Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết
việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Đinh Thị Nga Phượng
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Lê Thị Hoài Thu
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Trình bày những vấn đề lý luận chung về việc làm, giải quyết việc làm,
pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm. Nghiên cứu các quy định của pháp luật
lao động về trách nhiệm của Nhà nước, của người sử dụng lao động, của tổ chức dịch
vụ việc làm, việc làm cho lao động đặc thù cũng như thực trạng pháp luật trong lĩnh
vực việc làm và giải quyết việc làm. Tổng quát bối cảnh hội nhập quốc tế, trong nước,
cơ hội và thách thức cũng như thực trạng về việc làm, giải quyết việc làm ở Việt Nam,
tồn tại và bất cập của pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm trong thời
kỳ hội nhập để làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Đưa ra một số kiến nghị nhằm
góp phần hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật lao động; Việc làm; Thời kỳ hội nhập
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi quốc
gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như
Việt Nam. Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động
là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình
và còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với phát triển thị trường lao động việc làm ở Việt Nam,
tạo cơ sở pháp lý đối với việc làm bền vững cho người lao động nói riêng, sự phát triển của
quốc gia nói chung.
Vì những lý do nói trên, tôi đã chọn đề tài "Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết
việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu chung về việc làm và giải quyết việc làm, chúng ta không thể không tìm hiểu
tác phẩm Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PGS. Nguyễn Hữu Dũng - PTS.
Trần Hữu Trung (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Một số sinh viên
cũng đã chọn đề tài pháp luật lao động về việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động
làm khóa luận tốt nghiệp tuy nhiên đã nhiều năm trôi qua, với rất nhiều biến động và thay đổi
về cơ sở lý luận và thực tiễn, kết quả nghiên cứu của khóa luận đã không còn cập nhật và phù
hợp so với tình hình hiện nay.
Với tính chất là cơ quan chủ quản và quản lý chuyên ngành về vấn đề việc làm và giải
quyết việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu
khoa học cũng như tổ chức nhiều hội thảo về vấn đề này. Cụ thể như Báo cáo kết quả thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm các năm 2001 - 2005; Đánh giá
thực trạng xây dựng và thực hiện các chính sách việc làm ở Việt Nam năm 2008; Chương trình
Luận cứ khoa học xây dựng Chiến lược Việc làm Việt Nam và phát triển quan hệ lao động năm
2009; Hội thảo Chính sách việc làm, thị trường lao động và đề xuất nghiên cứu xây dựng
Luật Việc làm, Hà Nội
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm, đã có nhiều tác
giả quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh. Dưới góc độ pháp luật thì cho
đến nay đã có một số tác giả công bố các tác phẩm khoa học nghiên cứu một vấn đề, khía cạnh,
bộ phận hay một số quy định pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm chẳng hạn như TS. Lê
Thị Hoài Thu, "Vấn đề xây dựng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam", Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, số 11, 2002; PGS.TS Phạm Công Trứ, "Một số vấn đề pháp lý về việc làm và
giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, 2003; ThS. Bùi Thị Kim
Ngân, "Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về lao động nữ", Tạp chí Khoa học pháp
lý, số 3, 2004; Phạm Kim Nhuận, "Quản lý cho vay Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm của Ngân hàng
như thực trạng pháp luật trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm;
+ Nghiên cứu tổng quát bối cảnh hội nhập quốc tế, trong nước, cơ hội và thách thức cũng như
thực trạng về việc làm, giải quyết việc làm ở Việt Nam, tồn tại và bất cập của pháp luật lao động
về việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập để làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện
pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập;
+ Đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà
nước ta cũng như những quy định pháp luật trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm.
Ngoài ra, luận văn vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm
phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Hơn nữa trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử
dụng các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để
giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc làm và giải
quyết việc làm, đặc biệt là các quy định của pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc
làm của Việt Nam, trên cơ sở tham khảo pháp luật lao động của một số nước trên thế giới.
Với các nội dung cụ thể của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm, theo tác giả sẽ còn
được nghiên cứu trong những công trình khoa học tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Cách tiếp cận của đề tài và hướng nghiên cứu của đề tài có những đóng góp nhất định
vào việc nghiên cứu pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm, nhất là trong thời
kỳ hội nhập.
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ và nghiên cứu cho sinh viên, học
sinh.
- Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu,
những nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm.
5
Phần này luận văn tập trung vào việc nêu ra tầm quan trọng của việc làm và giải quyết
việc làm về các mặt kinh tế, chính trị - xã hội và pháp lý. Bởi lẽ, việc làm và giải quyết việc
làm là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối
với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Giải quyết việc làm
cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử
dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị
trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới.
1.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm
Luận văn trình bày về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc
làm. Theo đó, để quy định và điều chỉnh lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm, pháp luật
lao động về việc làm và giải quyết việc làm cần phải áp dụng và tuân thủ một số nguyên tắc
như sau:
1.2.1. Đảm bảo quyền và nghĩa vụ lao động của công dân
1.2.2. Nhà nước thống nhất quản lý về việc làm và giải quyết việc làm
1.2.3. Cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động
1.2.4. Bình đẳng trong lĩnh vực việc làm
1.2.5. Ưu đãi một số đối tượng đặc thù
1.2.6. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo ra việc làm
Những nguyên tắc pháp lý trên đây là những quan điểm tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá
trình giải quyết việc làm ở nước ta, phù hợp với những nguyên tắc của pháp luật lao động
quốc tế về việc làm và đặc điểm cũng như thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
1.3. Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật về việc làm và giải quyết
việc làm ở Việt Nam
Phần này khái lược về các quá trình hình thành và phát triển pháp luật về việc làm và giải
quyết việc làm ở Việt Nam ở các thời kỳ đó là: Pháp luật về giải quyết việc làm thời kỳ trước
khi có Bộ luật Lao động và pháp luật về giải quyết việc làm theo Bộ luật Lao động.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
theo hợp đồng, nhiều văn bản hướng dẫn… được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện thể
chế, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm. Nhằm hạn
chế những tác động tiêu cực của thị trường, Nhà nước đã ban hành các chính sách cho nhóm
lao động yếu thế, như các chế độ ưu đãi đối với lao động là người tàn tật, các cơ sở sản xuất
kinh doanh của người tàn tật, lao động là người dân tộc thiểu số, chính sách về bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ lao động dôi dư góp phần hỗ trợ người lao động tạo việc làm,
nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Tuy nhiên, có thể thấy mặc dù các văn bản, chính sách về việc làm và giải quyết việc làm ra
đời nhưng việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ, chưa thực sự theo sát
thực tiễn, hiệu quả triển khai thực hiện chính sách cũng chậm và thấp. Văn bản quy phạm pháp
luật về việc làm còn có tính pháp lý chưa cao, còn tản mát ở nhiều văn bản nên việc thực hiện gặp
khó khăn.
Trước hết là khái niệm việc làm, Bộ luật Lao động đã đưa ra một quan niệm mới so với
trước đây đó là: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều
được thừa nhận là việc làm" (Điều 13). Nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam đang ở giai đoạn
thấp của sự phát triển. Theo nhiều ý kiến cho rằng khái niệm việc làm cần được quy định phù
hợp với điều kiện, yêu cầu của việc làm thời kỳ hội nhập.
Có thể thấy các quy định về việc làm còn thiếu hoặc đã được quy định trong các văn bản
dưới luật nhưng chỉ mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể gây khó khăn đối với hoạt
động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm. Chẳng hạn như "thị trường lao
động", "bình đẳng việc làm", "việc làm an toàn", "dịch vụ việc làm"… trong khi đây là những
khái niệm cần phải được quan tâm đối với lao động trong thời kỳ hội nhập, cần phải được quy
định trong văn bản luật.
Các tiêu chuẩn việc làm mặc dù đã được quy định ở nhiều văn bản hiện tại nhưng còn
nằm rải rác, tính pháp lý không cao, tổ chức thực hiện còn yếu. Điều cần thiết là quy định
thống nhất về tiêu chuẩn việc làm với các tiêu chuẩn về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời
gian, việc làm thêm ngoài giờ, thất nghiệp…
Bên cạnh đó, thực trạng về chỉ tiêu việc làm cho thấy vẫn còn đó những vướng mắc. Hiện
nay, chúng ta đang sử dụng chỉ tiêu tạo việc làm, tạo việc làm mới để phản ánh chỉ tiêu về
việc làm của Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ tiêu "tạo việc làm", "tạo việc làm mới" không còn phù
nghiệp và của toàn xã hội".
