Pháp luật về viên chức ở việt nam trong thời kỳ hội nhập - Pdf 10

Pháp luật về viên chức ở Việt Nam trong thời
kỳ hội nhập Lê Thị Quỳnh Nga Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trịnh Đức Thảo
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Trình bày cơ sở lý luận của pháp luật về viên chức; chỉ ra sự khác biệt
giữa viên chức với cán bộ, công chức. Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và
thực trạng pháp luật về viên chức ở Việt Nam. Đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn
thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về viên chức trong thời kỳ hội nhập ở Việt Nam.

Keywords. Viên chức; Luật hành chính; Pháp luật Việt Nam; Thời kỳ hội nhập Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo đã trải qua hơn 20 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng. Với
tinh thần đổi mới, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang từng bước đổi
mới, hoàn thiện, nhằm đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam
còn nhiều hạn chế, trong đó có lĩnh vực viên chức. Việc tổ chức hoạt động cung cấp các dịch

"Hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay", của Lương Thanh
Cường, Luận án tiến sĩ luật học, 2008; "Cán bộ, công chức, viên chức theo pháp lệnh cán bộ,
công chức", của ThS. Bùi Thị Đào, Tạp chí Luật học, số 12/2006
Các công trình khoa học trên chủ yếu đề cập giải quyết các vấn đề về công chức nói
chung, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu pháp luật về viên chức.
Do vậy, cần phải đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật về viên chức, chỉ ra những đặc điểm, tiêu chuẩn của viên
chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
viên chức nói chung và pháp luật về viên chức nói riêng. Đây cũng là một trong các lý do đề tài:
"Pháp luật về viên chức ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập" được chọn để nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Từ sự phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của pháp luật về viên chức ở Việt
Nam, luận văn đề xuất các giải pháp về hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về viên
chức trong thời kỳ hội nhập.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích và đưa ra khái niệm, đặc điểm, phân loại viên chức.
- Phân tích và đưa ra khái niệm, nội dung điều chỉnh và mối quan hệ của pháp luật viên
chức.
- Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật viên chức hiện hành.
- Nghiên cứu các quan điểm, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp
luật viên chức ở Việt Nam hiện nay để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức,
cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ công, đáp ứng đòi hỏi của pháp luật thời kỳ hội nhập.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật về viên chức ở Việt
Nam, có tham khảo pháp luật về viên chức của một số quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hệ thống pháp luật về viên chức trong các
đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC
1.1. Những vấn đề lý luận về viên chức
1.1.1. Quan niệm về viên chức
Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 đã đưa ra sự phân biệt giữa viên chức
với cán bộ, công chức cùng được điều chỉnh trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Theo quy
định của Nghị định này thì viên chức được hiểu: là công dân Việt Nam, trong biên chế, được
tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên
trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được quy
định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các
nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
Theo Luật Viên chức năm 2010, viên chức nhà nước được hiểu là: Viên chức là công dân
Việt Nam được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh
nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của viên chức
Viên chức nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Viên chức là công dân Việt Nam.
Thứ hai: Viên chức được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào
một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Thứ ba: Viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
1.1.3. Phân biệt viên chức với cán bộ, công chức
Để phân biệt với "cán bộ", "công chức" hiện nay pháp luật Việt Nam quy định nhóm đối
tượng "viên chức", bao gồm những người:
- Là công dân Việt Nam, trong biên chế;
- Hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
- Được tuyển dụng thông qua hình thức hợp đồng làm việc trong biên chế; làm việc trong
các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội; bộ máy phục vụ

quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa nhà nước với đội ngũ viên chức trong quá trình
thực hiện dịch vụ công.
1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về viên chức
Nghiên cứu chế độ dân sự, pháp luật về công chức, viên chức của một số nước trên thế
giới và thực tiễn của Việt Nam cho thấy, mặc dù còn ở mức độ khác nhau, nhưng thường
pháp luật về viên chức điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội chủ yếu sau:
Một là, nhóm quan hệ xã hội về xác lập dịch vụ công.
Hai là, nhóm quan hệ liên quan đến tuyển dụng viên chức.
Ba là, nhóm quan hệ xã hội về tập sự viên chức.
Bốn là, nhóm quan hệ xã hội liên quan đến quản lý, sử dụng viên chức.
Năm là, nhóm quan hệ xã hội liên quan đến quyền và nghĩa vụ của viên chức.
Sáu là, nhóm quan hệ xã hội liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá viên chức.
Bảy là, nhóm quan hệ liên quan đến kỷ luật viên chức.
Tám là, nhóm quan hệ liên quan đến việc khen thưởng viên chức.
Chín là, nhóm quan hệ xã hội liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng của viên chức.
1.2.3. Mối quan hệ của pháp luật về viên chức với pháp luật về cán bộ, công chức
Pháp luật nước ta trong một thời gian dài không có sự phân biệt một cách rõ ràng về pháp
luật cán bộ, công chức và pháp luật về viên chức; vì chúng ta cũng chưa có sự phân biệt rạch
ròi giữa hoạt động công vụ (hoạt động hành chính) và hoạt động cung cấp dịch vụ công (hoạt
động sự nghiệp). Những người hoạt động trong các cơ quan nhà nước hay trong các đơn vị sự
nghiệp công lập đều có cách thức tuyển dụng, quyền, nghĩa vụ… tương tự nhau. Chúng ta
thường sử dụng cụm từ "cán bộ, công chức" để xác định trong trường hợp những người này được
bầu cử, phê chuẩn để đảm nhiệm chức vụ, chức danh trong bộ máy của Đảng, trong cơ quan nhà
nước, trong tổ chức chính trị - xã hội theo nhiệm kỳ, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước là
cán bộ; trong trường hợp được tuyển dụng, bổ nhiệm, giao giữ một chức vụ, chức danh gắn với
trình độ đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động thường xuyên trong bộ máy của Đảng,
trong các cơ quan nhà nước, trong tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước
là công chức; nhưng nếu họ được tuyển dụng hay giao giữ một công việc thường xuyên trong các
đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, của nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương

Như vậy, chủ trương của Nhà nước ta là tách biệt hai khái niệm viên chức (được hiểu là
công chức giai đoạn trước đó) thành công chức là những người làm trong bộ máy hành chính
của cả nước. Giai đoạn đầu của những năm 1950 thế kỷ XX không chỉ rõ khái niệm viên
chức mà chỉ có khái niệm công chức hiểu theo phạm vi rất hẹp, là những người được tuyển
dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, và không bao gồm người
làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát.
- Giai đoạn giữa năm 1950 đến năm 1959
Một số văn bản trong thời kỳ này gọi những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp giáo
dục, y tế, khoa học (theo cách hiểu hiện nay là viên chức) là công chức.
Mặc dù Sắc lệnh số 76/SL quy định dành riêng cho công chức - những người làm trong
hệ thống các cơ quan hành chính, song sau năm 1954, do nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực
trong bộ máy nhà nước ngày càng tăng, nên trên thực tiễn những đối tượng đủ tiêu chuẩn để
trở thành công chức theo Quy chế công chức năm 1950 và các văn bản vào thời kỳ đó không
thể đáp ứng đủ cho bộ máy nhà nước. Vì vậy, Quy chế này không được áp dụng đầy đủ.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
- Sự ra đời của Hiến pháp năm 1959
Trong giai đoạn này được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 và pháp luật
trong giai đoạn này không đi theo hướng điều chỉnh một cách chuyên biệt các đối tượng phục vụ
trong cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp mà vẫn kế thừa, phát triển theo xu hướng
điều chỉnh chung.
Đến năm 1962, Nghị định số 24/CP ngày 8 tháng 11 năm 1962 của Hội đồng Chính phủ
ban hành Điều lệ tuyển dụng công nhân, viên chức nhà nước gọi "công nhân, viên chức nhà
nước" là những người làm ở "một số xí nghiệp, nông trường, lâm trường, công trường, trường
học và cơ quan nhà nước (gọi tắt là xí nghiệp, cơ quan nhà nước)".
Như vậy, viên chức là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong văn bản pháp luật và dần
thay thế thuật ngữ công chức - đã được sử dụng trước đó theo Quy chế về công chức năm
1950. Mặc dù Quy chế trên vẫn có hiệu lực nhưng trên thực tế lại không được sử dụng rộng
rãi sau đó. Vì thế, những đối tượng trước đây được gọi là công chức có thể được hiểu là một
thành phần trong những đối tượng là viên chức ở giai đoạn này.
- Giai đoạn những năm 1960 đến những năm cuối 1970

