đều thừa nhận quyền đình công. Tuy nhiên,
thực hiện nó như thế nào lại phụ thuộc vào chính điều kiện của doanh
nghiệp, pháp luật và chính bản thân người lao động.
1.2. Các vấn đề lý luận về đình công theo pháp luật lao động Việt Nam
1.2.1. Khái niệm và các dấu hiệu của đình công
Đình công là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ khi có giai cấp vô
sản, có quan hệ giai cấp đối kháng giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư
sản. Đình công đã trở thành một vò khí cực kỳ lợi hại của tập thể lao động

2
Qua các nghiên cứu, theo quan điểm tôi thì đình công là đỉnh cao của
tranh chấp lao động tập thể về lợi ích mà biểu hiện rõ nhất là sự ngừng việc
tập thể có tổ chức của người lao động nhằm gây ra áp lực buộc người sử
dụng lao động phải thoả mãn một hoặc một số yêu cầu của tập thể lao
động. Và đình công là một quyền tập thể do pháp luật quy định, theo đó
những người lao động có quyền được nghỉ việc tập thể nhằm buộc người sử
dụng lao động phải thoả mãn những yêu sách chính đáng của mình. Với
1 Điều 174 chương 8 Tại Sắc lệnh 29/SL, ngày 12/3/1947 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
2

Khoản 2 Điều 206 Bộ luật Lao động năm 2012
10
người lao động thì đình công là một vũ khí duy nhất mà họ có khi bị đối xử
không tốt hoặc xảy ra các tranh chấp. Người lao động là người luôn đứng ở
thế yếu, nên các nước công nhận quyền đình công của họ để xem đình công
là phương tiện đấu tranh tự bảo vệ của tập thể người lao động, mặc dù đối
với họ quyền này chỉ áp dụng trong trường hợp bất đắc dĩ.
Từ khái niệm đình công ở trên có thể tìm ra các dấu hiệu cơ bản của
đình công, điều này giúp phân biệt đình công với các hình thức khác như
lãn công, biểu tình,… một cách dễ dàng hơn.
Thứ nhất, việc thực hiện quyền đình công biểu hiện thông qua sự
ngừng việc của người lao động.
Đình công biểu hiện trước hết là sự ngừng việc của tập thể lao động.
Sự ngừng việc này có nhiều dạng, nhiều mức độ khác nhau, nhưng ở các
nước, quyền đình công thường được biểu hiện là sự ngừng việc triệt để của
bản thân người lao động khi lẽ ra họ phải thực hiện công việc theo hợp
đồng lao động, thoả ước tập thể, theo quy chế của nơi làm việc.Tuỳ theo
pháp luật của mỗi nước mà có quan hệ khác nhau về sự ngừng việc tập thể
của người lao động. Ví dụ như ở Hoa Kỳ, cả những sự ngừng việc không

Thứ tư, nhằm đạt được những yêu sách về lợi ích của tập thể lao động.
Khi không đạt những thoả đáng trong giải quyết TTLĐTT thì tập thể
lao động có quyền chọn hình thức đình công để mong muốn tranh chấp
được giải quyết theo hướng có lợi cho mình. Bản chất của đình công là
biện pháp đấu tranh kinh tế, nên mục đích của đình công phải nhằm đạt
được những yêu sách về lợi ích cho tập thể lao động. Thực tế, ở các nước
phát triển, người lao động thường đình công với mục đích đạt được những
lợi ích cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn luật định hoặc tốt hơn những lợi
ích, điều kiện đã được thoả thuận trước đó. Kết quả đình công thường là
một thoả ước mới ra đời. Còn những nước chưa phát triển thì phần lớn các
cuộc đình công là để đòi những lợi ích hợp pháp của người lao động bị bên
sử dụng lao động vi phạm quá đáng.
3

