Báo cáo thực tập “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu của cây cà phê Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" - Pdf 19

Báo cáo thực tập
Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất,
đẩy mạnh xuất khẩu của cây cà phê Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
1
1
Mục lục
Chương I:Lời mở đầu 1
Chương II. Nội dung đề tài 2
I. Thực trạng của cây và hạt cà phê của Việt Nam 2
1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê thế giới 2
2. Thực trạng sản xuất- xuất khẩu cà phê của Việt Nam 4
3. Kết và thách thức với xuất khẩu cà phê Việt Nam 12
II. Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất- xuất khẩu cà phê của
Việt Nam 13
1. Các điều kiện tự nhiên 13
2. Điều kiện về kinh tế xã hội 14
IV. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh sản xuất,xuất khẩu
cà phê của Việt Nam 15
1.Phương hướng 15
2. Nâng cao khả năng cạnh tranh 17
3. Giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu cà phê Việt Nam 17
4. Đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã, bao bì, tăng cường các
hoạt động tiếp thị 27
5. Xây dựng các doanh nghiệp cà phê đạt tiêu chuẩn ISO về
quản lý chất lượng sản phẩm. 28
2
2
6. Tăng cường tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Coi
trọng thị trường trong nước, đáp ứng nhu cầu của khách du
lịch. 30

1.1.Tình tình sản xuất
Theo số liệu thống kê cho thấy, thế giới hiện nay có trên 80 nước trồng cà
phê, trong đó có 3 nước châu Phi, 15 nước châu Mỹ, 6 nước châu Đại Dương và
một số nước châu Á.
Hầu hết tập trung vào vùng nhiệt đới. Sản lượng cà phê thế giới năm 1980
là 4.408 triệu tấn, năm 1992 là 5685 triệu tấn, năm 1994 là 5430 triệu tấn. Hiện
nay, tổng diện tích trồng cà phê thế giới vào khoảng trên 10 triệu ha. Năng suất
bình quân 7 tạ/ha.
Sản lượng cà phê thế giới không ngừng tăng lênm tốc độ tăng cũng nhanh
hơn khiến cho giá giảm trong suốt thời gian qua, đến nay giảm mức thấp nhất
trong vòng 30 năm đối với cà phê Robusta và 7 năm với cà phê Arabica.
4
4
Lượng cung tăng bình quân đạt 2,88% trong giai đoạn 1991 – 2001 xét
trong giai đoạn 1995 – 2001 thì tốc độ trang bình quân là 4,01% trong khi lượng
tiêu thụ tăng khoảng 1,5 lần.
Sản lượng trong 2 năm 1999-2000 tăng mạnh do điều kiện thời tiết thuận
lợi làm cho sản lượng xuất khẩu cũng tăng theo. Theo ICO lượng xuất khẩu nhảy
vọt từ 77,3 triệu bao ở vụ 1997/1998 lên 84,3 triệu bao vào vụ 1998/1999.
1.2. Tình hình giá cả.
Cà phê là sản phẩm biến động mạnh về giá cả trên thị trường nông sản thế
giới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến động đó.
Bảng 1: Tình hình biến động giá cả cà phê trên thị trường thế giới trong những
năm gần đây.
Loại Rubusta Mức biến
động hàng
năm(%)
Arabica Mức động
biến động
hàng năm(%)

(tấn)
Tỷ phần
(%)
Nước
Khối lượng
(tấn)
Tỷ phần
(%)
Mỹ 147.000 22,49 Ba Lan 26.700 4,09
Đức 84.300 12,9 Anh 24.500 3,75
Italia 63.800 9,76 Nhật Bản 22.700 3,48
Tây Ban Nha 51.900 7,44 Áo 21.800 3,34
Bỉ 51.500 7,88 Hàn Quốc 17.300 2,56
Pháp 31.500 4,84 Canada 12.900 1,92
Nguồn: Báo cáo của VICOFA
Như vậy, vào thời điểm hiện nay, Mỹ đã vươn lên thành thị trường tiêu thụ
cà phê lớn nhất của Việt Nam, sau đó là Đức và Italia.
Tại châu Á, một số thị trường cũng rất hấp dẫn với cà phê Việt Nam như Nhật
Bản và Trung Quốc. Và cho đến nay, thị trường này đã được khai thác một các
đầy đủ.
6
6
2. Thực trạng sản xuất- xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
2.1. Tình hình sản xuất cà phê của Việt Nam.
2.1.1. Những kết quả được.
Hiện nay cả nước có khoảng 420000 ha cà phê, trong đó cà phê vối chiếm
93,7% tổng sản lượng, chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân chiếm 95%. Hiện nay cà
phê là mặt hàng có kim ngạch thứ 2 sau gạo và có triển vọng trong thế kỉ 21 cà
phê sẽ trở thành mặt hàng có kim ngạch cao nhất trong tất cả các mặt hàng nông
sản

