Khóa luận pháp luật về huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với xu hướng “toàn cầu hoá” hiện nay, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh
tế đã không còn là vấn đề riêng của bất kỳ một quốc gia nào. Việt Nam đang
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện địa hoá đất nước, tích cực chủ động
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới nên nhu cầu về vốn lại càng trở nên cấp
thiết. Với tư cách là các “trung gian tài chính”, các Tổ chức tín dông (TCTD)
Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng đối với việc huy động mọi nguồn vốn
trong dân cư để cung ứng cho nền kinh tế với nhứng điều kiện nhất định. Vốn để
các TCTD tiến hành và phát triển các hoạt động kinh doanh của mình không chỉ
riêng nguồn vốn tự có mà chủ yÕu là nguồn vốn huy động được. Do đó có thể
nói hoạt động huy động vốn có tác động rất lớn đến các tổ chức tín dụng còng
nh toàn bộ nền kinh tế. Với tầm quan trọng đó của hoạt động huy động vốn, Nhà
nước cần phải xây dựng một hành lang pháp lý an toàn và thông thoáng, tạo điều
kiện cho các TCTD thực hiện hoạt động này một cách dễ dàng và hiệu quả. Vậy
pháp luật Việt Nam đã quy định nh thế nào về hoạt động huy động vốn của các
TCTD? Đi tìm câu trả lời cho câu hái này cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài
“pháp luật về huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam trên cơ sở
hệ thống lý luận cơ bản và thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng các quy
định của pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định đó của các TCTD để chỉ ra
những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại hạn chế cần phải khắc phục
trong quá trình huy động vốn và nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó đưa ra
một số định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của các TCTD ở
Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1
Khoá luận tập trung nghiên cứu và đánh giá khái quát các quy định của pháp
luật về huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam, đồng thời tìm hiểu thực tiễn

hoạt động huy động vốn, TCTD phải tính toán sao cho việc sử dụng đồng vốn
huy động được hiệu quả nhất. Mặt khác, huy động vốn xét về bản chất chính là
việc TCTD đi vay tiền từ các chủ sở hữu số tiền đó và có trách nhiệm hoàn trả
đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Theo quy định của pháp luật hiện nay, các TCTD được huy động vốn
thông qua bốn hình thức:
- Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
- Huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá
- Huy động vốn bằng việc vay vốn của các TCTD khác
- Huy động vốn thông qua vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
* Vai trò của hoạt động huy động vốn
3
- Đối với các TCTD :
Huy động vốn đem lại nguồn vốn lớn, chủ yếu cho các TCTD tiến hành
các hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này là cơ sở để các TCTD tổ chức mọi
hoạt động kinh doanh; quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động
khác của TCTD; quyết định năng lực thanh toán và bảo đảm uy tín của TCTD
trên thương trường; quyết định năng lực cạnh tranh của TCTD Không những
thế, huy động vốn còn tạo tiền đề để TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh
khác nh: làm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ góp phần làm tăng thêm lợi nhuận
cho các TCTD.
- Đối với nền kinh tế:
Thông qua hoạt động huy động vốn của các TCTD, nền kinh tế có thêm
một kênh thu hót các nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau trong dân cư nhằm đáp ứng
nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, sù
cung cầu vốn giữa các thành phần khác nhau trong xã hội gặp nhau được dễ
dàng hơn. Cũng thông qua hoạt động này, Nhà nước có thể kiểm soát, điều
chỉnh chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Hơn nữa, với chính sách lãi suất huy động vốn hợp lý, hoạt động huy động vốn
của các TCTD sẽ tăng khả năng kích thích tiết kiệm trong nhân dân. Thông qua