Điều 210 Bộ luật lao động năm 2012
12
1.2.2. Trình tự và thủ tục tiến hành đình công theo pháp luật Việt Nam
Chuẩn bị đình công là việc Ban chấp hành công đoàn cơ sở cùng tập
thể lao động phải làm trước khi đình công và phải theo một trình tự, thủ tục
nhất định. Đầu tiên, ban chấp hành công đoàn phải tổ chức lấy ý kiến tập
thể lao động. Đối với tập thể lao động có TCCĐ cơ sở thì lấy ý kiến của
thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất.
Nơi chưa có TCCĐ cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản xuất hoặc
người lao động. Việc lấy ý kiến tán thành đình công của tập thể lao động có
thể thực hiện bằng cách bỏ phiếu kín hoặc tiến hành lấy chữ ký
4.
Tiếp
theo, ban chấp hành công đoàn sẽ ra quyết định đình công khi có trên 50%
số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của Ban chấp hành công
đoàn đưa ra. Sau khi quyết định đình công, Ban chấp hành công đoàn gửi

này Danh mục đơn vị sử dụng lao động không được đình công.
1.3.2. Hoãn và ngừng cuộc đình công
Về nguyên tắc, người lao động làm việc trong các đơn vị phục vụ thiết
yếu cho nền kinh tế quốc dân thì không có quyền đình công. Tuy nhiên, khi
xét thấy đình công khác mà có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền
kinh tế quốc dân, lợi ích công cộng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định hoãn hoặc ngừng cuộc đình công và giao cho cơ quan nhà nước,
tổ chức có thẩm quyền giải quyết. Chính phủ quy định về việc hoãn hoặc
ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của tập thể lao động.
7
Quy định
trên là hoàn toàn hợp lý bởi vì lợi ích kinh tế của toàn xã hội và sự vững
mạnh của nền chính trị đất nước là hai vấn đề mấu chốt để xây dựng một xã
hội văn minh, thịnh vượng. Tuy nhiên việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình
công chỉ đặt ra trong trường hợp thật cần thiết và sự “nguy cơ” đối với nền
kinh tế quốc dân hoặc an toàn công cộng phải là nghiêm trọng và có thể
xảy ra nếu không quyết định hoãn hoặc ngừng cuộc đình công đó một cách
kịp thời.
Nhận xét
6 Điều 220 Bộ luật lao động năm 2012
7 Điều 221 Bộ luật lao động năm 2012
14
Qua trình bày ở trên, có thể thấy rằng, TTLĐTT về lợi ích là xuất
phát điểm của đình công và đình công chính là đỉnh cao của TTLĐTT.
Trong một xã hội ngày càng phát triển, cùng với những thành tựu kinh tế
thì đình công là một vấn đề luôn tồn tại song hành. Có thể cho rằng đình
công là một biểu hiện của phát triển kinh tế. Đình công không xấu và nó
lại là một quyền chính đáng của người lao động. Tuy nhiên ảnh hưởng tiêu
cực của đình công là không hề nhỏ. Phải luôn quan tâm tới đình công,
chúng ta biết rõ là không thể ngăn cấm nhưng chúng ta phải có những biện

lao động cấp tỉnh có quyền gửi văn bản đến toà án yêu cầu kết luận cuộc
đình công hợp pháp và bất hợp pháp. Viện kiểm sát nhân dân có quyền
khởi tố để yêu cầu toà án kết luận cuộc đình công bất hợp pháp.
Tóm lại, quyền yêu cầu toà án giải quyết cuộc đình công trước hết
thuộc về Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người sử dụng lao động là
những chủ thể trực tiếp tham gia quan hệ tranh chấp. Với tư cách là đại
diện cho tập thể lao động và có vai trò lãnh đạo đình công, Ban chấp hành
công đoàn cơ sở có quyền yêu cầu toà án kết luận đình công hợp pháp
trong và sau khi đã ngừng đình công. Người sử dụng lao động với tư cách
là chủ sở hữu doanh nghiệp, quản lý, điều hành tập thể lao động nơi tập thể
lao động tiến hành đình công có quyền yêu cầu Toà án kết luận tính bất hợp
pháp của cuộc đình công.
2.1.2.2. Thụ lý đơn yêu cầu
Thụ lý đơn yêu cầu là việc Toà án xem xét và chấp nhận yêu cầu đề
nghị của người yêu cầu. Vì vậy, có thể nói rằng, các yêu cầu của Ban chấp
hành công đoàn cơ sở, người sử dụng lao động, cơ quan lao động cấp tỉnh,
liên đoàn lao động cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân có được Tòa án chấp
nhận hay không chính là giai đoạn này. Khi nhận được đơn yêu cầu, Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng xét tính hợp
pháp của cuộc đình công và phân công một Thẩm phán chủ trì việc giải
quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Thẩm phán được
16
phân công chủ trì việc giải quyết đơn yêu cầu phải ra quyết định đưa việc
xét tính hợp pháp của cuộc đình công ra xem xét. Quyết định mở phiên họp
xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải được gửi ngay cho Ban chấp
hành công đoàn, người sử dụng lao động và cơ quan, tổ chức liên quan.
2.1.3. Giải quyết đình công
2.1.3.1. Chuẩn bị giải quyết cuộc đình công
Chuẩn bị giải quyết cuộc đình công là một giai đoạn quan trọng và
không thể thiếu trong quá trình tố tụng. Để có thể giải quyết các cuộc đình

