LỜI MỞ ĐẦU
Xuất nhập khẩu (XNK) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tất
cả các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu
đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách nhà nước. Chính sách thuế XNK
không ngừng biến đổi, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã ảnh
hưởng nhiều đến quá trình phát triển đất nước. Với mục đích hiểu rõ hơn về
ảnh hưởng chính sách thuế XNK của Việt Nam trước và sau khi gia nhập
WTO tới nền kinh tế, chúng em đã quyết định làm tiểu luận về đề tài này.
Mục tiêu của bài tiểu luận mà chúng em hướng tới đó là:
• So sánh chính sách thuế XNK của nhà nước trước và sau khi
gia nhập WTO để thấy được điểm đổi mới trong quá trình phát
triển kinh tế đất nước.
• Từ những chính sách thuế mới thì cơ hội, khó khăn cho Việt
Nam là gì.
• Tìm hiểu một một ví dụ về thuế xuất nhập khẩu đối với mặt
hàng ô tô để thấy rõ sự biến đổi của nó trước, sau khi gia nhập
WTO, ảnh hưởng của chính sách đó.
Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp, thống kê, phân tích.
Phạm vi nghiên cứu : 10 năm trở lại đây
Vì thời gian có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên bài viết
của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót. Qua đây, chúng em mong
thầy chỉ bảo để bài viết của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên:
Vũ Thị Kiều Hoa
Trần Thị Hương Giang
Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Nguyễn Thanh Hiền
Nguyễn Thị Hạnh
Lớp Anh 5-TCQTB-K46
MỤC LỤC
thủ tục kê khai nộp thuế tại cửa khẩu, nên còn gọi là thuế quan. Ở những
nước có khu chế xuất, đối tượng đánh thuế gồm cả hàng hóa từ khu chế xuất,
đối tượng đánh thuế gồm cả hàng hóa từ khu chế xuất đưa vào thị trường
trong nước và từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất.
Thuế XNK được tính theo công thức:
Thuế XNK = (Số lượng hàng XNK x Giá tính thuế đơn vị) x Thuế suất
Giá tính thuế đơn vị là giá xuất, giá nhập tại cửa khẩu. Nếu vận
chuyển bằng đường biển là giá FOB, giá CIF. Giá xuất không bao gồm cả
chi phí vận tải và bảo hiểm tới cửa khẩu đến.
Thuế suất là số tiền thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng tính thuế.
Sau khi xác định đối tượng tính thuế là gì ta có thể xác định nội dung, cách
quy định mức thuế suất.
Tiếp đến chúng ta sẽ xem xét tình hình chung về thuế xuất nhập khẩu
Việt Nam những năm trước khi gia nhập WTO.
I/ Thực trạng thuế XNK ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO.
1.Tổng quan:
1.1 Những chính sách của Nhà nước:
Về số lượng hàng nhập khẩu, Nhà nước áp dụng các chính sách hạn
chế định lượng XNK đối với mặt hàng ô tô, các mặt hàng điện tử, điện lạnh,
phân bón, thuốc lá, thực phẩm và các mặt hàng xa xỉ phẩm; cấm nhập khẩu
một số mặt hàng như xe đạp, xe hai bánh, ba bánh gắn máy cũ, các vật tư,
phương tiện đã qua sử dụng. Hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, quần áo,
đồ điện tử, điện lạnh, điện gia dụng, hàng trang trí nội thất, thiết bị y tế, đồ
gia dụng, các sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cũng nằm trong
danh mục hàng cấm nhập. Nhà nước còn quy định hạn ngạch XNK đối với
mặt hàng thuốc lá nguyên liệu, bông, sữa nguyên liệu cô đặc, sữa nguyên
liệu chưa cô đặc, muối, ngô hạt và trứng gia cầm,... Số lượng hàng hóa nhập
khẩu sẽ được điều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân đối giữa nhu cầu và năng
lực sản xuất trong nước. Ngoài ra còn có những quy định về việc cấp phép
nhập khẩu tùy ý đối với một số mặt hàng (đường,…)
với thuế xuất thấp, không có hạn ngạch thì chắc chắn sản phẩm nhập sẽ
tràn lan trên thị trường, các doanh nghiệp trong nước không thể cạnh
tranh nổi và tất yếu đi đến phá sản!