các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, mỗi một
công cụ đều tác động đến hoạt động huy động vốn của các TCTD. Cụ thể là:
 Lãi suất chiết khấu: Ngân hàng nhà nước thực hiện tái cấp vốn để cung
ứng tiền ra lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu. Nếu chính sách tiền tệ nhằm
chống lạm phát thì lúc đó Ngân hàng Nhà nước cung ứng tiền ra lưu thông với
lãi suất tái chiết khấu cao. Và nh vậy sẽ hạn chế việc các TCTD vay Ngân hàng
Nhà nước.
 Dự trữ bắt buộc: Khi tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là Ngân
hàng Nhà nước cho hoặc không cho các TCTD sử dụng khối lượng tiền Trung
ương bị coi là thiếu hay dư thừa, tức là thắt chặt hay nới lỏng khả năng tạo tiền
của TCTD.
5
- Chính sách đầu tư của Nhà nước
Chính sách đầu tư của Nhà nước có hợp lý hay không đều ảnh hưởng trực
tiếp đến môi trường kinh doanh không chỉ của khách hàng mà ngay cả đối với
các TCTD. Bởi vì, khi chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển dẫn đến các TCTD có môi trường đầu tư thuận lợi và đòi hỏi các
TCTD phải tìm mọi cách để mở rộng hoạt động huy động vốn của mình.
- Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
Nền kinh tế ở vào thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển từ đó tạo điều
kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hót vốn của
các TCTD. Ngược lại, khi nền kinh tế không tăng trưởng, sản xuất kìm hãm, nền
kinh tế bị suy thoái làm cho môi trường đầu tư của TCTD bị thu hẹp. Bên cạnh
đó, lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá, người dân sẽ không gửi tiền vào ngân
hàng mà dùng tiền để mua hàng cất trữ, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hoạt động
huy động vốn của các TCTD.
- Tâm lý thãi quen tiêu dùng của người gửi tiền
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của TCTD.
Nếu ở những vùng dân cư quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ
là chính thì việc huy động vốn của TCTD gặp khó khăn hơn. Chẳng hạn, vào

đến gửi tiền. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, công tác huy
động vốn được thực hiện càng nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.
- Mạng lưới phục vụ cho huy động vốn
Mạng lưới huy động vốn càng rộng rãi càng có thể khai thác tối đa nguồn
tiền nhàn rỗi trong dân cư. Do đó, không chỉ cần mở rộng mạng lưới ở vùng
đông dân cư mà còn cần được mở ra ở những nơi cách xa trung tâm thành phè
nh nông thôn, vùng xâu, vùng xa Ngược lại, mạng lưới hẹp sẽ gây khó khăn
cho khách hàng muốn gửi tiền do chi phí giao dịch lớn, mất thời gian.
- Lãi suất huy động
Đối với người gửi tiền là doanh nghiệp, gửi tiền vào các TCTD với mục
đích thanh toán thì lãi suất không phải là cái đích mà họ hướng tới. Điều họ
7
quan tâm lớn nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ TCTD. Tuy nhiên bên cạnh bộ
phận gửi tiền với mục đích này thì vốn huy động của các TCTD còn bao gồm cả
tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm của dân cư với
mục đích hưởng lãi là chính, vì vậy lãi suất là điều họ rất quan tâm và bộ phận
này rất nhạy cảm với lãi suất. Mặt khác, khi huy động vốn dưới hình thức vay
vốn từ các TCTD khác hoặc vay vốn của Ngân hàng Nhà nước để tạo được
nhiều nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dông của mình, các TCTD cần phải có
chính sách lãi suất hợp lý sao cho lãi suất huy động vừa đảm bảo kích thích
người gửi tiền vừa phù hợp với lãi suất cho vay, tránh tình trạng huy động vốn
với giá cao mà đầu tư với giá thấp.
- Việc tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động kinh doanh của các TCTD, rủi ro xảy ra là điều không
thể tránh khỏi. Vì vậy, sự an toàn của các TCTD không chỉ là mối quan tâm của
các cổ đông, các nhà điều hành mà còn là mối quan tâm đặc biệt đối với khách
hàng, vì phần lớn vốn kinh doanh của của TCTD là vốn huy động từ bên ngoài.
Để lấy được niềm tin của người gửi tiền, đồng thời bảo vệ lợi Ých của họ khi
TCTD phá sản, các TCTD phải tham gia bảo hiểm tiền gửi và khi sự kiện bảo
hiểm xảy ra, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng ra chi trả toàn bộ số tiền cho