Việc phân biệt cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước với cán bộ công chức trong các
đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, thực chất là phân biệt giữa công chức nhà nước với viên
chức nhà nước, đây là một điểm mốc quan trọng đánh dấu xu hướng điều chỉnh có tính
chuyên biệt giữa đối tượng phục vụ trong các cơ quan nhà nước (công chức) và các đối tượng
làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (viên chức).
- Giai đoạn từ năm 2008 đến nay
Trong giai đoạn này chính thức có sự tách biệt nội hàm hai khái niệm công chức và viên
chức.
Mặc dù sự phân định giữa các đối tượng được gọi là công chức, viên chức đã bước đầu được
quy định trong Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 và sau đó tiếp tục được thể hiện rõ hơn
trong các văn bản hướng dẫn thi hành, trong các văn bản đó phải kể đến là: (1) Nghị định số
116/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức
trong các đơn vị sự nghiệp. Nghị định này đã chính thức quy định và gọi những người làm việc
trong các đơn vị sự nghiệp là viên chức; và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 về
việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý những người làm trong các cơ quan nhà nước là công
chức.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã chính thức không đưa những đối tượng làm việc tại
các đơn vị sự nghiệp vào đối tượng điều chỉnh của mình. So với Pháp lệnh cán bộ, công chức
năm 1998 và 2003 thì thời điểm Luật Cán bộ, công chức ra đời, chúng ta đã có một sự phân
định rõ ràng về những đối tượng được gọi là công chức và viên chức nhưng chưa chính thức
được đưa vào một văn bản có giá trị hiệu lực cao như luật hoặc pháp lệnh mà chỉ dừng lại ở
tầm nghị định.
Như vậy, còn nhiều đối tượng được gọi là viên chức trong các văn bản dưới luật hiện nay
như: những người được tuyển dụng, bổ nhiệm theo một chức danh nghề nghiệp, chức vụ
quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập theo vị trí việc làm và hưởng lương từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập thì chưa có luật điều chỉnh. Vì vậy, việc ban hành một luật riêng để
tạo khuôn khổ pháp lý hoạt động cho các đối tượng này là cần thiết. Ngày 15/11/2010, Quốc
hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Viên chức, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2012. Đây chính là một văn bản pháp luật có giá trị, đặt nền tảng pháp lý thúc đẩy việc
xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