cứ xem cuộc đình công đó là cuộc đình công hợp pháp hay bất hợp pháp.
Nhưng trước khi kết luận tính hợp pháp của cuộc đình công thì hội đồng
xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải tiến hành một số việc cụ thể sau:
Đầu tiên, tại phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công Thẩm
phán sẽ công bố quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình
công và tóm tắt nội dung đơn yêu cầu. Sau đó, đại diện của tập thể người
lao động và của người sử dụng lao động trình bày ý kiến của mình. Tiếp
theo, Chủ trì phiên họp có thể yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức tham gia
phiên họp trình bày ý kiến. Sau khi nghe và tổng hợp ý kiến những người
tham gia phiên họp thì Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công sẽ
xem xét, thảo luận trong phòng nghị án. Hội đồng xét tính hợp pháp của
cuộc đình công sẽ quyết định theo đa số về tính hợp pháp của cuộc đình
công. Cuối cùng, Tòa án sẽ đưa ra quyết định về tính hợp pháp của cuộc
đình công, quyết định này phải nêu rõ lý do và căn cứ để kết luận tính hợp
pháp hay không hợp pháp của cuộc đình công.
Quyết định này được công bố công khai tại Tòa và có hiệu lực thi
hành ngay. Sau khi quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình
công được công bố, nếu cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao động
tham gia đình công phải ngừng ngay đình công và quay trở lại làm việc.
Tiền lương và các quyền lợi hợp pháp khác của người lao động trong thời
hạn đình công được giải quyết theo điều 218 BLLĐ. Người lao động không
18
tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì được trả
lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức
lương tối thiểu vùng do chính phủ quy định và các quyền lợi khác theo quy
định của pháp luật về lao động. Còn người tham gia đình công sẽ không
được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ
trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định về tính hợp
pháp của cuộc đình công, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người sử

tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Tổng số
Doanh nghiệp
Nhà nước
Doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài
Doanh nghiệp
tư nhân
Số vụ % Số vụ % Số vụ %
3016 8 0,27 2391 79,28 617 20,45
Sơ đồ số lượng các vụ đình công hàng năm phân theo loại hình
Doanh nghiệp giai đoạn 2008 – 2012
Tính bình quân 5 năm vừa qua, mỗi năm xảy ra khoảng 603 cuộc. Tuy
nhiên, đình công có xu hướng gia tăng bởi số lượng năm sau cao hơn năm
trước. Và chỉ trong 8 tháng đầu năm 2013 đã xảy ra 236 cuộc đình công.
Năm 2008 2009 2010 2011 2012
Số vụ 720 218 422 858 798
Sơ đồ số lượng các vụ đình công hàng năm giai đoạn 2008 – 2012
Tính chất, mức độ, quy mô của các cuộc đình công cũng tăng dần theo
hàng năm. Thời gian gần đây còn xảy ra hiện tượng phản ứng dây chuyền
của một số cuộc đình công. Có những cuộc đình công kéo dài nhiều ngày
với hàng vạn người tham gia. Thậm chí còn xảy ra các hành động quá
khích như đánh người gây thươn`g tích, đập phá máy móc, nhà xưởng, tài
sản của doanh nghiệp là ảnh hưởng đến trật tự, trị an, đình trệ sản xuất,…
20
ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư và sự phát triển kinh tế xã hội. Có thể
dẫn chứng qua các vụ đình công xảy ra vừa qua tại các doanh nghiệp như:
Cty Levi Strauss Việt Nam (đóng tại khu công nghiệp Khánh Phú, xã
Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình), Cty Pouchen Biên Hòa
năm 2010, Cty Prex Vinh,… Các vụ đình công này diễn ra với hàng ngàn