càng cao của khách hàng quốc tế.
Bảng 3: Chất lượng của cà phê xuất khẩu của Việt Nam. (đơn vị :%)
Chất lượng
cà phê
Niên vụ
94-95 95-96 96-97 97-98
Loại 1 ( R1) 2 6 7 16
Loại 2( R2A) 15 45 60 72
Loại 2B(R2B) 80 44 27 5
Tiêu thụ nội bộ 3 5 6 7
Nguồn : vinacontrol
Theo báo cáo của hiệp hội cà phê-cacao Việt Nam(VICOFA) mặc dù sản
lượng cà phê tăng 45,43% song kim ngạnh lại giảm 4,73%. So với các nước xuất
khẩu cà phê thì giá cà phê nước ta giảm là do nguyên nhân như chất lượng cà
8
8
phê nước ta thấp. Ước tính hàng năm thiệt hại do chất lượng cà phê thấp khoảng
trên dưới 50 triệu USD. Đây là một tổn thất lớn với ngành cà phê nước ta.
Hiện nay, Đắc Lắc co tổng diện tích hơn 200 ngàn ha cà phê. Với tổng sản
lượng 260 ngàn tấn/năm. Khoảng 70% diện tích này nằm trong tay nhân dân. Số
còn lại thuộc vào DNNN quản lý nhưng thực tế cũng đều do các hộ nông dân
nhận khoán vườn cây trực tiếp sản xuất và giao nộp sản phẩm. Vì vậy, phần
nhiều cà phê tham gia vào thị trường xuất khẩu đều do chính bàn tay nông dân
đảm nhận. Do tập quán canh tác và nhận thức hiện nay còn mang tính lạc hậu
nên rất nhiều người sản xuất chỉ quan tâm đến sự giao động của giá cả thị
trường. Chất lượng cà phê do người nông dân sản xuất ra thấp nhiều so với tiêu
chẩn xuất khẩu. Những bất ổn trong chất lượng cà phê khiến cho nhiều nhà nhập
khẩu lo ngại và giảm mua cà phê Việt Nam, mặc dù vẫn công nhận hương vị cà
phê Việt Nam thuộc hàng đầu thế giới. Vì vậy, dù các đơn vị nhập khẩu có gia
công chế biến phân loại kỹ chăng nữa thì chỉ là biện pháp nhất thời để có hàng