hành về tuyển dụng vẫn chưa tạo được sự thu hút rộng rãi sự tham gia của công dân vào tuyển
dụng; tính cạnh tranh, khách quan, công bằng trong quá trình tuyển dụng chưa cao. Bên cạnh đó
việc tổ chức thực hiện trên thực tế còn chưa nghiêm, còn có hiện tượng tiêu cực trong quá trình
thi tuyển, tạo ra một tâm lý cho xã hội thi tuyển viên chức chỉ là hình thức. Vì vậy, để tuyển
dụng những người thực sự có tâm, có tài cho đội ngũ viên chức, cần phải thực hiện các quy
định hiện hành về thi tuyển viên chức một cách công bằng, nghiêm minh.
2.2.4. Những quy định về quản lý, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm viên chức
Các quy định về quản lý, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm viên chức cũng đã từng bước phát
triển qua các thời kỳ, làm cơ sở pháp lý cho quản lý đội ngũ viên chức. Tuy nhiên, các quy
định hiện nay về quản lý, sử dụng viên chức còn một số hạn chế cơ bản như sau:
Một là, các quy định về quản lý biên chế còn nặng tính "xin - cho", chưa tạo sự chủ động
cho các đơn vị sự nghiệp công trong quản lý nguồn nhân lực.
Hai là, các quy định về nâng ngạch viên chức thiếu tính cạnh tranh, nặng về thâm niên
công tác, bằng cấp, chưa chú trọng thật sự đến năng lực, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của viên
chức.
Ba là, các quy định đánh giá viên chức còn nặng định tính thiếu các tiêu chí đánh giá
định lượng, cách thức đánh giá viên chức chủ quan, thiếu quy định về sự tham gia của công
dân, xã hội vào đánh giá viên chức; chưa có các quy định về kết quả đánh giá viên chức.
Bốn là, các quy định về bổ nhiệm cũng chưa tạo ra tính cạnh tranh, trách nhiệm trong
việc đề cử, bổ nhiệm viên chức chưa được xác định rõ; sự phân biệt giữa miễn nhiệm, cách
chức, từ chức chưa rõ ràng.
Năm là, các quy định về mặt thủ tục quản lý, sử dụng viên chức (như thủ tục điều động,
thuyên chuyển, biệt phái) chưa được quy định cụ thể.
Sau khi Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Chính phủ ban hành
Nghị định 24/2010/NĐ-CP về quản lý, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá công chức (thay thế
cho Nghị định 117/2003/NĐ-CP) thì việc quản lý, sử dụng đánh giá công chức đã cụ thể hơn
so với cơ chế quản lý, sử dụng viên chức theo quy định của Nghị định 116/2003/NĐ-CP.
Tháng 11 năm 2010, Luật Viên chức được xây dựng theo tinh thần tạo thế chủ động cho
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện các nội dung quản lý như xây
dựng vị trí việc làm; tuyển dụng viên chức; ký hợp đồng làm việc; bổ nhiệm, thay đổi chức

định tính nhiều nên làm cho cơ sở để xử lý kỷ luật đối với viên chức khó xác định, việc đánh
giá tính chất, mức độ vi phạm không được rõ ràng, dẫn đến việc xử lý kỷ luật trong nhiều
trường hợp không chính xác.
Bên cạnh nghĩa vụ chung của viên chức, Luật Viên chức năm 2010 còn có quy định rõ
nghĩa vụ của viên chức quản lý (Điều 16, 17, 18). Điều này thể hiện rõ tính trách nhiệm cao
của người quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập.
2.2.6. Những quy định về khen thưởng, kỷ luật viên chức
Khen thưởng là một trong những biện pháp quan trọng để động viên viên chức phấn đấu
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; mặt khác ghi nhận, tôn vinh những công lao, thành tích
đóng góp của viên chức đạt được trong quá trình thực hiện dịch vụ công. Vì vậy, các quy
định về khen thưởng viên chức cũng được ban hành, cùng với các điều chỉnh khác của pháp
luật về viên chức.
Trong các hình thức kỷ luật đối với công chức nhà nước có sự thay đổi, hình thức hạ ngạch
công chức được thay thế bằng hình thức giáng chức. Do Luật Cán bộ, công chức năm 2008
không điều chỉnh đối tượng là viên chức, nên các quy định về kỷ luật đối với viên chức trong các
đơn vị sự nghiệp công lập vẫn tạm thời thực hiện theo những quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công
chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003) và các văn bản có liên quan về kỷ luật cán bộ,
công chức, viên chức được chi tiết hóa, cụ thể hóa để hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Cán bộ,
công chức năm 1998.
Năm 2010, Luật Viên chức được Quốc hội thông qua và các quy định về kỷ luật đối với
viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập đã được quy định tại các điều 51, 52, 53, 54,
55, 56, 57 của luật này.
2.2.7. Nhận xét chung pháp luật về viên chức
Mặc dù có những bước phát triển về chất lượng nhưng nhìn chung, pháp luật về viên
chức ở nước ta hiện nay cũng còn nhiều điểm hạn chế. Cụ thể là:
Thứ nhất, pháp luật còn phân tán và thiếu một định hướng dài hạn cho việc phát triển đội
ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Thứ hai, các quy định pháp luật chưa phân biệt và làm rõ những đặc thù của đội ngũ viên
chức so với đội ngũ những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước. Do đó chưa
tạo ra cơ chế quản lý, sử dụng thực sự phù hợp, hiệu quả.

