I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG TH HI YN
PHáP LUậT Về CHO VAY Và CáC BIệN PHáP
ĐảM BảO AN TOàN TRONG HOạT ĐộNG CHO VAY CủA
NGÂN HàNG THƯƠNG MạI TạI VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG TH HI YN
PHáP LUậT Về CHO VAY Và CáC BIệN PHáP
ĐảM BảO AN TOàN TRONG HOạT ĐộNG CHO VAY CủA
NGÂN HàNG THƯƠNG MạI TạI VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH THUN
H NI - 2016
1.1.1.
Khái niệm ngân hàng thương mại ..................................................... 6
1.1.2.
Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ........... 8
1.2.
Nội dung pháp luật về hoạt động cho vay và các biện pháp
đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thƣơng mại........................................................................................ 9
1.2.1.
Khái niệm........................................................................................... 9
1.2.2.
Nội dung của pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại ....................................................................................... 11
1.2.3.
Các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại ..................................................................... 21
1.3.
Qui định về giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình
cho vay của ngân hàng thương mại ................................................. 42
2.2.
Thực trạng quy định pháp luật về các biện pháp đảm bảo
an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng
mại ở Việt Nam............................................................................... 44
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY Ở VIỆT NAM ..................... 57
3.1.
Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật cho vay của ngân
hàng thƣơng mại và các biện pháp đảm bảo an toàn trong
hoạt động cho vay ở Việt Nam ...................................................... 57
3.1.1.
Xuất phát từ yêu cầu cần mở rộng, nâng cao hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam .............................. 57
3.1.2.
Xuất phát từ xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam............ 59
3.2.
nền kinh tế thị trường cạnh tranh và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng
và Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống các Ngân hàng thương
mại với chức năng đảm bảo nguồn vốn vay cho các doanh nghiệp cầu vốn để
phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh. Thực tế, hoạt động cho vay của các
ngân hàng thương mại có thể có rất nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khi thu hồi vốn
đến hạn. Để đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động của khối ngân hàng, đảm
bảo nền kinh tế phát triển ổn định, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách,
nhiều quy định pháp lý về cho vay với các biện pháp đảm bảo an toàn trong
hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hoạt động cho
vay diễn ra phức tạp dưới nhiều hình thức, nhiều biện pháp đảm bảo an toàn
trong hoạt động cho vay nhất là ở khối ngân hàng thương mại vẫn chưa phù
hợp, còn nhiều bất cập và có nguy cơ gây mất an toàn trong hoạt động cho
vay của ngân hàng. Nguyên nhân chính của các hạn chế này phần nhiều bắt
nguồn từ những bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động
1
cho vay. Do đó, để đảm bảo cung cấp nguồn vay ổn định cho doanh nghiệp và
sự phát triển kinh tế, đảm bảo việc thu hồi vốn, đảm bảo an toàn trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại, rất cần có một hệ thống pháp
luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống ngân hàng.
Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng
như thực tế áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động cho vay của
các ngân hàng thương mại và các biện pháp bảo đảm an toàn là hết sức cần
thiết trong giai đoạn hiện nay. Và trên cơ sở đó, có thể đó có thể đề ra những
phương hướng hoàn thiện có ý nghĩa thiết thực. Đây cũng là lý do tôi chọn đề
tài “Pháp luật về cho vay và các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ của mình.
lợi ích của Ngân hàng thương mại và các chủ thể bên đi vay. Từ đó tạo ra môi
trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi để Các Ngân hàng thương mại sử
dụng hiệu quả nguồn vốn đã huy động được, đồng thời khách hàng vay cũng
được tiếp cận với nguồn vốn hữu ích nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đánh giá thực trạng
pháp luật về hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại để trên cơ sở
đó để ra các biện pháp tối ưu nhằm đảm bảo cho các hoạt động trên.Từ mục
tiêu đó, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là:
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan trực tiếp đến đề tài về
hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, về pháp luật điều chỉnh
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng phát
hiện những bất cập trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại.
Đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của các
ngân hàng thương mại và các biện pháp bảo đảm an toàn.