phủ đã đưa ra nhiều biện pháp cứu ngành cà phê như giãn nợ, cho vay vốn…. Để
cải thiện tình hình trên cần có những giải pháp đúng đắnm toàn diện để nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngành cà phê trên thị trường quốc tế. Trong tình trạng
khủng khoảng thừa, cung vượt quá cầu quá lớn thì chúng ta chỉ có thể tồn tại,
đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nếu sản phẩm cà phê Việt Nam, nếu
ngành cà phê Việt Nam có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế đủ để boả
hộ quyền lợi của ngành trước một thị trường quốc trê phức tạp và đa dạng này.
2.2.2. Những tồn tại và năng lực của Việt Nam với cây cà phê xuất khẩu.
* Cà phê của Việt Nam hiện nay.
Tin từ bộ NN&PTNN, tháng 8/2006, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm
cả nước đạt 640 triệu $, đưa giá trị xuất khẩu tháng 8 lên 4,8 tỉ, tăng 24,3% so
với cùng kì năm 2005. Trong đó mặt hàng nông lâm sản đạt kim ngạch 3,4 tỉ $
10
10
( tăng 25%). Nhiều mặt hàng đang trên đà tăng trưởng mạnh về lượng xuất khẩu
và giá trị như cà phê tăng tương ứng 7% và 56% đạt 727 triệu $. Chất lượng là
yếu tố cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh, nhất là Việt Nam đã gia nhập WTO.
Việt Nam là nước có sản lượng cà phê đứng thứ 2 thế giới nhưng kim ngạch xuất
khẩu chỉ đứng thứ 5. Đó là do đâu ? Câu hỏi đạt ra cần phải trả lời một cách
thẳng thắn. Chất lượng là yếu tố cực kì quan trọng trong cạnh tranh. Theo báo
cáo của Bộ NN&PTNT, cả nước hiện nay có khoảng 500000 ha cà phê, trong đó
riêng vùng Tây Nguyên đã có hơn 434000 ha. Năm 2005 nước ta xuất khẩu đặ
được 803647 tấn cà phê nhân, ước giá 789,2$/tấn, đạt kim ngạch trên 643,2 triệu
$. Sáu tháng cuối năm 2006, xuất khẩu đạt được 425073 tấn cà phê nhân, giảm
6% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 479,9 triệu $,
tăng 4% so với cùng kỳ. Đó là tín hiệu đáng mừng, nó cho thấy được những cải
tiến của ngành cà phê nói riêng và ngành kinh tế nói chung. Nó đã đem lại thu
nhập không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, vẫn có khả năng xảy ra tình trạng khan hiếm hàng và giá cà phê tiếp
tục tăng cao trước khi thu hoạch vào tháng 10/2006.

để tăng sản lượng xuất khẩu trong thời gian tới nhằm đem lại lợi nhuận lớn nhất,
đưa ngành cà phê phát triển mạnh hơn.
• Năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam.
- Chi phí sản xuất.
Việt Nam là một nước có lợi thế về chi phí nhân công => chi phí sản xuất
thấp.
- Cà phê xuất khẩu, loại hình sản phẩm.
12
12
Nước ta hàng năm xuất khẩu trên dưới 10 triệu bao cà phê, chủ yếu là cà phê
Robusta, được xuất dưới dạng nhân sống. Ngoài ra cũng có một lượng nhỏ cà
phê Arbica và các loại cà phê chế biến như cà phê xay, hoà tan.
Tính ra mỗi tấn cà phê hoà tan xuất khẩu được 3461$/tấn. Bình quân giá cà
phê vụ đó là 436,6$/tấn, giá cà phê hoà tan gần bằng 8 lần giá cà phê nhân
sống. Theo ICO tỷ lệ quy đổi 1 tấn cà phê hoà tan tương đương vói 2,6 tấn cà
phê nhân sống. Giá trị 1 tấn cà phê nhân chế biến thành cà phê hoà tan là
1221,2$ so với giá cà phê nhân xuất khẩu qua chế biến thì giá trị đã tăng lên
trên 3 lần (341%)
- chủng loại cà phê còn khá đơn điệu, không phong phú hấp dẫn.
Trước hết là tỉ lệ cà phê Arabica và Robusta chưa hợp lý. Trong khi nước
ta có nhiều vùng khí hậu sản xuất được cà phê Arabica có giá trị cao hơn
nhưng sản phẩm của ta hầu hết là cà phê Robusta giá trị thấp hơn.
- Chất lượng cà phê chưa cao, còn nhiều chỗ yếu.
Việc chế biến chưa được coi trọng hợp lý, làm giảm nhiều chất lượng cà
phê. Khách hàng châu Âu thường khiếu lại những nhà xuất khẩu cà phê Việt
Nam. Về những đặc điểm:
+ Độ ẩm quá cao.
+ Tạp chất quá nhiều.
+ Không đồng đều giữa những lô hàng.
Như vậy, với những chỉ tiêu chất lượng rất đơn giản theo hợp đồng chỉ với 3

