Mở đầu:
Thuế là 1 trong những công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều hành và
quản lý nền kinh tế . Không những vậy thuế còn là nguồn thu chủ yếu của ngân
sách nhà nước . Vì vậy việc áp dụng chính sách thuế sao cho phù hợp có ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với nền kinh tế .
Trong điều kiện hội nhập kinh tế , hoạt động xuất nhập khẩu ngày đóng vai
trò quan trọng trong đối với nền kinh tế nước ta . Thuế xuất nhập khẩu chiếm tỷ
trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu thuế . Vậy nên việc áp dụng
chính sách thuế xuất nhập khẩu như thế nào là 1 trong những rất đáng được quan
tâm . Trong hoàn cảnh nước ta mới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
chúng ta buộc phải điều chỉnh các chính sách thuế sao cho phù hợp với những
cam kết gia nhập .
Thấy được tầm quan trọng của thuế xuất nhập khẩu cũng như những thay
đổi trong các chính sách thuế trong điều kiện hiện nay . Em thực hiện bài viết
này với tiêu đề : "Chính sách thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong điều
kiện hội nhập" . Với mục đích đưa ra và phân tích chính sách thuế XNK ở Việt
Nam trong điều kiện hội nhập .
1
I.Thuế XNK và tác dụng
Thuế xuất nhập khẩu phát sinh khi có sự chuyển dịch hàng hoá qua cửa
khẩu và khu chế xuất . Đối tượng nộp thuế là tất cả các hàng hoá được phép xuất
nhập khẩu qua biên giới và hàng hoá ngoài thị trường mua bán với khu chế
xuất . Hàng vận chuyển quá cảnh , hàng hoá chuyển khẩu và hàng nhân đạo
không thuộc diện chịu thuế . Thuế XNK thực chất là 1 khoản thu bắt buộc điều
tiết vào giá hàng hoá dịch vụ được trao đổi buôn bán giữa các quốc gia mà chủ
sở hữu chúng phải nộp cho nhà nước
Thuế XNK là 1 trong những biện pháp tài chính mà các nước can thiệp vào
hoạt động ngoại thương . Thuế XNK là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà
nước . Vậy nên thuế XNK trở thành 1 công cụ quan trọng của nhà nước để điều
tiết nền kinh tế . Bằng việc áp dụng chính sách thuế XNK phù hợp , nhà nước có
Để khuyến khích xuất nhập khẩu , đặc biệt đối với việc nhập khẩu hàng
hoá phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu , chính sách thuế XNK còn quy định các
trường hợp được miễn giảm và hoàn lại thuế .
Và trong những năm gần đây thì sự điều chỉnh trong cơ cấu thuế quan là
đáng kể nhất . Thuế suất trung bình ( không gia quyền ) tăng chút ít từ 13,4%
năm 2003 lên 15,7% năm 2006 . Sự gia tăng này kèm theo đó là sự giảm đáng
kể về độ phân tán của từng loại thuế riêng biệt xung quanh thuế suất trung bình ,
hệ số biến thiên giảm từ 131% năm 2003 xuống 116,3% năm 2006 . Cơ cấu thuế
quan năm 2006 chỉ có 15 dòng thuế , so với 35 dòng năm 2005 . Thuế suất tối đa
cũng giảm từ 200% xuống 120% trong giai đoạn này , kèm theo đó là giảm số
dòng thuế nằm ở mức cao nhất của biểu thuế . Cho đến đầu năm 2005 , chỉ có
1,1% tổng số dòng thuế (74/6269) là có thuế suất trên 50% .
Việc giảm độ phân tán của thuế quan vào năm 2005 so với năm 2006 chủ
yếu là do điều chỉnh lại 1 số thuế suất ở mức giữa , theo hướng tăng thuế suất .
Ví dụ , những dòng thuế có thuế suất trong khoảng 12%-28% đã biến mất trong
năm 2006 . Cùng với đó là sự gia tăng những thuế suất 30-50% .
3
Việc phân bổ thuế suất giữa các bảng HS thể hiện tính leo thang trong cơ
cấu thuế của VN , trong đó sản phẩm cuối cùng ( chủ yếu là hàng tiêu dùng ) có
tỷ lệ bảo hộ cao , trong khi hàng trung gian có thuế suất bằng 0 hoặc thuế suất
thấp . Mức thuế suất đặc biệt cao với thực phẩm , nông sản và 1 số hàng tiêu
dùng ( nhất là quần áo , giày dép , sản phẩm sứ và đồ da ) .
Điều quan trọng cần lưu ý là trong khi đánh thuế vào hàng trung gian
thường thấp hơn so với sản phẩm cuối cùng , hàng trung gian nhập khẩu để làm
đầu vào cho nhừng ngành mà VN có lợi thế cạnh tranh xuất khẩu thường cao
hơn nhiều so với những đầu vào cho những ngành cạnh tranh với nhập khẩu . Ví
dụ : sợi để dệt và dệt kim chịu thuế NK là 40% . Hầu hết những mức thuế suất
thấp hoặc bằng 0 áp dụng cho những mặt hàng chủ yếu do khu vực doanh
nghiệp Nhà nước sử dụng làm đầu vào cho sản xuất hàng trung gian hoặc thành
phẩm cho thị trường nội địa .
giặt, sẽ phải giảm thuế suất thuế nhập khẩu từ 50% và 40% hiện hành xuống
40% và 38% ngay khi vào WTO và xuống còn 25% sau 3-5 năm.
Rượu, bia
Hai mặt hàng nhạy cảm là rượu và bia, WTO cho Việt Nam thời gian 3
năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt xuống tương xứng với mức chung
của WTO (chúng ta đã bắt đầu thực hiện lộ trình kể từ 1/12006 theo Luật thuế
tiêu thụ đặc biệt sửa đổi).
Song thuế suất thuế nhập khẩu bia cũng sẽ phải giảm từ mức 80% hiện
hành xuống 65% ngay khi gia nhập WTO, và xuống còn 35% trong vòng 5 năm;
thuế suất thuế nhập khẩu rượu từ mức 65% hiện hành xuống còn 45-50% trong
5-6 năm. Có nghĩa là bia, rượu nhập khẩu sẽ rẻ đi rất đáng kể.
Xe máy, ô tô giá rẻ
Theo Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự (Trưởng đoàn đàm phán
Chính phủ về việc Việt Nam gia nhập WTO) thì Việt Nam sẽ phải cho nhập
khẩu xe máy phân khối lớn từ 175cc trở lên từ ngày 1.6.2007 (hiện nay đang
5