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp
luật Việt Nam, các tài liệu liên quan đến hoạt đông cho vay của các ngân hàng
thương mại và các biện pháp an toàn, một số quy định của pháp luật nước
ngoài về hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn không bao gồm
tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt
Nam mà giới hạn ở các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của
các ngân hàng thương mại và biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của
các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, đặc biệt là các biện pháp đảm bảo tiền
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay và các biện pháp
đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cho vay và
các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY, PHÁP LUẬT VỀ
CHO VAY VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT
ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động cho vay của ngân hàng
thƣơng mại
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ
doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có vốn thì doanh nghiệp
sẽ khó có thể mở rộng sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng thương mại với tư
cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ. Ngân hàng
thương mại sẽ cung cấp nguồn vốn vay cho mọi tổ chức, cá nhân, mọi
thành phần kinh tế… hình thành nên quỹ tín dụng cho vay và sử dụng
chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Ngân hàng thương mại đã
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh
doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có
thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Với
khả năng cung cấp vốn, Ngân hàng thương mại đã trở thành một trong
những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Vậy Ngân
hàng thương mại là tổ chức như thế nào?
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia,
huy động được vào đúng những nhà doanh nghiệp cần vốn, góp phần không
nhỏ tăng hiệu quả của đồng vốn trên thị trường. Thêm vào đó với hoạt động
cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngân hàng sẽ trực tiếp tạo điều kiện cho
người sử dụng vốn quay vòng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Đó là vai
trò trực tiếp của hoạt động cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế.
Như vậy, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực
7
tiếp với các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách
nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, sau đó sử dụng nguồn vốn đó để cho vay, chiết
khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ngân hàng
cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Ngân hàng thương mại
có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sống còn tới nền kinh tế của
mỗi quốc gia. Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng, hoạt
động của ngân hàng thương mại ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp
luật về ngân hàng thương mại còn phải tuân thủ các quy định có liên quan đối
với tổ chức tín dụng.
1.1.2. Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Trên thực tế hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động khá phổ
biến xuất phát từ nhu cầu cần vốn của cá nhân, doanh nghiệp để sản xuất kinh
doanh, tiêu dùng. Do đó, xuất hiện hoạt động vay vốn. Người cần vốn chính
là các tổ chức, cá nhân đồng thời họ cũng là những chủ thể có khả năng cung
cấp vốn. Cho vay là quan hệ giữa hai bên chủ thể, trong đó một bên cho vay
còn một bên đi vay. Người cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn cho người
đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian quy định trên
cơ sở sự tín nhiệm. Hoạt động cho vay của ngân hàng mang bản chất chung
của quan hệ vay mượn đó là có sự hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian
nhất định. Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức trung gian về tài
người quản lý của ngân hàng phải nhận biết và kiểm soát được.
1.2. Nội dung pháp luật về hoạt động cho vay và các biện pháp đảm
bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm
Để đảm bảo an toàn cho các khoản vay, đảm bảo nguồn vốn cho vay
không mất cân đối trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo cho
vay đúng đối tượng, đủ điều kiện vay, kiểm soát được rủi ro, hầu hết các
quốc gia có hệ thống ngân hàng thương mại đều ban hành các quy định
9
pháp luật về hoạt động cho vay. Do đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động cho
vay của tổ chức tín dụng bao gồm bộ phận pháp luật điều chỉnh các chủ thể
tham gia vào quan hệ cho vay; điều chỉnh hình thức pháp lý của hoạt động
cho vay và các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của tổ
chức tín dụng. Theo đó, pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ngân hàng thương mại cấp tín
dụng cho khách hàng thông qua nghiệp vụ cho vay. Hình thức pháp lý của
hoạt động cho vay được thể hiện chủ yếu trong hợp đồng tín dụng với
những nội dung quan trọng trong việc tạo lập hành lang pháp lý an toàn
cho sự phát triển của hoạt động này.
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại nhất thiết phải được điều
chỉnh bởi các quy định của pháp luật bởi:
Một là, xuất phát từ vị trí của hoạt động cho vay. Đây được coi là hoạt
động rất quan trọng của ngân hàng thương mại. Vì nó tạo ra nguồn lợi duy trì
hoạt động của ngân hàng thương mại.