Bên cạnh những quy định có tính nguyên tắc chung, Bộ luật Lao động và các văn bản
hướng dẫn cũng đã đưa ra các biện pháp cơ bản giải quyết việc làm có liên quan đến trách
nhiệm của Nhà nước. Một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết việc làm đó là
"Chính phủ lập Chương trình quốc gia về việc làm, lập Quỹ quốc gia về việc làm từ ngân
sách nhà nước và các nguồn khác" (khoản 1 Điều 15).
Cho đến nay, đã có 4 Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm được Chính phủ
phê duyệt trong 4 giai đoạn: 1992 - 1997, 1998 - 2000, 2001 - 2005, 2006 - 2010. Qua các
giai đoạn, Chương trình giải quyết việc làm đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, việc
thực hiện chương trình cho đến nay vẫn không tránh khỏi những khó khăn, bất cập. Nguyên
nhân khiến tỷ lệ việc làm mới còn thấp là do vốn đầu tư trên một lao động ngày càng cao và
một số vướng mắc từ quy định của pháp luật cho đến điều hành, quản lý.
Giải quyết việc làm thời gian qua mới chỉ chú trọng tới khía cạnh số lượng, chất lượng
việc làm được tạo mới còn thấp. Số lao động được giải quyết việc làm hằng năm khá lớn,
song đa số làm việc trong khu vực nông nghiệp với trình độ tay nghề, năng suất lao động và
thu nhập thấp. Chính sách di chuyển lao động chưa phù hợp với tình hình nền kinh tế thị
trường và hội nhập, chậm đổi mới, trước tiên là các chính sách sách liên quan đến hỗ trợ trực
tiếp và cho vay vốn tạo việc làm cho đối tượng di dân, xây dựng địa bàn định cư gắn kinh tế
với quốc phòng, phát triển kinh tế hộ gia đình, cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử
dụng đất nông nghiệp.
8
Từ thực trạng cho thấy các quy định về trách nhiệm của Nhà nước vẫn còn nhiều những
vướng mắc và lỗ hổng. Pháp luật lao động về giải quyết việc làm vẫn còn nêu những nội dung
mang nặng tính quan điểm, chủ trương, đạo lý hơn là tính pháp lí như "chuyển dần", "khuyến
khích", "quan tâm", "hỗ trợ"… Do vậy, cần có quy định mạnh mẽ hơn như "cấm", "phải",
"không được"… tránh tình trạng quyền lợi chỉ là trên giấy, mang tính hình thức, khó khăn
trong quá trình thực hiện trên thực tế. Bộ luật Lao động quy định về trách nhiệm của Nhà
nước vẫn còn mang tính chung chung. Các nghị định, thông tư thì được ban hành nhưng chưa
điều chỉnh hết các lĩnh vực trong giải quyết việc làm hoặc đã quy định nhưng không phù hợp
động khi Việt Nam gia nhập WTO, đó là lao động nữ và lao động tàn tật. Còn các đối tượng lao
động đặc thù khác cần được nghiên cứu thêm trong những công trình nghiên cứu chuyên khảo
sâu hơn.
2.2.3.1. Đối với lao động nữ
Xuất phát từ những đặc điểm đặc thù nên Bộ luật Lao động quy định về chính sách việc
làm đối với lao động nữ ở Điều 5 và dành hẳn Chương X gồm 10 điều (Điều 109 đến Điều 118).
Đồng thời, Nhà nước cũng đã ban hành Nghị định số 23/CP ngày 18/4/1996 quy định chi tiết và
9
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về những quy định riêng đối với lao
động nữ và một số thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ y
tế… cùng một số chính sách về hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động nữ.
