ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ NGA PHƯỢNG
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2010
1
MỤC LỤC
Trang
16
1.2.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết
việc làm
19
1.2.1.
Đảm bảo quyền và nghĩa vụ lao động của công dân
20
1.2.2.
Nhà nước thống nhất quản lý về việc làm và giải quyết việc làm
21
1.2.3.
Cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động
21
1.2.4.
Bình đẳng trong lĩnh vực việc làm
22
1.2.5.
Ưu đãi một số đối tượng đặc thù
23
1.2.6.
Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo
ra việc làm
23
1.3.
Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật về việc làm
và giải quyết việc làm ở Việt Nam
24
1.3.1.
Pháp luật về giải quyết việc làm thời kỳ trước khi có Bộ luật Lao
49
2.2.2.
Về trách nhiệm giải quyết việc làm của người sử dụng lao động
61
2.2.3.
Giải quyết việc làm cho lao động dặc thù
70
2.2.3.1.
Đối với lao động nữ
71
2
2.2.3.2.
Đối với lao động là người tàn tật
76
2.2.4.
Thực trạng pháp luật về tổ chức giới thiệu việc làm
81
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC
LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ HỘI NHẬP
88
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm ở Việt Nam
88
3.2.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải
quyết việc làm ở Việt Nam
xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 đã được thông qua tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để
phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã
hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân".
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã xác định rõ: "Phát
triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu
lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và
tìm việc làm".
Trong những năm qua, các cơ chế, chính sách về lao động - việc làm
được kịp thời đánh giá, bổ sung và sửa đổi bảo đảm ngày càng thông thoáng,
phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập, đảm bảo quyền và lợi ích của
người lao động, người sử dụng lao động và tuân thủ các quy luật kinh tế thị
trường. Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về lao động - việc làm ngày
càng hoàn thiện, nhiều luật mới ra đời và đi vào cuộc sống, nhiều văn bản
hướng dẫn được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện thể chế, tạo hành lang
pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm. Nhằm hạn chế
những tác động tiêu cực của thị trường, Nhà nước đã ban hành các chính sách
4
cho nhóm lao động yếu thế, góp phần hỗ trợ người lao động tạo việc làm,
nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Hòa theo xu thế chung của thời đại, Việt Nam đã gia nhập và chính
thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hội
nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh các cơ hội, chúng ta cũng phải đối mặt với
những thách thức to lớn tác động tới việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc làm và giải quyết
việc làm, đã có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này, nhưng hiện nay chưa có
công trình nghiên cứu khoa học nào khái lược một cách hệ thống, cơ bản về
pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập,
việc làm, đã có nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc
độ, khía cạnh. Dưới góc độ pháp luật thì cho đến nay đã có một số tác giả
công bố các tác phẩm khoa học nghiên cứu một vấn đề, khía cạnh, bộ phận
hay một số quy định pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm chẳng hạn như
TS. Lê Thị Hoài Thu, "Vấn đề xây dựng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở
Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2002; PGS.TS Phạm Công
Trứ, "Một số vấn đề pháp lý về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam",
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, 2003; ThS. Bùi Thị Kim Ngân, "Hướng
hoàn thiện những quy định của pháp luật về lao động nữ", Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 3, 2004; Phạm Kim Nhuận, "Quản lý cho vay Quỹ quốc gia hỗ trợ
việc làm của Ngân hàng chính sách xã hội và những kiến nghị", Tạp chí Lao
động Xã hội, số 265, 2005; TS Nguyễn Hữu Chí, "Quỹ bảo hiểm xã hội và
một số vấn đề về bảo toàn, phát triển Quỹ bảo hiểm xã hội", Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 6, 2006; TS. Nguyễn Hữu Chí, "Vai trò của Nhà nước
trong lĩnh vực giải quyết việc làm", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1, 2006;
ThS. Phạm Trọng Nghĩa, "Pháp luật lao động trong quá trình toàn cầu hóa",
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11(135), 2008; TS. Lưu Bình Nhưỡng,
"Thực tiễn áp dụng Bộ luật Lao động và hướng hoàn thiện pháp luật lao
động", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5(142), 2009; TS. Phạm Đình Thành,