làm nhiều người trồng cà phê thua lỗ và nhiều doanh nghiệp cũng tạm ngừng
mua hàng và xuất khẩu tiếp sẽ thua lỗ.
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu cà phê 950 triệu $. Trung tâm thông tin
thương mại cho biết, sau khi giảm nhẹ vào tháng 10, từ đầu tháng 11 đến nay,
giá xuất khẩu đã tăng, loại 2 được giao dịch ở mức 1425-1430 $/tấn. Như vây,
14
14
giá xuất khẩu cà phê của nước ta đã bám rất sát thế giới. So với mức chênh
lệch có lúc lên đến trên 1400$/tấn hồi tháng 8, trên thị trường nội địa, giá mua
cà phê nhìn chung vẫn ổn định. Theo dự báo, xuất khẩu cà phê Việt Nam năm
2006 sẽ đạt mức kim ngạch 950 triệu$, tăng trên 50% so với năm 2005. Đây
là năm giá cà phê trở lại thời kì hoàng kim. Với mức tăng giá bình quân cao
thứ 2 sau cao su, tăng tới 46,8%( tương ứng khoảng 370$/tấn) so với cùng kỳ
năm trước
- Thách thức với xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Trong vòng 20 năm trở lại đây, ngành cà phê đã có bước phát triển nhanh
tróng. Đưa lượng cà phê tăng lên hàng trăm lần. Nguyên nhân chính dẫn đến
thành tựu đó trước hết là nhờ những chính sách đổi mới của nhà nước phù
hợp với nguyện vọng của nông dân là làm giàu trên mảnh đất của mình.
Nguyên nhân khách quan: Đó là giá cà phê trên thị trường thế giới những
năm gần đây diễn biến theo chiều hướng có lợi cho người sản xuất.
Mặt trái của tác dụng đó là dẫn đến sự phát triển vượt quá các mục tiêu kế
hoạch, ngoài tầm kiểm soát của ngành cà phê. Cả nước đã lên đến 520000 ha
với sản lượng 850000 tấn. Đây là con số gây bất ngờ. Nó góp phần đáng kế
vào cung cấp dư thừa cà phê trên thị trường, đẩy giá cà phê xuống thấp.
Trong đó, ngành cà phê Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi vì sản lượng càng lớn
càng thua lỗ nhiều.
Vậy thách thức với ngành cà phê đó là làm sao cân đối giữa lượng cung và
lượng cầu, bình ổn giá cả, phát triển cây cà phê trở thành thế mạnh của Việt
Nam, tạo niềm tin cho người trồng cà phê Việt Nam.

thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Điều đó tạo ra thuận lợi
16
16
khi tham gia vào thị trường quốc tế, tạo điều kiện cho xuất khẩu cà phê
được thuận lợi từ đó có thể phát triển ngành cà phê đem lại thu nhập lớn
cho nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh thuận lợi đó thì thách thức và khó
khăn của ngành cà phê Việt Nam cũng không nhỏ đó là những mặt hàng
còn yếu khi tham gia vào thị trường thế giới như : chất lượng chưa cao,
chưa có thương hiệu, marketing, quảng cáo còn kém. Đó gây ra thiệt hại
không nhỏ cho ngành cà phê. Vấn đề đạt ra là chúng ta phải phát huy
những thế mạnh của mình, từng bước khắc phục những hạn chế, nếu làm
được điều đó chúng ta có thể tin tưởng rằng cà phê Việt Nam sẽ là một
ngành phát triển mạnh với thương hiệu lớn trong thị trường quốc tế.
IV. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh sản
xuất,xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
1. Phương hướng.
1.1. Phát triển sản xuất phù hợp với điều kiện vùng và chất lượng ổn
định.
Trong điều kiện hiện nay, phương thức sản xuất và các sản xuất, chế
biến với ngành cà phê là hết sức quan trọng và đây là vấn đền bức thiết
hiện nay, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và sản lượng cà phê, giá
trị xuất khẩu. Vì vậy, phương thức sản xuất phù hợp là rất quan trọng với
ngành sản xuất nói chung và cà phê nói riêng. Chất lượng cũng vậy, nó có
vai trò vô cùng to lớn trong tiêu thụ, xuất khẩu. nâng cao giá trị sản phẩm.
Chất lượng được coi là yếu tố hàng đầu của cạnh tranh và là chìa khoá của
thành công. Vì vậy, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt
Nam có nghĩa là chúng ta phải nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tạo
17
17
lòng tin, thương hiệu ở khách hàng từ đó chúng ta có thể đưa cà phê Việt