Tuy nhiên, qua một thời gian dài, có thể nhận thấy một số những hạn chế và vướng mắc,
tồn tại như sau: các quy định về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ còn mang tính
chung chung, gần với những tuyên bố về chính sách của Nhà nước hơn là quy định của pháp
luật. Vì thế, việc xác định trách nhiệm pháp lý với chủ thể cụ thể thông qua các quy định này
là không dễ dàng. Về đào tạo, pháp luật lao động quy định doanh nghiệp có trách nghiệm đào
tạo nghề dự phòng cho lao động nữ theo Điều 10 Bộ luật Lao động trong thực tế quy định này
hầu như không được thực hiện, hoặc nếu có việc đào tạo thì chỉ đặt ra nhằm mục đích nâng
cao tay nghề, chuyên môn lao động nữ đang đảm nhiệm. Các quy định về ưu đãi doanh
nghiệp, đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ còn ít nhiều có sự bất cập làm hạn chế ý nghĩa của
các quy định pháp luật. Cần phải xem xét đối với vấn đề quy định chế tài xử phạt đối với các
doanh nghiệp vi phạm các quy định nói trên. Bởi lẽ, hiện nay chế tài áp dụng đối với lĩnh vực
lao động là quá nhẹ, không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa, chưa kể tới việc giám sát, kiểm
tra rất lỏng lẻo, sơ sài, thậm chí không được thực hiện.
2.2.3.2 Lao động là người tàn tật
Trong những năm qua Việt Nam đã quan tâm nhiều đến lĩnh vực việc làm của người
khuyết tật. Nhiều văn bản pháp quy đã được ban hành nhằm đảm bảo quyền học nghề và làm
việc của người khuyết tật, cũng như tạo những ưu đãi cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhận
người khuyết tật vào làm việc. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các quy định về việc làm cho
lý hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm, các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm của
các địa phương, Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức nên
gây ra nhiều vấn đề bức xúc và mất lòng tin của người dân. Do đó, thiếu sự thống nhất và mối
quan hệ chặt chẽ trong hệ thống giới thiệu việc làm trên cả nước và từng địa phương.
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc
làm ở Việt Nam
Từ bối cảnh quốc tế, trong nước cùng với thực trạng của pháp luật mà chúng ta đã tìm hiểu ở
chương II của luận văn, đồng thời những dự báo về tính hình lao động - việc làm trong những
năm tới có thể thấy rõ những cơ hội đồng thời đi kèm là những thách thức, tồn tại ảnh hưởng rất
lớn tới việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập. Trong khi đó, nội dung Chương
trình nghị sự việc làm toàn cầu do Tổ chức lao động quốc tế khởi xướng đòi hỏi phải đảm bảo
việc làm bền vững cho người lao động. Vì những lý do trên, việc hoàn thiện pháp luật lao động về
việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập là hết sức cần thiết nhằm đáp
ứng yêu cầu đảm bảo việc làm bền vững và an ninh việc làm cho người lao động trong bối cảnh
hội nhập.
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm
ở Việt Nam
Để hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế, cần quán triệt các quan điểm về giải quyết việc làm để kịp thời thể chế hóa và ban
hành các quy định kịp thời thúc đẩy quá trình giải quyết việc làm cho người lao động Việt Nam.
Theo đó, cần quán triệt và tiếp tục thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng về thúc đẩy xây dựng
đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Tiếp
tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về lao động - việc làm: Sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Lao động,
nghiên cứu xây dựng Luật Việc làm, Luật Tiền lương tối thiểu; xây dựng các văn bản hướng dẫn
Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Pháp luật lao động lao
động về việc làm và giải quyết việc làm cần có các quy định tận dụng thời cơ của hội nhập theo
làm", từ đó làm cơ sở định nghĩa các khái niệm "người có việc làm", "thiếu việc làm", "thất
nghiệp", "người thất nghiệp", "giải quyết việc làm", "bình đẳng việc làm", "việc làm an toàn",
"việc làm đầy đủ", "việc làm bán thời gian", "thị trường lao động", "giải quyết việc làm"…
Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm vẫn còn nêu những nội dung mang
nặng tính quan điểm, chủ trương, đạo lý hơn là tính pháp lí như "chuyển dần", "khuyến khích",
"quan tâm", "hỗ trợ"… Do vậy, cần có quy định mạnh mẽ hơn như "cấm", "phải", "không
được"… tránh tình trạng quyền lợi chỉ là trên giấy, mang tính hình thức, khó khăn trong quá trình
thực hiện trên thực tế.
Cơ chế ba bên cần phải được quy định trong Bộ luật Lao động để đảm bảo giải quyết việc
làm hiệu quả nhất cho người lao động. Luật pháp cần thực hiện một thiết chế quan hệ xã hội
mới về thị trường lao động, việc làm đó là: Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao
động là ba chủ thể nằm trong chính sách điều tiết thị trường lao động, việc làm.
