Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng - Pdf 27

LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển bền vững là điều mà các quốc gia luôn luôn mong đợi, quan
điểm này được thể hiện ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực tài chính ngân
hàng không nằm ngoài ý nghĩa của quan điểm này. Điều này thể hiện một quốc
gia có nền kinh tế phát triển phải có một hệ thống các quy định nhằm đảm bảo
an toàn hoạt động của các thiết chế tài chính, tránh cho các thiết chế này khỏi
những rủi ro, tổn thất. Từ đó, các thiết chế tài chính sẽ góp phần thúc đẩy nền
kinh tế phát triển và ngược lại nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các
thiết chế tài chính hoạt động.
Nhằm góp phần tìm hiểu, phân tích, đánh giá những quy định của pháp
luật trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín
dụng, em xin chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động
huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng” làm đề tài bài tập
học kỳ của mình.
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài viết bao gồm 3 nội dung chính
sau:
I. Khái niệm về tổ chức tín dụng
II. Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ
chức tín dụng và thực tiễn áp dụng
III. Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định về đảm bảo
an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng
1
I. KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Để có thể đi vào tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy
động vốn của các tổ chức tín dụng thì trước tiên ta phải hiểu tổ chức tín dụng là
gì, các hình thức tổ chức tín dụng và đặc điểm của tổ chức tín dụng.
Theo Luật sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng năm 2004, khái niệm
“tổ chức tín dụng” được quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được
thành lâp theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt
động ngân hàng”. Điểm đặc trưng của tổ chức tín dụng theo Luật các tổ chức tín
dụng sửa đổi năm 2004 là “hoạt động ngân hàng”- hoạt động kinh doanh tiền tệ,

nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến sự dịch chuyển khách hàng từ ngân hàng này
sang ngân hàng khác).
Nếu các tổ chức tín dụng hoạt động tốt sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn
lực, giảm thiểu chi phí cho xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển bền vững. Ngược lại, khi tổ chức tín dụng phá sản sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến các khách hàng gửi tiền và sự phá sản của tổ chức tín dụng luôn có hiệu
ứng dây chuyền, lây lan rất lớn và tác động xấu đến đời sống kinh tế, cho nên
các hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được giám sát chặt chẽ, thường xuyên
bằng pháp luật. Những quy chế giám sát phổ biến là: quy định về an toàn trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng, quy chế phân phối tín dụng, quy chế về bảo vệ
nhà đầu tư, quy chế về thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho các tổ chức
tín dụng…
Thứ tư, kinh doanh ngân hàng gắn liền với yếu tố rủi ro. Rủi ro có thể xảy
ra với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Tuy nhiên, rủi ro tropng kinh doanh ngân
hàng có những đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác về mức độ
và nguyên nhân. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền và để lại
hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành mà còn của tất cả các
ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh
hưởng đến nhiều quốc gia khác. Những rủi ro thường gặp là: rủi ro tín dụng, rủi
ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro hối đoái, rủi ro trong quá trình hội nhập.
Với các phân tích trên, có thể nhận thấy tổ chức tín dụng là một chủ thể
kinh doanh đặc thù. Chúng có thể được nhận dạng dựa theo nhiều tiêu chí:
3
- Nếu theo các lĩnh vực hoạt động, có thể chia thành tổ chức tín dụng là
ngân hàng- được kinh doanh tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động có
liên quan, và tổ chức tín dụng phi ngân hàng- được thực hiện một số hoạt động
ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không nhận được
tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán.
- Nếu theo hình thức sở hữu, có thể chia thành tổ chức tín dụng nhà nước,
tổ chức tín dụng tư nhân và tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài.