"Việc làm và chính sách thị trường lao động", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 2B
6
và 3A, 2009; Nguyễn Thị Thúy Vân, "Vấn đề lao động mất việc làm và chính
sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay", Tạp chí Quản lý nhà nước, số
174, 2010; PGS.TS Phạm Công Trứ, "Cơ chế ba bên ở Việt Nam: Những ghi
nhận về mặt pháp lý", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9, 2010,
Nhìn chung, để có góc nhìn tương đối khái quát, hệ thống và chi tiết
về chính sách việc làm và giải quyết việc làm nói chung, pháp luật lao động
về việc làm và giải quyết việc làm nói riêng, nhất là đi sâu phân tích một số
vấn đề nổi bật để có phương hướng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hội nhập, đòi
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận cho việc
nghiên cứu. Hơn nữa trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các
phương pháp cụ thể khác như: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối
chiếu để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về
việc làm và giải quyết việc làm, đặc biệt là các quy định của pháp luật lao
động về việc làm và giải quyết việc làm của Việt Nam, trên cơ sở tham khảo
pháp luật lao động của một số nước trên thế giới. Với các nội dung cụ thể của
pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm, theo tác giả sẽ còn được nghiên
cứu trong những công trình khoa học tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Cách tiếp cận của đề tài và hướng nghiên cứu của đề tài có những
đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm, nhất là trong thời kỳ hội nhập.
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ và nghiên
cứu cho sinh viên, học sinh.
8
- Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
các nhà nghiên cứu, những nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm.
Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về việc làm và
giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về việc làm và
giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập.
điều tiết thị trường lao động trong nước, khu vực và trên thế giới.
Hiện nay, trên thế giới, có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm, tùy
theo các cách tiếp cận khác nhau:
Hiểu theo nghĩa thông thường thì việc làm là công việc được giao cho
làm và được trả công.
10
Dưới góc độ quan hệ sản xuất không phụ thuộc vào mục đích việc làm
thì "việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có sự kết hợp giữa cá nhân
người lao động với các phương tiện sản xuất" - Theo Gôrêlốp.
Nếu chú trọng mục đích của việc làm thì việc làm luôn gắn với tiền
lương do vậy việc làm được định nghĩa "như một tình trạng trong đó có sự trả
công bằng tiền hoặc hiện vật do có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân
và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất" - Theo Giang Mute.
Theo Guy Hân-tơn: "Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt
động kinh tế xã hội; nghĩa là tất cả những gì liên hệ đến cách thức kiếm sống
của con người kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành
khuôn khổ của quá trình kinh tế" [38].
Chính vì vai trò và tính chất phức tạp của vấn đề việc làm mà tại hội
nghị thống kê lao động quốc tế lần thứ 8 năm 1945 ở Giơnevơ và trong
khuyến nghị về thống kê lao động quốc tế năm 1975, vấn đề việc làm đã được
đưa ra. Nhưng người ta chỉ định nghĩa về người có việc làm, đó là những
người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người đang làm một việc được trả công trong một thời gian ngắn, có
thể là một tuần lễ, một ngày.
- Người đã có chỗ làm việc nhưng có thời gian không đi làm, tạm thời
vắng mặt trong một thời gian nhất định do ốm đau, tai nạn, tạm nghỉ việc do
tranh chấp lao động hoặc các lý do khác.
Hiện nay, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì khái niệm việc
làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc
việc và được tham gia vào quá trình ra các quyết định liên quan đến điều kiện
làm việc). Theo chúng tôi, đây là một khái niệm rất cần thiết để Việt Nam
tham khảo và hướng đến.
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 Bộ luật
Lao động như sau: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".
12
Như vậy, dù được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau, nhưng có thể
thấy khái niệm việc làm bao gồm hai nội dung có tính điều kiện:
Nội dung thứ nhất đề cập việc làm là hoạt động lao động của con
người tạo ra nguồn thu nhập (điều kiện cần). Các hoạt động này thể hiện việc
làm luôn luôn gắn với thu nhập. Những hoạt động không mang lại thu nhập
thì không được coi là việc làm. Việc làm phải được coi là một phương kế
kiếm sống, là một hoạt động mà qua đó người ta được trả công (bằng tiền
hoặc hiện vật) và sống nhờ vào khoản tiền đó.