Để khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng lao động thì Nhà nước cần thiết phải có một
chương trình tổng thể và kế hoạch cụ thể mang tính dài hạn về phát triển và khai thác có hiệu
quả nguồn nhân lực.
Đối với lao động đặc thù, các quy định cần phải chính xác, cụ thể và mang tính thực thi hơn.
Hiện nay các quy định về các đối tượng này mới chỉ dừng ở hình thức, chưa có các chương trình,
chính sách cụ thể nhằm đẩy mạnh tạo việc làm cho người tàn tật, phụ nữ, thanh niên, lao động làm
việc tại nhà, lao động phục vụ gia đình, người sau cai nghiện, mãn hạn tù, lao động nông thôn hay
lao động là người dân tộc thiểu số… Bên cạnh đó, sửa đổi quy định về Quỹ việc làm cho một số đối
tượng đặc thù cần đảm bảo theo hướng tăng chi phí đóng tiền của doanh nghiệp nếu chưa nhận đủ
số lượng lao động phải nhận theo quy định của pháp luật, nhưng đồng thời có thêm biện pháp ưu
đãi (thuế, danh hiệu, cơ hội mở rộng kinh doanh…) đối với những doanh nghiệp đã nhận đủ tỷ lệ
hoặc hơn.
Về hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ, để tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu tại chỗ
phát triển một cách tốt nhất, đòi hỏi xây dựng khung pháp lý cho hoạt động này trong Bộ luật
Lao động, Luật Đầu tư, các chính sách lao động, tiền lương, bảo hiểm, điều kiện lao động
12
Trong đó đưa ra những quy định cụ thể và sát thực về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các doanh
Nam và phù hợp với các cam kết quốc tế đã tham gia.
Đối với bảo đảm việc làm, hiện nay chưa được quy định luật hóa, vì vậy cần thiết phải
được đưa vào luật để tăng tính bền vững việc làm, đảm bảo phần nào tránh việc cố ý làm sai
để nhận trợ cấp mất việc làm hay sa thải lao động hàng loạt… Pháp luật lao động nên chăng
ngăn chặn việc sa thải lao động bằng cách quy định hết sức chặt chẽ các điều kiện sa thải.
Bên cạnh đó, cần sửa đổi, bổ sung có các chế tài thích hợp và nghiêm khắc hơn đối với
các hành vi vi phạm pháp luật lao động để đảm bảo pháp luật được thực thi có hiệu lực trên
thực tế.
3.3.2. Về tổ chức thực hiện
Để đạt hiệu quả cao trong việc hoàn thiện và thực thi pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm, theo chúng tôi cần phải tập trung vào những vấn đề sau:
- Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định về lao động - việc làm để tiến
hành hệ thống hóa, pháp điển hóa các quy định pháp luật lao động về việc làm và giải quyết
việc làm phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế cũng như đòi hỏi của thực tiễn.
13
- Tăng cường quản lý nhà nước về việc làm, thực hiện pháp luật lao động về việc làm, kết
hợp công tác kế hoạch hóa với cập nhật tình hình biến động lao động - việc làm, kết quả thực
hiện pháp luật lao động trên thực tế, bảo đảm điều chỉnh các biện pháp thực hiện trong từng
thời kỳ.
- Thúc đẩy công tác kiểm tra, theo dõi việc thực hiện các chính sách và pháp luật lao
động về việc làm và giải quyết việc làm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức,
doanh nghiệp, tổ chức công đoàn, người lao động.
- Có các biện pháp khuyến khích sự năng động và chủ động tự tạo việc làm cho bản thân
và cho người khác của người lao động, không thụ động, trông chờ vào Nhà nước.
- Đối với người sử dụng lao động thì khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,
tạo nhiều việc làm trên cơ sở tuân thủ pháp luật lao động về lao động và việc làm.
- Xây dựng và hoàn thiện các chính sách và hình thành các quỹ an sinh xã hội.
- Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về pháp luật việc làm của đối tượng lao động đặc
thù như lao động nữ, lao động người khuyết tật, lao động chưa thành niên, lao động nông
14
việc làm cho người lao động, pháp luật lao động không tránh khỏi những bất cập đòi hỏi phải
được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện kịp thời.