được khai thác. Cùng với sự phát triển của xã hội thị nhu cầu giao lưu, du
lịch ngày càng nhiều. Hàng năm có hàng triệu lượt du khách du lịch vào
nước ta. Đây là cơ hội lớn cho chúng ta quảng bá sản phẩm của mình. Đây
cũng là cơ hội để chúng ta tăng lượng tiêu thụ trong nước. Chính vì lẽ đó
mà trong giai đoạn hiện nay, ngành cà phê cần phối hợp vơi các ngành có
liên quan nhằm nâng cao uy tín, tạo cơ hội để ngành cà phê có thể tiếp cận
với khách hàng quốc tế một cách dễ dàng hơn.
2.6. Xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) để phù hợp với
xuất khẩu, xu thế hội nhập, nâng cao năng lực cạnh trạnh.
Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đã là một thành viên của nhiều
tổ chức lớn như : APEC, WTO, ASEAN…, Đó cũng là cơ hội và cũng là
thách thức với nhiều ngành hàng Việt Nam khi tham gia vào thị trường và
ngành cà phê cũng không nằm ngoài số đó.
Đối với việc gia nhập thị trường đó thì chất lượng được coi là yếu tố hàng
đầu trong năng lực cạnh tranh. Vì vậy, chúng ta cần chú trọng tới chất
lượng, như xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, quảng bá sản
phẩm để cà phê Việt Nam có đủ sức đứng vững trong thị trường đầy tiềm
năng.
3. Giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu cà phê Việt Nam.
3.1. Áp dụng những biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm trong sản
xuất.
+ Củng cố và cải tạo giống cà phê hiện có.
19
19
Chất lượng cà phê trước hết phụ thuộc vào giống cây cà phê, vì vậy muốn
nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu thì công tác giống là biện pháp quan
trọng hàng đầu. Trong thời gian do quá chú trọng vào việc nâng cao năng
xuất và sản lượng người sản xuất đã không chọn lọc kĩ giống trước khi
đem trồng. Kết quả cho thấy hiện nay chúng đang có những vườn cà phê
có năng suất cao, song chất lượng lại thấp không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.

Như vậy, chọn và lai tạo giống là một trong những biện pháp quan trọng
để nâng cao chất lượng cà phê. Có thể coi đây là khâu quan trọng đầu tiên
trong nâng cao tổng sản lượng và chất lượng cà phê xuất khẩu. Hiện nay
có tới 29 loại cà phê kháng bệnh cao đã và đang được theo dõi và lựa chọn
đưa vào sản xuất. Việc tuyển chọn và lai tạo giống không những đòi hỏi
khắt khe về năng xuất và sản lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi giống phải
mang những đặc tính di truyền tốt. Vì vậy cần phải tăng cường đầu tư và
phối hợp với viện nghiên cứu Eakmat, với các trung tâm nghiên cứu tốt
trong điều kiện khí hậu nước ta góp phần tăng sản lượng cà phê trong thời
gian tới.
+ Đẩy mạnh thâm canh với diện tích cà phê hiện có.
Trong thập kỉ 80 và đầu thập niên 90 việc mở rộng diện tích cây cà phê
diễn ra ồ ạt. Cũng có lúc chúng ta phải mở rộng diện tích gieo trồng lại lo
lắng đầu tư thâm canh trong điều kiện hạn chế về vốn. Vì vậy trình độ
thâm canh còn thấp. Năng suất cà phê không đồng đều và chưa cao so với
khả năng thực tế. Chính vì vậy, phải đánh giá lại chất lượng vườn cây hiện
có, thanh lý những diện tích vườn cây kém hiệu quả, tập trung đầu tư vào
vườn cây có hiệu quả cao để nâng cao năng suât và chất lượng sản phẩm.
Về hướng đầu tư thâm canh trong thời gian tới cần tập trung vào những
vấn đề cơ bản sau:
21
21
+ Tập trung giải quyết vấn đề phân bón cho thâm canh, phải kết hợp trồng
trọt với chăn nuôi để bổ xung thêm nguồn phân xanh, tăng cường sản xuất
và nhập khầu phân vô cơ, chú ý mở rộng hệ thống dịnh vụ kịp thời đáp
ứng yêu cầu phân bón cho thâm canh cà phê, sử dụng kỹ thuật tiên tiến
bảo đảm cho cây cà phê phát triển tốt, tiết kiệm và sử dụng phân bón hóa
học thuốc trừ sâu.
+ Tập trung giải quyết vấn đề nước tưới cho cây cà phê. Đảm bảo biện
pháp tưới nước vừa tiết kiệm nguồn nước sạch, bảo vệ môi trường vừa

