Tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần - Pdf 27


MỤC LỤC
Trang
A. Mở đầu. 1
B. Nội dung. 1
I. Khái quát về công ty cổ phần và một số vấn đề về huy
động vốn trong công ty cổ phần.
1
1. Khái quát về công ty cổ phần. 1
1.1. Định nghĩa và đặc điểm về công ty cổ phần. 1
1.2 Ưu và nhược điểm của công ty cổ phần. 5
2. Khái quát vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần. 6
II. Huy động vốn trong công ty cổ phần. 6
1. Khái niệm huy động vốn của công ty cổ phần. 6
2. Phương thức huy động vốn của công ty cổ phần. 6
III. Một số hình thức huy động vốn của công ty cổ phần. 7
1.Phát hành cổ phiếu (vốn chủ sở hữu hay vốn tự có). 7
2. Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng. 11
IV. Một số nhận xét về các quy định của pháp luật về huy
động trong công ty cổ phần.
14
1.Về vốn chủ sở hữu. 14
2. Về vốn tín dụng.
15
V. Thực trạng và biện pháp huy động vốn của công ty cổ
phần hiện nay tại Việt Nam.
16
1
1. Thực trạng huy động vốn trong CTCP hiện nay 16
2. Biện pháp hoàn thiện huy động vốn trong CTCP hiện nay 17
C. Kết luận. 17

yếu do các xí nghiệp tự bỏ ra và đang ở giai đoạn sơ khai như xí nghiệp vận tải biển Hải
Phòng, xí nghiệp dược Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Công thương thành phố Hồ
Chí Minh…do luật công ty 1990 điều chỉnh, sau đó là luật doanh nghiệp 1990, đã tạo
hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho sự ra đời, hình thành và phát triển của loại hình
công ty cổ phần ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới nên các công ty cổ phần ở nước ta ra đời ngày càng nhiều, góp phần phát triển nền
kinh tế của đất nước và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta.
* Định nghĩa: Với tính chất là 1 hiện tượng kinh tế, xã hội, công ty cổ phần nói
riêng cũng như các loại công ty nói chung là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học trong đó có khoa học pháp lý. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về
công ty cổ phần.
Trong cuốn từ điển bách khoa Việt Nam có đưa ra định nghĩa về công ty cổ phần
như sau: “ Công ty cổ phần là những công ty được hình thành trên cơ sở liên hiệp tư bản
tư nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu và lợi nhuận công ty được phân phối giữa
các cổ đông theo số lượng cổ phần”[3, tr 593]. Theo định nghĩa tại giáo trình luật
thương mại của Đại học Luật Hà Nội có định nghĩa như sau: “ Là loại hình đặc trưng
của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu” . Trong luật doanh nghiệp năm
2005 có đề cập đến định nghĩa công ty cổ phần tại khoản 1, điều 77 như sau:
“ 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường
3
hợp quy định tại khoản 3, Điều 81 và khoản 5, Điều 84 của Luật này ”. *
Công ty cổ phần có những đặc điểm như sau: -

chính là 1 dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty. Vốn của công ty là yếu tố năng
động nhất: sự phát triển của công ty cổ phần tỉ lệ thuận với sự chí chủ quan của con
4
người. Điều đó đòi hỏi các nhà kinh doanh phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức
và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự linh hoạt của vốn, tạo cho bản thân công ty cổ
phần khả năng chuyển dịch các phần vốn 1 cách dễ dàng song tư cách pháp nhân không
vì sự chuyển dịch đó mà bị thay đổi.. Công ty cổ phần có cơ chế
quản lý tập trung cao: Với tư cách là 1 pháp nhân độc lập, trong công ty cổ phần có sự
tách biệt giữa quyền sở hữu và có chế quản lý. Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra hội
đồng quản trị và hội đồng quản trị sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty. Như vậy
trong công ty cổ phần việc quản lý được tập trung hóa vào hội đồng quản lý mà không
dàn trải việc quản lý cho các cổ đông như công ty hợp danh.
CTCP phải có Đại hội đồng cổ
đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc). Đối với công ty cổ phần có trên
mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.
1.2 - Ưu và nhược điểm của công ty cổ phần.
a. Ưu điểm của công ty cổ phần.
So với các loại hình doanh nghi chuyển nhượng cổ phệp khác thì công ty cổ phần
có rất nhiều ưu điểm. Cụ thể như sau:
* Chế độ trách nhiệm của Công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông
chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn
góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;
* Khả năng hoạt động của Công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực,
ngành nghề;
* Cơ chế điều phối vốn của Công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều
người cùng góp vốn vào công ty;
* Khả năng huy động vốn của Công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát hành
cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần; Việc chuyển
nhượng vốn trong Công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng
được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền

từ nguồn đóng góp của cổ đông và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận của
công ty.
+ Vốn tín dụng: Là nguồn vốn được hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức
khác nhau: Vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc vay bằng cách phát
hành trái phiếu . Điều quan trọng là công ty cổ phần phải có 1 tỉ lệ vốn vay trên vốn cỏ
phần hợp lý đẻ phản ánh sưc mạnh tài chính của công ty, vừa tạo niềm ti cho các đối tác
của mình.
II. Huy động vốn trong công ty cổ phần.
1. Khái niệm huy động vốn của công ty cổ phần.
Huy động vốn của công ty cổ phần là hoạt động tạo vốn bằng cách phát
hành các loại giấy tờ có giá trị gọi là tài sản tài chính hay các chứng khoán để tài trợ
cho nhu cầu vốn đầu tư của công ty. Các tài sản tài chính không chỉ bao gồm các khoản
6
vay nợ ngân hàng mà còn bao gồm cả cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng từ khác
2. Phương thức huy động vốn của công ty cổ phần.
Các chủ thể kinh doanh muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì yếu tố
đầu tiên rất quan trọng đó là phải có nguồn vốn lớn. Công ty cổ phần có hai cách để huy
động vốn: tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn vay. Theo luật daonh nghiệp năm 2005 thì
doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp doanh: “ không được phát hành bất kì loại chứng
khoán nào” ( khoản 3, điều 130 và khoản 2, điều 141), công ty trách nhiệm hữu hạn có
thuận lợi hơn nhưng lại “ không được được phát hành cổ phần” ( khoản 3, điều 38).
Công ty cổ phần khẳng định sự lý tưởng trong mô hinh kinh doanh của mình bằng
quyền phát hành chứng khoán được quy định trong khoản 3 điều 77 Luật doanh nghiệp
2005: “Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”.
Trong các loại chứng khoán ấy, cổ phiếu là công cụ riêng của công ty cổ phần, nó đem
lại ưu thế rất lớn cho công ty cổ phần nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng: có thể huy
động được một nguồn vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động; có thể giảm chi phí huy
động vốn do tiếp cận trực tiếp với người đầu tư…Như vậy, với quy định trên của pháp
luật doanh nghiệp thì cấu trúc vốn của công ty cổ phần sẽ rất linh hoạt, đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của người đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status