Trong khi đó, thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm ở nước ta cho thấy vẫn còn rất nhiều
tồn tại cần phải được nghiên cứu và giải quyết. Những tồn tại này cũng phần nào phản ánh những
bất cập của các quy định pháp luật cũng như công tác tổ chức thực thi trên thực tế. Do đó đòi hỏi
toàn Đảng, toàn dân cũng như các cơ quan ban ngành của Nhà nước luôn luôn quan tâm và nỗ lực
không ngừng
Bên cạnh đó, chúng ta cần tính đến các tiêu chuẩn quốc tế về việc làm đã được các nước
trên thế giới phê chuẩn bởi lẽ những tiêu chuẩn này hướng tới việc làm bền vững, việc làm
nhân văn cho mọi người, là những tiêu chuẩn đảm bảo quyền làm việc cao nhất cho con người,
không phân biệt đối xử.
Khi lựa chọn vấn đề pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập để nghiên cứu, tác giả luận văn cũng ý thức được những khó khăn bởi
đề tài này luôn mang tính thời sự, phương hướng hoàn thiện đang còn nhiều tranh cãi, chưa
thống nhất. Tuy nhiên, qua quá trình tìm tòi và nghiên cứu nhiều tài liệu cũng như sự giúp đỡ
tận tình của người hướng dẫn đề tài, đến nay, theo suy nghĩ chủ quan, việc tìm hiểu vấn đề
này rất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Qua ba chương, luận văn đã làm rõ:
1. Những vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm, pháp luật việc làm và giải quyết việc
làm. Qua đó, so sánh, đối chiếu về mặt khái niệm nhằm đưa ra cách hiểu thống nhất về việc làm,
giải quyết việc làm, pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm cũng như tầm quan trọng của việc
làm và giải quyết việc làm thể hiện ở khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp lý. Đồng thời khái lược cơ
bản về pháp luật lao động việc làm và giải quyết việc làm từ trước đến nay, cung cấp cái nhìn
tổng quát mang tính hệ thống và khá toàn diện về những quy định của pháp luật lao động việc làm
và giải quyết việc làm. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu pháp luật lao động về việc
làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam.
2. Tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, đánh giá về những quy định hiện hành và thực trạng của
pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm thông qua những quy định về trách nhiệm của
ngoài, Hà Nội.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2001 - 2005), Báo cáo kết quả thực hiện Chương
trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm các năm 2001 - 2005, Hà Nội.
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2008), Đánh giá thực trạng xây dựng và thực
hiện các chính sách việc làm ở Việt Nam, Hà Nội.
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2008), Chương trình Luận cứ khoa học xây dựng
Chiến lược Việc làm Việt Nam và phát triển quan hệ lao động, Hà Nội.
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2009), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật
Việc làm, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội.
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011), "Hoàn thiện chính sách pháp luật việc làm
trong bối cảnh sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động và đề xuất một số nội dung Luật Việc
làm", Hội thảo Chính sách việc làm, thị trường lao động và đề xuất nghiên cứu xây dựng
Luật Việc làm, Hà Nội.
8. Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung các
năm 2002, 2006, 2007) (2010), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Nguyễn Hữu Chí (2006), "Quỹ bảo hiểm xã hội và một số vấn đề về bảo toàn, phát triển
Quỹ bảo hiểm xã hội", Nhà nước và pháp luật, (6), tr. 62-69.
10. Nguyễn Hữu Chí (2006), "Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm", Nhà
nước và pháp luật, (1), tr. 13-21.
16
11. Nguyễn Hữu Chí (2009), "Pháp luật về lao động nữ - Thực trạng và phương hướng hoàn
thiện", Luật học, (9), tr. 26-32.
12. Nguyễn Hữu Chí - Phạm Thanh Vân (2004), "Pháp luật lao động về việc làm đối với lao
động nữ trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Thực trạng và một số kiến
nghị", Nhà nước và pháp luật, (10).
13. Chính phủ (2004), Nghị định số 116/2004/NĐ-CP ngày 23/4 về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Bộ luật Lao động về lao là người tàn tật, Hà Nội.
14. Nguyễn Việt Cường (chủ biên) (2004), 71 vụ án tranh chấp lao động điển hình: tóm tắt
28. Nguyễn Thanh Hòa (2009), "Thực hiện hiệu quả mục tiêu giải quyết việc làm cho người
lao động", Tạp chí Cộng sản, 10(178).
29. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1998), Các văn kiện quốc tế về quyền con
người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Nguyễn Thị Lan Hương (2002), Thị trường lao động Việt Nam, định hướng và phát triển,
Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
31. Phạm Lan Hương (2010), "Các vấn đề về quan hệ lao động trong bối cảnh Việt Nam hội
nhập kinh tế quốc tế", Lao động và Xã hội, (386), tr. 47-48.
32. Tào Bằng Huy (2011), "Đánh giá chính sách pháp luật về việc làm từ năm 1994 đến nay
và định hướng hoàn thiện chính sách về việc làm", Hội thảo: Chính sách việc làm, thị
trường lao động và đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Việc làm, Hà Nội.
33. Đỗ Năng Khánh (2000), Thất nghiệp và việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học.
34. Bùi Thị Lý (2009), "Đẩy mạnh xuất khẩu lao động tại chỗ - hướng giải quyết việc làm
quan trọng trong hội nhập", Tạp chí cộng sản, 15(183).
35. Thiều Văn Lý (2010), "Sau 7 tháng thực hiện chi trả bảo hiểm thất nghiệp: Chủ yếu vẫn
là tiếp nhận và xử lý hồ sơ", Báo Lao động và Xã hội, (96), tr. 4.
36. Thiều Văn Lý (2010), "Quỹ Quốc gia về việc làm: Sẽ mở rộng và ưu tiên đối tượng cho
vay", Báo Lao động và Xã hội, (105).
37. Lê Quốc Lý - Lê Văn Cương (2008), "Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề việc làm ở Việt
Nam", Kinh tế và dự báo, 24(440).
18
38. Trịnh Thị Tuyết Mai (2002), Việc làm và giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt
Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
39. Thái Thị Hồng Minh (2007), "Gia nhập WTO và những tác động đến thị trường lao động
Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, 15(135).
40. Nguyễn Đức Minh (2008), "Hoàn thiện chính sách và pháp luật lao động đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế", Nhà nước và pháp luật, (3), tr. 52-61.
41. Trần Thị Nam (2009), "Bức xúc vấn đề lao động việc làm", Tạp chí Cộng sản điện tử,
56. Trần Văn Thiện và Nguyễn Sinh Công (2009), "Thị trường lao động Việt Nam trong cơn
suy thoái kinh tế toàn cầu", Phát triển kinh tế, (224).
57. Lê Thị Hoài Thu (2002), "Vấn đề xây dựng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam", Nhà nước và pháp luật, (11).
58. Lê Thị Hoài Thu (2006), "Quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong Công ước của tổ chức
lao động quốc tế (ILO) và một số nước trên thế giới", Nhà nước và pháp luật, (6), tr. 53-
61.
59. Lê Thị Hoài Thu (2007), "Nghiên cứu pháp luật an sinh xã hội một số nước trên thế
giới", Bảo hiểm xã hội, (9).
60. Lê Thị Hoài Thu (2008), Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
61. Lê Thị Hoài Thu (2008), "Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam", Khoa học, (24), tr.
84-92.
62. Lê Thị Hoài Thu (2008), "Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam -
Đôi điều cần bàn", Nhà nước và pháp luật, (11), tr. 59-67.
63. Lê Thị Hoài Thu (2010), "Trợ cấp thôi việc trong pháp luật lao động Việt Nam", Nhà
nước và pháp luật, (3), tr. 51-59.
64. Vũ Minh Tiến (2010), "Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong
các doanh nghiệp", Lao động - Xã hội, (390), tr. 19-20.
65. Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình Thị trường lao động, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
66. Nguyễn Tiệp (2010), "Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta", Lao động - Xã
hội, (394), tr. 14-16.
20
67. Nguyễn Ngọc Toản (2010), "Luật Người khuyết tật - Bước tiến mới trong thực hiện
chính sách trợ giúp người khuyết tật", Lao động và Xã hội, tr. 41-43.
68. Nguyễn Lương Trào (2010), "Đón nhận và thực hiện Bộ quy tắc ứng xử dùng cho các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động", Lao động - Xã hội, (390), tr. 16-18.
69. Phạm Công Trứ (2003), "Một số vấn đề pháp lý về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt
Nam", Nhà nước và pháp luật, (6), tr. 47-54.