Nội dung thứ hai đề cập hoạt động ấy không bị pháp luật cấm (điều
kiện đủ). Nếu hoạt động lao động chỉ thỏa mãn điều kiện thứ nhất, thì dưới
góc độ pháp lý vẫn chưa đủ để coi là việc làm. Có những hoạt động tuy tạo ra
thu nhập, thậm chí rất cao nhưng không được coi là việc làm vì vi phạm điều
kiện thứ hai này như hoạt động buôn bán ma túy, chế tạo, buôn bán pháo
Đây là một quan niệm mới về việc làm so với thời kỳ bao cấp của Việt
Nam trước đây. Việc quy định khái niệm về việc làm theo Điều 13 Bộ luật
Lao động đã làm thay đổi một cách căn bản vấn đề nhận thức về việc làm:
trước đây người ta cho rằng chỉ có làm việc trong khu vực nhà nước, khu vực
kinh tế tập thể mới được gọi là có việc làm, không thừa nhận là có việc làm khi
hoạt động ở các lĩnh vực khác; nhưng đến nay, với quan niệm này thì người lao
động đã đứng vào vị trí trung tâm, năng động và chủ động tự tạo việc làm cho
mình và cho người khác, ở tất cả các thành phần kinh tế, không thụ động, trông
chờ ỷ lại vào sự bố trí việc làm của Nhà nước. Do vậy, căn cứ vào trong tình
trạng toàn bộ số người có khả năng lao động, ở độ tuổi do pháp luật quy định
mà không có việc làm hoặc đang tìm việc làm mà không có thu nhập nên Nhà
nước phải có chính sách hỗ trợ" [60]. Với cách tiếp cận này, trong pháp luật
nên thể hiện quan điểm thất nghiệp là "hiện tượng những người lao động bị
mất việc làm, có nhu cầu lao động và đang tích cực tìm việc" [60]. Trong khái
niệm thất nghiệp, cũng cần lưu ý có các loại đối tượng chưa làm việc bao giờ
(thanh niên mới bước vào tuổi lao động nhưng chưa có việc làm) và mất việc,
chờ lao động, lao động dư thừa
14
Khái niệm thiếu việc làm theo Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung
được hiểu là: trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là
"tình trạng có việc làm, nhưng do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của
người lao động, họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm
những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm
bổ sung" [17].
Dưới giác độ của thị trường lao động, khái niệm người thất nghiệp
được định nghĩa rất khác nhau ở mỗi nước. Theo chúng tôi, dưới góc độ pháp
lý, "Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động,
hiện đang không có việc làm và đang đi tìm việc làm" [60]. Mặt khác, cũng
cần phân biệt giữa người không làm việc và người thất nghiệp. Về vấn đề này,
chúng tôi tán thành với ý kiến của Đỗ Năng Khánh: khái niệm "người không
làm việc" rộng hơn khái niệm "người thất nghiệp". Trong số người không làm
việc có thể bao gồm cả người thất nghiệp. Người không làm việc bao gồm cả
những người có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động nhưng lại không có
nhu cầu tìm việc làm.
Cũng cần lưu ý rằng, khi phân tích những khái niệm trên, chúng ta
mới chỉ tính đến đối tượng nằm trong lực lượng lao động và trong độ tuổi lao
động. Theo kinh nghiệm của thế giới, để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
mỗi quốc gia phải lập sơ đồ lực lượng lao động riêng của mình. Việt Nam có
như khả năng quản lý, thị trường Thực tế cho thấy khi không có thị trường
hoặc trình độ quản lý yếu kém thì nhiều việc làm được tạo ra nhưng không
duy trì được. Do vậy, tạo việc làm là một quá trình mà trong đó, việc tạo ra
chỗ làm việc và thu hút lao động vào làm việc mới chỉ là khâu đầu tiên của
quá trình đó.