sự đổ vỡ toàn bộ hệ thống TCTD, gây ra khủng hoảng về tài chính- tiền tệ, gây
mÊt ổn định kinh tế. Dân chóng mất lòng tin vào các TCTD, nguồn vốn nhàn
rỗi không được tập trung cho đầu tư phát triển, nền kinh tế khó mà phát triển
được. Bởi vậy, hoạt động huy động vốn cần phải được Nhà nước quản lý chặt
chẽ.
Thứ ba, để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khác trong hoạt động huy
động vốn, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho các TCTD trong
quá trình huy động vốn cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Mặt khác,
thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của
các TCTD, Nhà nước có thể kiểm soát được tình hình hoạt động kinh doanh của
9
các TCTD, từ đó kịp thời có biện pháp xử lý, giúp TCTD thoát khái tình trạng
khó khăn về tài chính.
1.2. KẾT CẤU PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Hiện nay, theo quy định của Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi, bổ
sung theo Luật sửa đổi bổ, sung luật TCTD năm 2004) các TCTD được huy
động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi:
+ Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác
+ TCTD phi ngân hàng được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên
của tổ chức, cá nhân theo quy định của Nhà nước.
- Phát hành giấy tờ có giá: TCTD được phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân
trong nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Vay vốn giữa các TCTD: Các TCTD được vay vốn của nhau và của
TCTD nước ngoài.
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước: TCTD là ngân hàng được vay vốn của
Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại điều 30
của LuËt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

việc ghi nhận nghiệp vụ này trong giấy phép hoạt động). Trong quan hệ gửi tiền,
tổ chức nhận tiền gửi đóng vai trò là bên đi vay. Tuy nhiên, đây là hoạt động đi
vay mang tính kinh doanh chuyên nghiệp được chủ thể này thực hiện thường
xuyên.
Thứ hai, về hình thức của quan hệ: Hình thức của quan hệ gửi tiền được
xác lập theo một cách thức riêng (giấy đề nghị gửi tiền) mang tính nghiệp vụ
chuyên biệt, được lập theo mẫu in có sẵn của TCTD nhận tiền gửi nhằm bảo
đảm tính tiện lợi, nhanh chóng, đơn giản mà vẫn chứa đựng đầy đủ những nội
dung cần thiết của một hợp đồng vay nợ.
11
Thứ ba, về mục đích: Trong quan hệ gửi tiền mỗi bên đều hướng tới
những mục đích riêng, thậm chí trong mỗi loại tiền gửi khác nhau người gửi tiền
lại hướng đến các mục đích khác nhau.
* Đối với tổ chức nhận tiền gửi: Mục đích của việc nhận tiền gửi là nhằm
huy động vốn để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc
cấp tín dụng hoặc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng. Chính từ
hoạt động này các tổ chức nhận tiền gửi được gọi là các “trung gian tài chính”,
đóng vai trò là cầu nối giữa cung - cầu vốn, hoạt động kinh doanh theo phương
thức “đi vay để cho vay”.
* Đối với người gửi tiền: Việc tham gia quan hệ gửi tiền nhằm mục đích
vừa để đảm bảo an toàn cho tiền vốn (tiền gửi vào sẽ được tổ chức nhận tiền gửi
trông giữ, bảo quản hé) vừa để đồng vốn sinh lời khi chưa có nhu cầu sử dụng
hoặc để hưởng những tiện Ých do tổ chức nhận tiền gửi cung ứng như dịch vụ
thanh toán, chuyển tiền Người gửi tiền có thể hướng tới một, hai hoặc cả ba
mục đích trên. Tuy nhiên, mục đích của họ được thể hiện rõ nhất thông qua hình
thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà họ lùa chọn. Ví dụ: Một người gửi tiền không
kỳ hạn tại ngân hàng dưới hình thức thẻ tín dụng thì mục đích mà họ hướng tới
là sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng; nếu họ gửi dưới hình thức tiền gửi
tiết kiệm có kỳ hạn thì mục đích của họ là hưởng lãi suất
Trong các hình thức huy động vốn của TCTD, hình thức huy động vốn