cách giải quyết hiện tượng này, hướng nó theo đúng quy định của pháp luật
lao động, góp phần làm ổn định quan hệ lao động. Ở Việt Nam đình công
xảy ra do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, phía người sử dụng lao động:
Người sử dụng lao động là một chủ thể quan hệ pháp luật, vì vậy nhận
thức của họ về pháp luật là rất quan trọng. Trong nền kinh tế thị trường,
bao giờ họ cũng là người chiếm ưu thế trong quan hệ pháp luật. Họ có
quyền sở hữu về tài sản, quyền quản lý, điều hành, quyết định mọi vấn đề
hoạt động sản xuất kinh doanh cho nên họ thường sử dụng những quyền
này vượt quá giới hạn cho phép đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người lao động điều đó làm phát sinh tranh chấp lao động. Phần
lớn những cuộc đình công trong thời gian qua bắt nguồn chủ yếu từ sự vi
phạm pháp luật lao động một cách có hệ thống của người sử dụng lao động.
Họ cố tình lợi dụng sự buông lỏng của quản lý của cơ quan nhà nước để
“lách luật” nhằm mục đích giảm chi phí sản xuất và sử dụng lao động để
thu hồi vốn nhanh, đạt được lợi nhuận tối đa bằng mọi cách như tăng
cường độ lao động, kéo dài thời gian làm việc của người lao động, tăng ca,
trốn hoặc nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, trả tiền công,
tiền lương lao động thấp,… Nguyên nhân lỗi dẫn đến phát sinh đình công
khoảng 90% thuộc về người sử dụng lao động, tập trung chủ yếu vào đòi
giải quyết các vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, thời gian thử việc, thời giê
làm việc, thời giê nghỉ ngơi, cải thiện điều kiện lao động và đòi tôn trọng
nhân phẩm của người lao động.
22
Những quy định nội bộ hết sức hà khắc cũng là một nguyên nhân quan
trọng dẫn đến đình công. Nhiều trường hợp người sử dụng lao động nước
ngoài, chuyên gia nước ngoài đã đối xử thô bạo, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm người lao động (đặc biệt là lao động nữ). Một nguyên nhân nữa là
người sử dụng lao động tận dụng khai thác triệt để nhu cầu có việc làm của
người Việt Nam, nói cách khác là dựa vào sự mất cân đối giữa cung và cầu

Thứ ba, phía tổ chức công đoàn cơ sở.
Thực tế những năm qua cho thấy, chỉ ở các doanh nghiệp Nhà nước
thì hệ thống TCCĐ và công đoàn cơ sở mới phát huy được tác dụng là
người đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, còn ở các
DN có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân, TCCĐ chưa đáp
ứng được tình hình pháp triển kinh tế, xã hội của nước ta thời gian qua.
BLLĐ cùng dành một chương quy định về công đoàn nhưng cho đến nay
việc thành lập và tổ chức hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp
đang là một vấn đề nan giải, nhất là khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Công đoàn có vai trò quan trọng,
có sứ mệnh nặng nề nhưng hết sức cao cả là đại diện bảo vệ quyền lợi cho
những người lao động trong mối quan hệ lao động, là tác nhân làm ổn định,
lành mạnh trong quan hệ lao động. Song thực tế cho thấy TCCĐ chưa thật
sự làm tròn sứ mệnh của mình vì nhiều lý do, trong đó nổi bật ở một số
điểm sau:
Bản thân TCCĐ còn yếu kém trong phương thức hoạt động và nghiệp
vụ chuyên môn. Nhiều nơi công đoàn chưa đủ khả năng trình độ làm đại
diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, do đó không thu hót
được người lao động đến với tổ chức của mình. Người lao động không biết
hoặc không tin tưởng công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi cho họ.
Một số cán bộ công đoàn thiếu bản lĩnh, chưa thực hiện tốt việc đại
diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Do sức ép của người sử dụng
lao động mà lẽ ra công đoàn phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của người
24
lao động nhưng vì lợi ích cá nhân đã đứng về phía giới chủ để chống lại
quyền lợi của tập thể lao động. Mọi hoạt động của công đoàn bị giới chủ
dùng áp lực về mặt hành chính, kinh tế thao túng.
Thứ tư, phía các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động.
Một số cơ quan quản lý Nhà nước về lao động còn sơ hở trong quản lý
người nước ngoài, cấp giấy phép làm việc cho người nước ngoài trái ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status