đầu tư. Do vậy, luật các tổ chức tín dụng cũng như các văn bản hướng dẫn đã rất
chú trọng tới loại quy phạm an toàn này trong các quy định cụ thể của mình.
a. Quy định về hình thức các loại tiền gửi được nhận của các loại hình tổ chức
tín dụng
Với các tổ chức tín dụng là ngân hàng. Nếu như tại pháp lệnh ngân hàng
trước kia, các hình thức nhận tiền gửi không được quy định rõ thì tại Luật các tổ
chức tín dụng đã quy định khách hàng được gửi tiền vào ngân hàng dưới hình
thức không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Quy định
này một mặt đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mặt khác đảm bảo cho ngân hàng
tập trung thu hút được mọi khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư, dù là nhỏ nhất. Bên
cạnh ý nghĩa đó, quy định này còn có vai trò rất quan trọng và cần thiết cho sự
an toàn tiền gửi của khách hàng. Việc phân ra các hình thức tiền gửi giúp cho
ngân hàng có kế hoạch sử dụng vốn phù hợp, thích ứng với tính chất từng loại
tiền gửi. Điều này thể hiện rõ nhất trong quy định về tỉ lệ tối đa của nguồn vốn
ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn.
Với tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Khác với loại hình ngân hàng, pháp
luật cho phép nhận mọi loại tiền gửi, với tổ chức tín dụng phi ngân hàng, pháp
luật quy định chỉ được nhân tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức,
cá nhân. Sở dĩ như vậy bởi loại chủ thể này kinh doanh dài hạn, nên việc nhận
tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng để cấp tín dụng thì rủi ro
mất khả năng chi trả là rất lớn. Pháp luật một số nước trên thế giới cũng quy
định giới hạn về nhận tiền gửi đối với loại tổ chức tín dụng chuyên đầu tư dài
hạn này. Chẳng hạn như Đạo luật 372- luật về các tổ chức tài chính và ngân
hàng Malaysia 1989 tại Điều 33 quy định: một công ty tài chính, ngân hàng đầu
5
tư hay trung tâm triết khấu sẽ không được nhận tiền gửi không kỳ hạn do người
gửi tiền tại các tổ chức đó được hoàn trả bằng séc, hối phiếu, lệnh phiếu hay các
loại công cụ thanh toán khác.
Ngoài ra, theo pháp luật Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không
được nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác bởi vì tính chất kinh doanh kéo

2. Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “có” có thể thanh toán ngay
trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản nợ phải thanh
toán trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo.”
Tài sản “có” được phân nhóm theo các mức độ rủi ro bao gồm nhóm tài
sản “có” hệ số rủi ro 0%, 20%, 50% và 100%.
Thứ hai, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhân tiền gửi phải
đảm bảo các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “có”, kể cả các cam kết
ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Vốn tự có của các tổ chức tín
dụng ngoài vốn điều lệ còn gồm quỹ dự đặc biệt, các tài sản cố định. Còn tài sản
“có” thì ngoài vốn tự có còn gồm các khoản vốn huy động khác. Việc khống chế
mức tối đa về huy động vốn so với vốn tự có là rất quan trọng, tránh huy động
vốn một cách ồ ạt và tuỳ tiện, không theo đúng thực lực của ngân hàng. Sẽ rất
phương hại đến người gửi bởi nó sẽ thiếu tiềm lực tài chính để bù đắp rủi ro và
chi trả cho khách hàng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN thì
các tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối
thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro. Nếu tổ chức tín dụng có
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn mức quy định thì phải tăng đủ 8% trong thời
hạn tối đa là 3 năm. Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ vốn tự có lớn, tiền gửi huy
động vừa phải, vì thế việc mất khả năng thanh toán giảm xuống. Tuy nhiên, với
tỷ lệ 8% cũng đã tạo điều kiện và đảm bảo cho các tổ chức tín dụng mở rộng và
phát triển kinh doanh.
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng.
Nó được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng
tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng.
7
Các nhà quản lý ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các tổ
chức tín dụng phải duy trì 1 tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Ở Việt Nam, tỷ lệ này
hiện đang là 8%, phù hợp với chuẩn mực Basel mà các hệ thông ngân hàng trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status