• Thứ tư, nó còn giúp Nhà nước quản lý lượng dự trữ tài nguyên quốc gia
như: than đá, kim loại màu, điện,….
Có thể thấy rõ các chính sách như trên không chỉ đem lại nguồn thu ngân
sách cho nhà nước mà còn bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, phục vụ một
số vấn đề vĩ mô của đất nước. Tuy nhiên, những chính sách này còn quá
nhiều những hạn chế.
• Những mặt hạn chế
• Sơ hở trong chính sách ưu đãi và miễn giảm thuế của
Nhà nước.
Để khuyến khích hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, nhà nước đã
có những chính sách ưu đãi và miễn giảm thuế xuất nhập khẩu. Nhưng
những thiếu sót trong các ưu đãi này đã tạo kẽ hở cho doanh nghiệp lách luật
và gây một số điểm bất bình đẳng.
Một ví dụ là chính sách ân hạn thuế trong Luật thuế XNK có phần hơi
“thông thoáng”. Cụ thể, thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu
là 15 ngày, với nguyên phụ liệu nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu là 275
ngày kể từ ngày ra thông báo nộp thuế. Đây là kẽ hở cho doanh nghiệp cho
những doanh nghiệp nhập khẩu nguyên phụ liệu. Họ có thể bán hết số
nguyên phụ liệu đã nhập về cho thị trường trong nước khi chưa hết hạn nộp
thuế. Sau đó họ giải tán doanh nghiệp để trốn cả thuế tiêu thụ nội địa lẫn
thuế nhập khẩu.
Bên cạnh đó, việc áp dụng nhiều mức thuế khác nhau với các nhãn
sản phẩm khác nhau cũng tạo điều kiện cho việc thừa cơ chuộc lợi của nhiều
công ty. Việc áp thuế cho xe 6 – 9 chỗ ngồi thấp hơn xe từ 6 chỗ trở xuống
làm doanh nghiệp hạn chế nhập xe con vì sợ chịu thuế cao. Hay đơn cử việc
áp dụng Bảng giá tối thiểu tính thuế nhập khẩu cũng dẫn đến doanh nghiệp
nhập hàng giá cao không có trong danh sách bảng giá này để hưởng lợi
nội địa đối với loại hình nhập khẩu đầu tư gia công sản xuất - xuất khẩu để
trốn thuế với số lượng lớn…
Ngoài ra, sự thiếu nhất quán trong quản lý cũng gây khó khăn cho
việc nộp thuế của các doanh nghiệp, khiến cho nguy cơ gian lận thuế càng
tăng. Đơn cử như trường hợp Bảng giá tính thuế tối thiểu nói trên, Tổng cục
Hải quan cho phép: ''Đối với mặt hàng nhập khẩu không có hợp đồng, mặt
hàng nhập khẩu có hợp đồng có trị giá tính thuế ước tính dưới 20 triệu đồng,
thì Cục trưởng uỷ quyền cho Chi cục trưởng ra quyết định xây dựng, sau đó
báo cáo Cục Hải quan tổng hợp ban hành áp dụng thống nhất trong Cục và
báo cáo Tổng cục Hải quan''. Các doanh nghiệp ái ngại không chỉ vì mỗi chi
cục tính giá mỗi khác, mà ngay khi Cục Hải quan tổng hợp từ các chi cục để
ban hành bảng giá áp dụng thống nhất thì cũng không áp dụng hồi tố, các
doanh nghiệp đã đóng thuế rồi thì không được áp mức giá thống nhất ấy.
Việc xây dựng giá cũng tạo kẻ hở cho tiêu cực.
Thêm nữa, nhiều cán bộ hải quan còn thiếu sự nhạy bén và hiểu biết
tường tận về Luật thuế XNK. Điều này dẫn đến không phát hiện được hành
vi gian lận thuế.
1.3.3 Mức thuế suất còn khá cao
Tác động của thuế nhập khẩu đến nền kinh tế
Mức thuế còn khá cao so với nhiều nước trong ASEAN và trên thế
giới. Để bảo vệ sức mạnh của hàng hoá trong nước, nhà nước đã áp dụng
mức thuế cao. Nhưng điều này gây khó khăn cho nhiều mặt hàng nhập khẩu
có nhu cầu lớn.
Có thể xem xét mặt hàng sữa nhập khẩu tại Việt Nam là một ví dụ.