giữa viên chức trong khu vực công và những người làm trong khu vực tư… để có cơ chế
quản lý, sử dụng viên chức hiệu quả, phù hợp.
Thứ ba, pháp luật về viên chức phải tạo khung pháp lý đồng bộ để xây dựng, phát triển
đội ngũ viên chức có chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển đất
nước.
Thứ tư, pháp luật về viên chức phải đáp ứng sự phát triển của kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế của Việt Nam.
3.2. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về viên chức
Tác giả luận văn đưa ra một số quan điểm hoàn thiện pháp luật về viên chức như sau:
3.2.1. Thể chế hóa chủ trương xây dựng hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức nhằm
đáp ứng về đổi mới cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập, thúc đẩy xã hội hóa các
hoạt động nghề nghiệp, góp phần tạo điều kiện chuyển đổi hoàn toàn hoạt động của các
đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ đối với viên chức. Đổi mới cơ bản cơ
chế quản lý viên chức nhằm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức, tài năng và chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ viên chức, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách khu vực dịch vụ
công, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế
3.2.3. Bảo đảm tính minh bạch, công khai và trách nhiệm trong hoạt động nghề
nghiệp của viên chức. Tiếp tục thực hiện chế độ hợp đồng làm việc gắn với việc thiết lập
hệ thống các vị trí việc làm trong quản lý viên chức; đề cao trách nhiệm của người đứng
đầu các đơn vị sự nghiệp công lập
3.2.4. Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về quản lý viên chức, đồng thời kế
thừa và hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu quản lý
nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp của viên chức trong giai đoạn hiện nay
3.3. Những giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật trong thời kỳ hội nhập
3.3.1. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật
3.3.3.1. Nhận thức, thể chế hóa các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên
chức
Dịch vụ công ở nước ta được thực hiện trên bản chất của Nhà nước ta là: "Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc

với việc chỉ đạo, điều hành các tổ chức sự nghiệp có tính chất dịch vụ công trực thuộc Bộ, cơ
quan ngang Bộ", "tách tổ chức hành chính với tổ chức sự nghiệp công để hoạt động theo cơ chế
riêng, phù hợp, có hiệu quả".
Vì vậy, Luật Viên chức cần thể hiện được quan điểm chỉ đạo trên. Để đưa Luật Viên
chức trở thành một đạo luật điều chỉnh về viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công
lập thì trước hết phải xác định được mô hình, tổ chức, quy mô, số lượng cũng như phương
hướng sắp xếp các đơn vị sự nghiệp trong thời gian tới cho phù hợp với chủ trương của Đảng
và Nhà nước về đổi mới tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập. Luật Viên chức nên có một số
quy định mang tính định hướng nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà
nước cho việc tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập; xóa bỏ cơ chế Bộ
chủ quản; tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập với cơ
chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu.
3.3.2. Tổ chức thực hiện pháp luật viên chức trong thời kỳ hội nhập
3.3.2.1. Ban hành kịp thời các văn bản có thể hướng dẫn thực hiện luật viên chức
Làm cho người viên chức hiểu quyền và tự có tinh thần trách nhiệm trong "chức danh
nghề nghiệp" của mình, việc thực hiện pháp luật về viên chức cần phải có các văn bản hướng
dẫn kịp thời và có thể để người lao động thực hiện luật viên chức được sử dụng trong các đơn
vị sự nghiệp công lập mà nguồn kinh phí hoạt động chính vẫn từ ngân sách nhà nước, do đó
vẫn cần có văn bản quản lý nhà nước để thực hiện việc quản lý viên chức:
- Các nghị định hướng dẫn việc thực hiện luật của Chính phủ bao gồm: Nghị định về đào
tạo viên chức; nghị định về quản lý, tuyển dụng và sử dụng viên chức; nghị định quy định đối
tượng viên chức; nghị định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với viên chức
- Các văn bản và thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan về đào tạo, tuyển dụng, kỷ
luật, thôi việc, các chế độ về tiền lương và hưu trí của các đối tượng là viên chức
- Các văn bản khác.
3.3.2.2. Thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật viên chức cho người
lao động
Hiện nay số lượng viên chức trong các đơn vị công lập là 1.657.470 người, làm việc trong
52.241 đơn vị sự nghiệp từ Trung ương đến cấp huyện. Với số lượng ngày một đông đảo như vậy
việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật viên chức là hết sức cần thiết để mỗi viên chức

Trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân, phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước
và thông qua Nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường dân chủ trong Đảng và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân là nội dung quan trọng của đổi mới chính trị phải được tiến hành
đồng bộ với đổi mới kinh tế. Coi trọng mở rộng dân chủ trực tiếp trong xây dựng Đảng và
xây dựng chính quyền, khắc phục tình trạng Đảng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện làm
thay chức năng, nhiệm vụ quản lý điều hành của chính quyền.
Tổng kết việc thực hiện thí điểm Đại hội Đảng nhất thể hóa hai chức danh bí thư và
chức năng lãnh đạo ở các đơn vị sự nghiệp công lập để rút kinh nghiệm nhân rộng, góp phần
đổi mới phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý điều hành của chính quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất là dân chủ trực
tiếp.
Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc
của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch,
chương trình và dự án phát triển quan trọng. Quy định chế độ cung cấp thông tin và trách
nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trước nhân dân. Hoàn thiện và thực hiện tốt Quy chế
dân chủ ở cơ sở. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và của mỗi
người dân trong việc quản lý sinh hoạt và tổ chức đời sống cộng đồng theo quy định của pháp
luật.

KẾT LUẬN
Nghiên cứu chung về pháp luật viên chức ở Việt Nam hiện nay, rút ra một số kết luận
sau:
1. Dịch vụ công là hoạt động không mang tính quyền lực nhà nước, do các đơn vị sự nghiệp
nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm phục vục nhân dân, phục vụ xã hội. Dịch
vụ công diễn ra trong nhiều lĩnh vực xã hội, do nhiều chủ thể thực hiện. ở mỗi một nước khác
nhau, phạm vi dịch vụ công cũng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của nhà nước cũng như đặc
điểm riêng về kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia đó. Ở nước ta phạm vi dịch vụ công cũng
thay đổi qua các giai đoạn khác nhau của đất nước. Từ góc độ khoa học luật hành chính thì viên