thức nào.
b. Các loại tiền gửi
Khi tham gia quan hệ gửi tiền, người gửi tiền luôn hướng tời một mục
đích nhất định. Nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng đó của khách hàng , các
TCTD đưa ra nhiều loại tiền gửi khác nhau để người gửi tiền lùa chọn hình thức
gửi thích hợp nhất tuỳ thuộc vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn vốn của
họ. Dùa theo từng tiêu chí cụ thể người ta có thể phân chia thành nhiều loại tiền
gửi khác nhau. Cô thể là:
13
- Căn cứ theo nghiệp vụ quản lý kinh doanh ngân hàng, tiền gửi được chia
thành:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các TCTD
để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán. Tiền gửi không kỳ hạn là khoản
tiền đang chờ thanh toán, không phải là tiền mà khách hàng để dành nên
khách hàng có thể rót ra hoặc sử dụng để thanh toán bất kỳ lúc nào theo yêu
cầu. Thông thường khách hàng gửi loại tiền gửi này sẽ không được trả lãi
hoặc trả mức lãi suất thấp. Tiền gửi không kỳ hạn được quản lý ở các TCTD
trên tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản vãng lai. Đối với tiền gửi
không kỳ hạn, khách hàng được sử dụng các công cô thanh toán để chi trả
nh séc, uỷ nhiệm chi và các lệnh chi khác
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào TCTD trên cơ sở
có sự thoả thuận với TCTD về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc người gửi
tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thoả thuận. Tuy nhiên, trên thực tế để thu
hót khách hàng gửi loại tiền gửi này, các TCTD có thể cho phép khách hàng
đuợc rút tiền trước thời hạn (nếu số tiền rót ra lớn thì phải có sự thông báo
trước cho TCTD một vài ngày) trong trường hợp này người gửi tiền chỉ
được hưởng mức lãi suất thấp. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng
mang tính ổn định, nên các TCTD thường chú trọng áp dụng các biện pháp
kích thích để huy động loại tiền gửi này bằng việc đưa ra nhiều loại kỳ hạn
khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với mỗi loại kỳ hạn,

- Cn c vo ngi gi tin, cú cỏc loi tin gi sau:
+ Tin gi ca t chc
+ Tin gi ca cỏ nhõn.
- Ngoi ra dựa vo du hiu quc tch hoc ni c trỳ, ngi ta phõn chia
tin gi thnh :
+ Tin gi ca cỏc t chc v cỏ nhõn trong nc
+Tin gi ca cỏc t chc v cỏ nhõn nc ngoi.
(
Khoản1, Điểu 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/09/2004.
15
- Căn cứ vào đồng tiền mà khách hàng gửi, có thể phân chia thành:
+ Tiền gửi bằng đồng Việt Nam
+ Tiền gửi bằng ngoại tệ.
Việc phân chia thành các loại tiền gửi khác nhau có ý nghĩa hết sức to
lớn:
- Đối với tổ chức nhận tiền gửi
Việc phân chia thành nhiều loại tiền gửi khác nhau, mỗi loại có một ưu
thế riêng giúp cho các tổ chức nhận tiền gửi thu hót được nhiều khách hàng tới
gửi tiền. Bởi lẽ, mục đích của người gửi tiền rất đa dạng, việc đưa ra nhiều loại
tiền gửi sẽ đáp ứng được các nhu cầu đó. Đồng thời tạo điều kiện cho TCTD sử
dụng nguồn vốn huy động bằng nhận tiền gửi có hiệu quả, vừa phù hợp với mục
đích, kế hoạch kinh doanh vừa đảm bảo khả năng thanh toán, dù trả cho khách
hàng khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút tiền. Chẳng hạn, TCTD khi huy
động vốn bằng nhận tiền gửi không kỳ hạn thì không thể sử dụng toàn bộ số vốn
này để cho vay trung và dài hạn mà chỉ sử dụng theo một tỷ lệ nhất định do
Ngân hàng Nhà nước quy định, hoặc căn cứ vào loại tiền gửi để xác định mức
dự trữ bắt buộc, duy trì khả năng thanh toán
- Đối với người gửi tiền
Việc đa dạng hoá các loại tiền gửi với những đặc trưng riêng của mỗi loại
tiền gửi sẽ giúp cho người gửi tiền có thể lùa chọn hình thức gửi tiền thích hợp