Chính vì vậy, để có thể khái quát một cách đầy đủ về tạo việc làm cần
phải hiểu tạo việc làm là một quá trình mà làm sao để kết hợp được hai yếu tố
về sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là phải tạo ra được những điều kiện
cần thiết để hai yếu tố này phù hợp với nhau và tạo điều kiện cho nhau phát
triển, ở đây bao gồm các hoạt động:
16
Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất: số lượng và chất
lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và tiến bộ khoa học kỹ thuật
áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản
xuất đó.
Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động: Số lượng của lao
động phụ thuộc vào quy mô của dân số, các quy định về độ tuổi lao động và
sự di chuyển của lao động. Chất lượng của lao động phụ thuộc vào sự phát
triển về y tế, thể thao và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Ba là, hình thành môi trường thuận lợi cho sự kết hợp của hai yếu tố
sức lao động và tư liệu sản xuất. Môi trường cho sự kết hợp hai yếu tố này
bao gồm hệ thống các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách khuyến
khích, thu hút người lao động, chính sách bảo hộ sản xuất, chính sách thất
nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư v.v
Bốn là, thực hiện các các giải pháp nhằm duy trì việc làm ổn định và
có hiệu quả cao. Các giải pháp có thể kể tới trong nhóm này là các giải pháp
về quản lý điều hành, về thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất,
các biện pháp khai thác có hiệu quả các nguồn lực, duy trì và nâng cao chất
lượng của sức lao động, kinh nghiệm quản lý của người sử dụng lao động
tiêu hàng đầu là sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội. Song xét về mặt xã
hội, đối tượng giải quyết việc làm mà chúng ta cần đặc biệt quan tâm chính là
những người lao động do hậu quả của lựa chọn và áp dụng công nghệ tầng
cao gây nên (lao động dôi dư, bị sa thải, rơi vào tình cảnh thất nghiệp) và
những người chưa có việc làm, cũng như hiệu quả việc làm kém, thu nhập
thấp. Tức là nhấn mạnh tính chất xã hội, khía cạnh xã hội của nó, để không
dẫn đến những điểm nóng, điểm gay cấn về mặt xã hội.
Từ sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu khái quát về giải quyết việc làm
như sau: Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm
cho mọi người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có nhu cầu
tìm việc làm với mức tiền công thịnh hành trên thị trường đều có cơ hội làm việc.
18
1.1.2. Tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề quan trọng
đối với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Giải quyết việc làm cho người lao
động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử
dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể
chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu
vực và thế giới.
Về mặt kinh tế, việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề được đặt ra ở
nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Điều này không
chỉ có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và
thất nghiệp mà quan trọng hơn, nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế. Xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn rất chặt với nghèo đói. Tỷ lệ thất
nghiệp cao không những gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế mà còn gây khó
khăn cho cuộc sống cá nhân người lao động.
Những người thất nghiệp tuy không sản xuất ra sản phẩm, nhưng vẫn
phải tiêu dùng một lượng hàng hóa nhất định, đặc biệt ở độ tuổi trưởng thành,
muốn làm việc, đó là nhu cầu chính đáng và cũng là quyền lợi của người lao
động. Chính vì vậy, giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động có ý nghĩ
rất lớn đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Khi Chính phủ có chính sách tạo việc làm thỏa đáng, điều đó sẽ đem
đến sự công bằng trong xã hội, tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động. Khi
mà mọi người lao động có thu nhập, họ không phải lo ăn bám, hạn chế được
sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội có thể giảm bớt. Ngược lại, nếu không
giải quyết tốt việc làm cho người lao động, hiện tượng thất nghiệp và thiếu
việc làm sẽ tăng lên. Điều này luôn gắn liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội
như cờ bạc, trộm cắp, ma túy làm rối loạn trật tự an ninh xã hội, tha hóa
nhân phẩm người lao động. Thất nghiệp ở mức cao còn gây ra sự bất ổn định
về kinh tế và chính trị, có khi nó còn là tác nhân gây ra sự sụp đổ của cả một
thể chế, làm mất niềm tin của người dân đối với Nhà nước và các chính Đảng.
20
Giải quyết việc làm gắn liền với quá trình phân công lao động theo
ngành và theo lãnh thổ. Nếu như không có các biện pháp tạo mở việc làm hợp
lý cho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị
để tìm việc làm, gây sức ép cho khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà
cửa, điện nước, y tế, thậm chí gây ra cả những rối loạn về mặt xã hội.