quá nhiền, lạm dụng chất kích thích, bón phân quá nhiều… để thúc đẩy ra
hoa quả nhiều để có năng suất cao tromg một vài năm nhưng sau đó vườn
cây lại tróng lụy tàn cho hiệu quả kinh tế kém. Vài năm gần đây khi giá cà
phê còn ở mức cao cộng với giá vật tư ở mức thấp nên việc bón phân, chất
kích thích nhiều hầu như đã trở thành lệ với các hộ trồng cà phê ở một số
vùng. Đây là tiền lệ rất nguy hiểm bởi khi giá cà phê xuống thấp mà vẫn
bón phân như vậy thì tất yếu làm giá thành sản phẩm cà phê nâng cao một
cách tương đối so với thị trường.
+ Tích cực phát triển cà phê chè, ổn định cà phê vối.
Nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển cà phê vối và cà phê chè có
năng suất và chất lượng cao. Những điều kiện đó đã tạo cho Việt Nam một
lợi thế so sánh: có thể sản xuất cà phê hàng hoá có chất lượng cao và giá
thành hạ để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Mặt khác cũng phải thấy
rằng thị trường cà phê quốc tế không phải đã ổn định. Nhu cầu tiêu dùng
cà phê vẫn tăng lên hàng năm, nhiều thị trường mới được khôi phục và mở
rộng. Tuy giá cà phê đã giảm xuống trong 2 năm trở lại đây song giá cà
phê chè lại không có xu hướng giảm mạnh như cà phê vối, còn các nước
sản xuất cà phê thì điều kiện thời tíêt khí hậu không bình thường và nhiều
23
23
nguyên nhân khác cũng gây lên khó khăn trong cung ứng cà phê chè. Vì
vậy nước ta có thể và cần phải mở rộng thêm diện tích cà phê chè. Năm
2001 nước ta có khoảng 550000 ha cà phê trong đó có khoảng 100000 ha
cà phê chè, tổng sản lượng là 850000 tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng
1,2 tỉ $. Theo hướng này công tác quy hoạch khảo sát thiết kế các vùng
trồng mới phải được tiến hành trước một bước và bố trí các mô hình sản
xuất thực nghiệm nhằm xác đinhj cơ cấu phù hợp. Thực hành khuyến
nông giúp cho nông dân làm quen dần tiến tới nắm chắc các vấn đề kinh tế
và kĩ thuật sản xuất cà phê chè. Đối với cà phê vối, cần ổn định diện tích
hiện có ở Tây Nguyên, không mở rộng diện tích trồng mới trong thập niên

có sự phối hợp nghiên cứu và thực hiện đồng thời các yếu tố liên quan ở
trên.
• Nguyên liệu chế biến:
Để nguyên liệu đạt tiêu chuẩn cần có những biện pháp sau:
Quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, có điều kiện phù hợp với sinh
trưởng của cây cà phê.
Vùng nguyên liệu phải được thâm canh cao, chọn lọc giống tốt, chất lượng
đồng đều để đáp ứng nhu cầu của thị trường và công nghiệp chế biến.
Hướng dẫn nông dân kỹ thuật thu hái và sơ chế bảo quan và phương thức
vận chuyển để giảm thiểu tổn thất về số lượng cũng như chất lượng sản
phẩm dành cho chế biến.
Tạo mối liên kết giữa người nông dân và công nhân, quá trình trồng và chế
biến cà phê trong các tổ chức hợp tác nhằm điều hoà loại ích các bên. Từ
đó tạo vùng nguyên liệu vững chắc phát triển ổn định lâu dài đảm bảo cho
25
25

Trích đoạn Xây dựng các doanh nghiệp cà phê đạt tiêu chuẩn ISO về
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status