Theo đánh giá của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp
nông thôn, giá sữa bán lẻ ở Việt Nam đứng ở mức cao nhất thế giới. Tính
bình quân cho các nước Bắc Mỹ, châu Đại Dương, Trung Quốc, Israel và
EU là 0,8 USD/kg; các nước thuộc khu vực Đông Âu, Nam Mỹ có mức giá
trung bình thấp nhất là 0,4 USD/kg. Trong khi đó, giá sữa bán lẻ Việt Nam
lại lên đến 0,82 USD/kg.
cải cách theo xu hướng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
• Về cơ chế nhập khẩu:
Chính phủ đã sử dụng những công cụ chính sách thông thường như thuế
quan, côta, cấp giấy phép nhập khẩu.
Thuế quan: Việt Nam đã đạt được những bước cắt giảm thuế quan rất
quan trọng kể từ năm 1996 khi tiến hành gia nhập AFTA. Trong quá trình
hội nhập kinh tế khu vực, Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế quan đối với
5.505 sản phẩm, trong đó có 80% sản phẩm cắt giảm ở mức thuế 0-5% và
20% sản phẩm ở mức thuế trên 5%. Khi hiệp định thương mại Việt - Mỹ
chính thức có hiệu lực, Việt Nam đã cam kết giảm thuế nhập khẩu đối với
244 mặt hàng trong vòng 3-6 năm với mức thuế giảm bình quân từ 35%
xuống còn 26% (trong đó có 80% là sản phẩm nông nghiệp). Cũng theo cam
kết này, Việt Nam đang tiến hành bãi bỏ ưu đãi về thuế nhập khẩu theo tỷ lệ
nội địa hoá và dần dần tháo bỏ việc áp dụng chế độ thu phí và lệ phí liên
quan đến hàng hoá XNK. Tuy nhiên, Việt Nam hiện duy trì thuế suất, thuế
nhập khẩu trung bình đối với hàng nông sản là khoảng 25%, với thuế suất
đỉnh lên đến từ 40% đến 100% áp dụng cho hoa quả tươi, đường kính, ngũ
cốc, rượu vang, bia, thuốc lá... Mà theo quy định của WTO, các nước xin gia
nhập thường phải giảm thuế suất trung bình đối với hàng nông sản xuống
còn khoảng 20%, đối với hàng chế tạo còn 10%.
Hệ thống miễn thuế nhập khẩu hàng hoá cũng được chính phủ áp
dụng, đặc biệt đối với hai loại hàng hoá chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng
hoá trung gian phục vụ sản xuất hoặc các hàng hoá lắp ráp sử dụng để xuất
khẩu. Hệ thống pháp luật phục vụ các hoạt động chế biến xuất khẩu ở Việt
Nam được thành lập năm 1991 thông qua những quy định về việc thành lập
các khu chế xuất. Hệ thống này đang dần dần đưa Việt Nam lại gần với thị
trường thế giới hơn, tránh được sự bóp méo và kiểm soát nhập khẩu như
trước đây. Nhờ đó, hoạt động sản xuất và chế biến xuất khẩu của Việt Nam
trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Các hàng rào phi thuế quan: Chính phủ đã sử dụng một loạt các biện
• Về cơ chế xuất khẩu
Cải cách cơ chế xuất khẩu của nước ta cũng có những thành tích nổi bật
như cải cách hệ thống quản lý nhập khẩu. Hệ thống lập kế hoạch xuất khẩu
trực tiếp mang tính cứng nhắc dần được thay thế bằng những hoạt động phi
tập trung hoá và theo cơ chế thị trường. Xu hướng thờ ơ và không coi trọng
xuất khẩu của hệ thống thương mại trước cải cách dần dần đã được huỷ bỏ
vì chính phủ phi tập trung hoá hoạt động ngoại thương và đưa vào thực hiện
các chính sách tỷ giá hối đoái không đối xử phân biệt với hàng xuất khẩu.
Mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu: Thay đổi quan trọng nhất là mở
rộng quyền kinh doanh thương mại cho hoạt động xuất khẩu. Như trên đã đề
cập, quyền kinh doanh XNK đã được nới lỏng, và ngay cả những mặt hàng
thiết yếu Nhà nước cũng không có chủ trương độc quyền hoàn toàn về kinh
doanh XNK. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế
doanh thu, nếu doanh nghiệp dùng lợi nhuận đầu tư vào sản xuất hàng xuất
khẩu thì được giảm thuế lợi tức. Các doanh nghiệp sản xuất hàng cần thay
thế nhập khẩu được xét giảm thuế doanh thu, thuế lợi tức trong thời gian sản
xuất ban đầu; các doanh nghiệp gia công hàng hoá cho nước ngoài được
nhập khẩu miễn thuế thiết bị vật tư phục vụ sản xuất. Kể từ năm 1998,
những ưu đãi đối với doanh nghiệp xuất khẩu được mở rộng hơn. Theo Nghị
định 57/1998/NĐ-CP Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
phép xuất khẩu những mặt hàng không nêu trong giấy phép đầu tư của mình.
Còn các doanh nghiệp trong nước thì được quyền xuất khẩu sản phẩm trực
tiếp mà không cần có giấy phép XNK.
Tháo dỡ hạn ngạch xuất khẩu: Việt Nam đã dỡ bỏ hạn ngạch đối với
hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, trừ một số mặt hàng thiết yếu đặc biệt là
gạo. Trong Bản ghi nhớ về chế độ ngoại thương nộp cho WTO, gạo là nông
sản duy nhất bị áp dụng hạn ngạch xuất khẩu vì lý do an ninh lương thực
quốc gia. Cùng với đó, cải cách thuế xuất khẩu cũng được thực hiện. Ví dụ,
thuế xuất khẩu đối với gạo đã giảm từ 2%/năm (1997) xuống còn 0%/năm
(1998). Tuy nhiên, là một nước đang phát triển nghèo, Việt Nam không phải
4 nhóm: trợ cấp hộp xanh lơ, trợ cấp hộp xanh lá cây, trợ cấp hộp vàng và
trợ cấp hộp đỏ. Trợ cấp thuộc diện hộp xanh lơ và xanh lá cây là các biện
pháp trợ cấp được phép mà không phải chịu sự điều chỉnh. Trợ cấp hộp vàng
ảnh hưởng đến thương mại, phải ràng buộc và cam kết điều chỉnh. Trợ cấp
hộp đỏ bị cấm và phải loại bỏ khi đã trở thành thành viên chính thức của
WTO. Ở Việt Nam, trợ cấp hộp vàng trước kia được sử dụng để hỗ trợ nông
phẩm thông qua Quỹ bình ổn giá. Gần đây, Quỹ này được đổi tên là Quỹ hỗ
trợ xuất khẩu. Tổng trợ cấp tính gộp hàng năm của Việt Nam trong thời kỳ
1996-1998 là khoảng 1.644,84 tỷ VND. Gạo, đường, thịt lợn, bông, gia súc,
gia cầm, dứa là những đối tượng được hưởng những khoản trợ cấp này. Tuy
nhiên, lượng tiền hỗ trợ này của Việt Nam được WTO coi là thấp, chưa cần
phải cắt giảm trong giai đoạn hiện nay.
Bảng 1: Mức thưởng theo kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng năm 2002
Mặt hàng Mức
thưởng
(đ/USD)
Mặt hàng Mức thưởng
(đ/USD)
Gạo các loại 180 Cà phê nhân 220
Thịt lợn sữa 280 Cà phê hoà tan, cà phê bột 100
Thịt lợn miếng 900 Rau quả hộp 400
Thịt gia súc, gia cầm 100 Rau quả tươi, sấy khô và sơ chế 100
Chè 220 Lạc nhân 100
Hạt tiêu 100 Hạt điều 100
Thủ công mỹ nghệ 100 Hàng mây tre lá 100
Đồ nhựa 100 Hàng cơ khí 100
Việt Nam vẫn đứng trước những khó khăn lớn về thuế XNK cần giải
quyết. Trong chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu, Việt
Nam đã đạt được những kết quả to lớn. Tốc độ tăng trưởng XNK trong giai
đoạn 1991-2000 là 18,4%, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của GDP 2,6 lần.
phức tạp, chồng chéo, khó quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trốn
thuế, lậu thuế. Ngoài ra, việc áp dụng tính giá tính thuế tối thiểu như hiện
nay của Việt Nam chưa phù hợp với những quy định của WTO. Hiện tại,