Hai là, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn
nhiều rủi ro lớn. Tính rủi ro này bắt nguồn từ đặc thù của đối tượng nghiệp vụ
khoản này, các bên cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng. Thông thường, các
điều kiện vay vốn về cơ bản bao gồm:
(i) Năng lực hành vi dân sự: Đây là quy định quan trọng vì chỉ có
người có đủ năng lực hành vi dân sự mới thực hiện và hiểu được việc mình
cần thực hiện và chịu trách nhiệm với việc mình cần thực ra sao.
(ii) Khả năng tài chính lành mạnh đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam
kết trong hợp đồng tín dụng.
(iii) Có tài sản đảm bảo
(iv) Có bảo lãnh của bên thứ ba
Về trường hợp vay vốn có bảo lãnh của bên thứ ba thì theo yêu cầu của
11
doanh nghiệp, ngân hàng thương mại sẽ phát hành cam kết bằng văn bản với
một bên thứ ba do doanh nghiệp chỉ định (bên nhận bảo lãnh), theo đó, ngân
hàng thương mại sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh
khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có thể là chính khách
hàng doanh nghiệp hoặc các tổ chức/cá nhân khác mà doanh nghiệp muốn
ngân hàng thương mại bảo lãnh.
Ngoài ra, trường hợp khách hàng vay vốn là đơn vị hạch toán kinh tế
phụ thuộc của pháp nhân, ngoài các điều kiện trên phải có thêm các điều
kiện (a) là pháp nhân là doanh nghiệp nhà nước: Đơn vị phụ thuộc phải có
giấy uỷ quyền vay vốn của đơn vị chính. Nội dung uỷ quyền phải được thể
hiện rõ: mức dư nợ cao nhất, thời hạn vay vốn, mục đích vay vốn và cam
kết trả nợ thay khi đơn vị phụ thuộc không trả được nợ; (b) là pháp nhân
khác: Đơn vị phụ thuộc phải có giấy uỷ quyền vay vốn của đơn vị chính.
Nội dung uỷ quyền phải được thể hiện rõ: mức dư nợ cao nhất, thời hạn
vay vốn, mục đích vay vốn và cam kết trả nợ thay khi đơn vị phụ thuộc
tư cách pháp lý khác nhau nên những chủ thể này có những quyền và nghĩa
vụ khác nhau. Các quyền và nghĩa vụ này được phát sinh từ nội dung thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng, đồng thời các điều khoản có giá trị pháp lý
ràng buộc đối với các bên giao kết hợp đồng tín dụng.
Cụ thể, về Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay là:
Với tư cách là bên cho vay, đồng thời là chủ nợ trong quan hệ cho vay,
bên cho vay có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản sau đây:
Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư,
phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục
vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước
khi quyết định cho vay. Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy
không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có
13
hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc tổ chức tín dụng
không có đủ nguồn vốn để cho vay.
Tiền gửi là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản Nợ của từng Ngân
hàng thương mại, hoạt động kinh doanh tín dụng của các Ngân hàng thương
mại chủ yếu bằng vốn của người khác tức là chủ yếu bằng tiền gửi mà các
Ngân hàng thương mại đã huy động được;do đó chúng ta vẫn thường nói các
Ngân hàng thương mại bằng cách “đi vay để cho vay” hay kinh doanh trên sự
kinh doanh của người khác. Việc cho vay và đầu tư của các ngân hàng thương
mại luôn gắn liền với rủi ro.
Do đó, thực hiện tốt việc thẩm tra tính xác thực của các tài liệu sẽ có ý
nghĩa hết sức to lớn, ảnh hưởng tới hoạt động của các Ngân hàng thương mại.
Vì vậy, khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, hay vi phạm
hợp đồng… thì Ngân hàng thương mại được quyền chấm dứt việc cho vay,
thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện khách hàng hoặc người bảo lãnh vi phạm
khăn cho bên vay. Như vậy, cần có những yêu cầu đối với việc áp dụng quy
định này trong thực tiễn thực thi pháp luật.
Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thoả thuận, kể cả tiền
phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có).
Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có
thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay
theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật
hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp
khách hàng được bảo lãnh vay vốn; Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều
chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định
Bên cạnh đó, Quyền và nghĩa vụ của bên vay như sau:
Với tư cách là người hưởng tín dụng, đồng thời là đối tượng vay vốn
trong quan hệ cho vay, bên vay có những quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của Ngân hàng thương mại khi
kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng.