luật về viên chức cả về nội dung và hình thức, để trên cơ sở đó đổi mới, nâng cao chất lượng
cung cấp các dịch vụ công, xây dựng một đội ngũ viên chức có năng lực, có đạo đức toàn
tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, nhân dân, dân tộc.
5. Việc hoàn thiện pháp luật về viên chức cần đi theo hướng xây dựng pháp luật về viên
chức toàn diện, thống nhất, đồng bộ và chuyên biệt, đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch,
cạnh tranh trong cung cấp các dịch vụ công.
6. Một số giải pháp cơ bản để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về viên chức như: Nhận thức,
thể chế hóa các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; Ban hành các quy
phạm pháp luật điều chỉnh chuyên biệt phù hợp với tính chất hoạt động nghề nghiệp của viên
chức; Pháp điển hóa pháp luật về viên chức theo hướng xây dựng luật viên chức.
Các giải pháp này cần được thực hiện trong quá trình tổng thể hoàn thiện Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật Việt Nam, từ đó tạo ra một hệ thống pháp luật về
viên chức thống nhất, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế.
References
1. Ban Tổ chức Cán bộ - Chính phủ (1994), Chế độ công chức và Luật Công chức các
nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Tổ chức Cán bộ - Chính phủ (1997), Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Ban Tổ chức Cán bộ - Chính phủ (1999), "báo cáo về đợt nghiên cứu khảo sát tháng
3/1999 tại Trung Quốc", www.caicachhanhchinh.gov.vn.
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương (2006), Chuyên đề nghiên cứu nghị quyết Đại hội X
của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Bộ Lao động - Bộ Nội vụ (1966), Thông tư liên bộ số 13-TT/LB ngày 30/8 giải thích và
hướng dẫn thi hành điều lệ về kỷ luật lao động trong các xí nghiệp, cơ quan nhà nước,
Hà Nội.
6. Lê Văn Cảm (1997), Học thuyết nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Cộng hòa

Sự thật, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung
ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung
ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 Ban Chấp hành
Trung ương khóa X về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi
người có công giai đoạn 2008-2012, Hà Nội.
29. Bùi Thị Đào (2006), "Cán bộ, công chức, viên chức theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức",
Luật học, (12).
30. Lê Trọng Điều (2007), "Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức", Tạp chí Cộng sản, (5).
31. Nguyễn Minh Đoan (1997), Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Bùi Xuân Đức (1997), "Đại hội lần thứ VIII của Đảng và vấn đề cải cách nền hành chính
Việt Nam", Trong sách: Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp
bách của Khoa học về Nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
33. Trần Ngọc Đường (2004), "Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện

47. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
48. Mai Hữu Khuê (chủ biên) (2001), Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao
động, Hà Nội.
49. Tường Duy Kiên (2005), "Tăng cường hoạt động lập pháp bảo đảm quyền con người đáp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (5).
50. C.Mác (1971), Sự khốn cùng của triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội.
51. Lê Chi Mai (2002), Chuyển giao dịch vụ công cho cơ sở ngoài nhà nước, Nxb Lao động
- Xã hội, Hà Nội.
52. Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
53. Nguyễn Văn Mạnh (2005), "Nhận thức mới về vai trò, chức năng của nhà nước trong
điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa ở
nước ta hiện nay", Nhà nước và pháp luật, (5).
54. Đinh Văn Mậu (2005), "Bảo đảm về tổ chức - pháp lý đối với nền công vụ phục vụ nhà
nước và xã hội", Quản lý nhà nước, (5).
55. Đinh Văn Mậu (2006), "Về một cách tiếp cận Luật Công vụ", Quản lý nhà nước, (6)
56. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
57. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
58. Hồ Chí Minh (2005), Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. Vũ Đăng Minh (2003), "Về xây dựng cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan hành
chính nhà nước", Quản lý nhà nước, (8).
60. Mongtesquieu (1996), 'Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
61. Phạm Duy Nghĩa (2002), "Tính minh bạch - một thuộc tính của nhà nước pháp quyền",
Dân chủ và pháp luật, (1).
62. Lê Hữu Nghĩa (2006), "Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo đức của cán bộ,
đảng viên hiện nay", Tạp chí Cộng sản, (2+3).
63. Thanh Văn Phúc (1999), Tổ chức bộ máy nhà nước và cải cách hành chính ở Cộng hòa
Liên bang Đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
64. Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thị Huyền (2004), Hệ thống công vụ và xu
hướng cải cách của một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status