hn
khỏc.
(2)
+ Giy t cú giỏ di hn: l giy t cú giỏ cú thi hn t 12 thỏng tr lờn, bao
gm trỏi phiu, chng ch tin gi di hn v cỏc giy t cú giỏ di hn
khỏc.
(2)
- Cn c vo ch s hu, giy t cú giỏ gm cú:
(1)
Khoản 1, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
(2)
Khoản 2, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
(2)
Khoản 3, Điều 4 Quyết định số 02/2004/QĐ-NHNN ngày 04/01/2005
17
+ Giấy tờ có giá ghi danh: Là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ
hoặc ghi sổ có tên người sở hữu. TCTD phát hành giấy tờ có giá ghi danh
phải mở sổ đăng ký quyền sở hữu và tiến hành đăng ký lại khi khách hàng có
yêu cầu chuyển nhượng quyền sở hữu.
(3)
+ Giấy tờ có giá vô danh: Là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ
không ghi tên người sở hữu. Giấy tê có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của
người nắm giữ giấy tờ có giá.
(4)
Về hình thức phát hành: Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành có thể
hiện dưới hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có thể là loại giấy tờ có giá ghi danh
hoặc không ghi danh. Hình thức chứng chỉ ghi danh áp dụng đối với người mua
là cá nhân. Hình thức chứng chỉ vô danh áp dụng đối với người mua là cả cá
nhân và tổ chức. Hình thức ghi sổ áp dụng đối với người mua là tổ chức có tài
khoản tiền gửi tại TCTD phát hành. Trường hợp phát hành giấy tờ có giá theo

m bo an ton, hiu qu cho hot ng ca tng TCTD. Quan h vay vn ny
c thc hin trờn c s hp ng tớn dng.
Vay vn gia cỏc TCTD l vic cp tớn dng di hỡnh thc cho vay ca
TCTD (bờn cho vay) cho một TCTD khỏc (bờn vay) theo quy nh ti iu 49
Lut cỏc t chc tớn dng.
(1)
V nguyờn tc, khi thc hin vic cho vay, i vay gia cỏc bờn phi m
bo nguyờn tc: Bờn vay phi hon tr n gc, lói tin vay v cỏc loi phớ (nu
cú) ỳng hn cho bờn vay. Vic cho vay, i vay gia cỏc bờn phi m bo an
ton, phự hp vi quy nh ca phỏp lut Vit Nam v thụng l quc t.
V thi hn cho vay, cỏc bờn có th tho thun vay ngn hn (ti a n
12 thỏng), trung hn (t 12 thỏng n 60 thỏng) hoc di hn (trờn 60 thỏng) tu
thuc nhu cu s dng vn vay ca TCTD i vay, tớnh cht v kh nng ngun
vn ca TCTD cho vay.
V bin phỏp bo m, cỏc bờn tho thun vic ỏp dng hoc khụng ỏp
dng hỡnh thc bo m i vi khon vay trong tng trng hp c th. Hỡnh
thc bo m cho khon vay bao gm bo m m bng ti sn, bo lónh ca
mt TCTD khỏc. Vic ỏp dng hỡnh thc bo m v x lý ti sn bo m tin
vay c thc hin theo quy nh ca phỏp lut.
(1)
Khoản 1, Điều 2 Quyết định số 1310/2001/QĐ-NHNN ngày 15/10/2001
19
V phng thc cho vay, cỏc bờn tho thun ỏp dng phng thc cho
vay tng ln, theo hn mc hoc cỏc phng thc khỏc phự hp vi quy nh
ca phỏp lut. Cỏc TCTD thc hin cho vay, i vay ln nhau bng ng Vit
Nam hoc bng ngoi t trờn c s phm vi hot ng ngoi hi c Ngõn
hng Nh nc cho phộp.
Khi TCTD tho món cỏc iu kin m phỏp lut quy nh thỡ cú th vay
vn ca TCTD nc ngoi. Hot ng vay vn ca TCTD nc ngoi do TCTD
thc hin thuc din qun lý nh nc ca Ngõn hng Nh nc Vit Nam.

chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho
vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngăn hạn khác.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn cho Ngân hàng Thương mại vay bổ
sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt khi TCTD
mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD có thể
được Ngân hàng nhà nước cho vay khi Thủ tướng Chính Phủ chấp thuận.
Ngoài các hình thức huy động vốn cơ bản nêu trên, các TCTD có thể sử
dụng để thu hót các nguồn vốn nhàn rỗi khác thông qua việc làm trung gian
thanh toán và cung cấp dịch vụ đầu tư, dịch vụ đại lý Các nguồn vốn này
không phải do các TCTD huy động nhưng tạo cơ hội cho các TCTD sử dụng
tạm thời do đó làm tăng thêm vốn cho các TCTD trong quá trình hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Tuy nhiên, để mở rộng khả năng thu hót vốn này, TCTD cần
phải không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thương trường, trong đó đặc
biệt quan tâm tới phát triển các dịch vụ ngân hàng.
Ch¬ng 2
21
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT N am
2.1 NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DÔNG Ở VIỆT NAM
2.1.1 Các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động
huy động vốn của các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Có thể hiểu quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của các
TCTD là việc Nhà nước thực hiện các hoạt động tổ chức, điều hành thống nhất
và giám sát, kiểm tra các hoạt động này nhằm đảm bảo cho huy động vốn đạt
hiệu quả, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hoạt động của các TCTD có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế. Trong các hoạt động của TCTD, “huy động vốn” là hoạt động chủ yếu để
TCTD tập trung nguồn vốn tiến hành các hoạt động kinh doanh. Song bản thân
hoạt động này lại chứa đựng tính rủi ro và ảnh hưởng dây chuyền đến hoạt động

ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm tạo điều kiện cho các ngân
hàng Việt Nam vươn ra thị trường nước ngoài cũng như mở cửa cho các ngân
hàng nước ngoài vào Việt Nam.
Các quy định của pháp luật có liên quan tới quản lý nhà nước đối với hoạt
động huy động vốn của các tổ chức tín dụng được thể hiện cụ thể trong các quy
định về quyền được nhận các loại tiền gửi đối với từng loại hình TCTD, các hạn
chế pháp định nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của các TCTD
như: quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trách nhiệm tham gia bảo hiểm tiền gửi, quy
định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD Đặc biệt là
trong quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất
khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, trong các quy định về kiểm tra, thanh
tra và xử lý các vi phạm pháp luật đối với các TCTD trong huy động vốn
(1)
§iÒu 116 LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông 1997
23
Nhìn chung các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động
vốn của các TCTD tương đối đầy đủ, khá chặt chẽ. Tuy nhiên, những quy định
này còn nằm tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, một số quy định
chưa được cụ thể hoá một cách rõ ràng.
2.1.2 Các quy định pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các
Tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Nhận tiền gửi là nghiệp vụ huy động vốn đặc thù của các TCTD tạo tiền
đề kinh tế để các TCTD thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng. Hiện nay, pháp luật có khá nhiều quy định liên quan đến hoạt động huy
động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD mà chúng ta có thể tìm thấy trong
hàng loạt các văn bản pháp luật về ngân hàng nh:
- Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004; LuËt Ngân hàng Nhà nước 1997.
- Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 về tổ chức hoạt động của
ngân hàng thương mại; Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về

lang pháp lý tương đối đầy đủ và thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho
TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật, tạo ra
môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các TCTD trong tiến trình hội nhập. Đồng
thời pháp luật cũng hướng tới quyền lợi của mọi người dân, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu gửi tiền và sử dụng các dịch vụ ngân hàng, lùa chọn hình thức gửi tiền phù
hợp với mục đích và yêu cầu của họ, tạo niềm tin cho người gửi tiền; tạo ra cơ
sở pháp lý cho Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình đối
với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu kể trên, các quy phạm pháp luật
điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các TCTD vẫn còn tồn tại một số hạn
chế sau:
Thứ nhất, các quy phạm pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi
của các TCTD còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Trong khi
đó, mỗi văn bản pháp luật này được ban hành nhằm điều chỉnh một mảng hoặc
25

Trích đoạn Hoàn thiện cỏc quy định của phỏp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status