15
Quyền năng này được pháp luật quy định nhằm tạo cho khách hàng vay
khả năng chống lại các yêu cầu rõ ràng là không hợp lý của Ngân hàng
thương mại, có thể gây ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thoả mãn các
yêu cầu này, ví dụ khách hàng vay có quyền từ chối cung cấp thông tin và
hoạt động kinh doanh của mình nhưng rõ ràng là không liên quan gì đến việc
sử dụng vốn và hoàn trả vốn vay cho Ngân hàng thương mại …
Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc
các vi phạm hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Đây là một quyền năng pháp luật quy định, với mục tiêu nhằm bảo vệ
lợi ích hợp pháp của khách hàng vay trước những hành vi không có căn cứ
hợp pháp của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép khách
hàng vay được quyền đệ đơn khiếu nại đối với tổ chức tín dụng nhận hồ sơ
khi thời hạn sử dụng vốn vay đã hết. Còn nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm hợp
đồng hay bồi thường thiệt hại thì chỉ phát sinh khi xảy ra sự vi phạm hay sự
thiệt hại mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh do
một phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hay trọng tài. Về nguyên
tắc, các nghĩa vụ này của bên vay sẽ chấm dứt khi nào chúng đã được bên vay
thực hiện xong trên thực tế.
Bốn là, Qui định về phƣơng thức cho vay và mục đích sử dụng vốn vay
Về cơ bản, các ngân hàng thương mại và khách hàng căn cứ vào nhu
cầu sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả
nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận
về thời hạn cho vay. Đối với các pháp nhân và nước ngoài, thời hạn cho vay
không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy
phép hoạt động ở nước sở tại; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay
không vượt quá thời hạn được phép sinh sống ở nước sở tại
Thứ nhất là cho vay ngắn hạn: thời hạn sử dụng vốn vay do các bên
thỏa thuận đến một năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho
việc đầu tư vào tài sản lưu động.
17
Thứ hai là cho vay trung hạn và dài hạn: thời hạn sử dụng vốn vay do
các bên thỏa thuận từ trên một năm trở lên.
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12
tháng đến 60 tháng. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc
đầu tư vào tài sản cố định như: đầu tư mua vật tư máy móc, hệ thống trang
thiết bị sản xuất kinh doanh, …
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn vay từ trên 60 tháng
trở lên. Mục đích của loại cho vay này là thường là nhằm tài trợ đầu tư vào
các dự án đầu tư.Thời gian thu hồi vốn của các chủ thể có nhu cầu vay là
lâu, phải có thời gian kinh doanh lâu dài, ví dụ như: vay vốn để đầu tư bất
pháp luật Việt Nam quy định phải mua bảo hiểm. Khách hàng khi cho vay có
thể xảy ra rủi ro nhất định, vậy nên việc tham gia mua bảo hiểm là việc cần
thiết để đảm bảo số vốn vay được an toàn.
Khách hàng vay vốn ngân hàng phải có dự án đầu tư, phương án sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương
án phục vụ đời sống khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi phù hợp với
quy định của pháp luật. Khi cá nhân hoặc doanh nghiệp vay ngân hàng nguồn
vốn để sản xuất kinh doanh thì phải có kế hoạch, phương án đầu tư nguồn vốn
cụ thể, xác định thời hạn trả nợ và trả đúng số nợ kèm lãi suất cho vay.
Cuối cùng là thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định
của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.
Năm là, Quy định về thủ tục vay vốn ngân hàng
Quy trình cho vay vốn là tổng hợp các bước cụ thể từ khi tiếp nhận nhu
cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng thương mại quyết định
cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng. Dựa trên những điều kiện
của mình thì các ngân hàng thương mại sẽ tự thiết kế những quy trình, thủ tục
cho vay cụ thể theo luật định, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau là: giao kết
hợp đồng tín dụng và thực hiện hợp đồng tín dụng.
19
Đây là giai đoạn quan trọng để xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý
của các bên khi tham gia vào hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Sáu là: Qui định về giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá
trình cho vay của ngân hàng thương mại
Về qui định giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình cho vay
của ngân hàng thương mại thì Điều khoản về giải quyết tranh chấp về hợp
đồng tín dụng là nội dung hết sức quan trọng. Đây là điều khoản mang tính
chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về biện pháp giải quyết