Giải quyết việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả những vấn đề
liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động.
Trên giác độ này, giải quyết việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn
lao động nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường, đồng thời xây dựng
nguồn lực lâu dài cho đất nước.
Về mặt pháp lý, vấn đề việc làm gắn liền với chế độ lao động, quan hệ
việc làm được coi là quan hệ "tiền quan hệ lao động" và đóng vai trò quyết
định cho việc hình thành, phát triển và ổn định quan hệ lao động. Nếu nhìn
nhận việc làm và giải quyết việc làm là một nhánh trong hệ thống lao động xã
hội thì sự ra đời của chế định này làm cho quyền được làm việc của con người
triệt để tiềm năng của con người. Mọi người có sức lao động đều có quyền có
việc làm, có quyền tiến hành bất cứ hoạt động nào mà tạo ra thu nhập cho bản
thân và gia đình với điều kiện hoạt động đó là hợp pháp, phù hợp với nguyên
tắc: "Công dân có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm". Với ý nghĩa
đó, pháp luật về giải quyết việc làm tạo ra hành lang pháp lý làm cơ sở cho
Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội tiến hành các biện pháp giải
quyết việc làm, tạo thu nhập nâng cao đời sống cho người lao động, xây dựng
và phát triển quốc gia. Rõ ràng, việc làm và giải quyết việc làm là một trong
những cơ sở đầu tiên làm phát sinh các vấn đề pháp lý có liên quan tới quan
hệ lao động.
1.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết
việc làm
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc
làm được hiểu là những phương hướng, tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt và chi
phối toàn bộ hệ thống các quy phạm về việc làm và giải quyết việc làm.
22
Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm đã và đang tồn tại ở nhiều
quốc gia. Mục tiêu của giải quyết việc làm ở các nước nhìn chung đều giống
nhau: chống thất nghiệp, tăng thu nhập, sử dụng tối đa tiềm năng xã hội, nâng
cao đời sống và tăng trưởng kinh tế.
Để quy định và điều chỉnh lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm,
pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm cần phải áp dụng và
tuân thủ một số nguyên tắc sau đây.
1.2.1. Đảm bảo quyền và nghĩa vụ lao động của công dân
Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải bảo đảm mọi người
đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và
nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân
tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự
tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất,
dụng lao động không được buộc người lao động phải tiến hành những việc
làm trái với ý nguyện của họ và trong quá trình sử dụng lao động không được
có những hành vi có tính chất ngược đãi người lao động. Đây là một nguyên
tắc nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động. Bởi vì, trước hết người lao
động thuộc về số đông người trong xã hội. Hơn nữa, trong quan hệ lao động
các chủ thể có địa vị kinh tế không bình đẳng. Người sử dụng lao động có đầy
đủ các điều kiện về vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ kỹ thuật, khả năng kinh
doanh. Ngược lại, người lao động lại rơi vào vị thế yếu, họ chỉ có một tài sản
duy nhất đó là sức lao động để đổi lấy thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Chính vì
vậy mà trong quá trình lao động, người sử dụng lao động không được dùng vị
thế kinh tế của mình để ép buộc, cưỡng bức, ngược đãi người lao động phải
làm việc theo ý muốn của mình trái với quy định của pháp luật, vi phạm
quyền con người. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2,
khoản 3 Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên
hợp quốc mà Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982 là:
24
2. Không một người nào có thể bị bắt làm nô dịch
3. a) Không được đòi hỏi bất kỳ một người nào phải lao
động bắt buộc hoặc cưỡng bức [29].
1.2.4. Bình đẳng trong lĩnh vực việc làm
Nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp 1992 và Điều 5, Điều 7,
Điều 13 của Bộ luật lao động, thể hiện ở các lĩnh vực chủ yếu: Mọi công dân
đều có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng đối với
mọi việc làm và được trả công ngang nhau đối với mọi công việc như nhau.
Điều 63 Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân nam nữ có quyền ngang
nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm
mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao
động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau". Bình đẳng
trong lĩnh vực việc làm trước hết là không được phân biệt về giới tính. Người