Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng - Pdf 38

LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển bền vững là điều mà các quốc gia luôn luôn mong đợi, quan
điểm này được thể hiện ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực tài chính ngân
hàng không nằm ngoài ý nghĩa của quan điểm này. Điều này thể hiện một quốc
gia có nền kinh tế phát triển phải có một hệ thống các quy định nhằm đảm bảo
an toàn hoạt động của các thiết chế tài chính, tránh cho các thiết chế này khỏi
những rủi ro, tổn thất. Từ đó, các thiết chế tài chính sẽ góp phần thúc đẩy nền
kinh tế phát triển và ngược lại nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các
thiết chế tài chính hoạt động.
Nhằm góp phần tìm hiểu, phân tích, đánh giá những quy định của pháp
luật trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín
dụng, em xin chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động
huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng” làm đề tài bài tập
học kỳ của mình.
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài viết bao gồm 3 nội dung chính
sau:
I.

Khái niệm về tổ chức tín dụng

II.

Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ
chức tín dụng và thực tiễn áp dụng

III.

Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định về đảm bảo
an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng

1

kinh doanh. Và cũng không phải lúc nào các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
cũng được huy động để đầu tư kịp thời. Từ những hạn chế đó, họ đã trở thành
2


khách hàng của các tổ chức tín dụng. Do đó, với tư cách là những định chế tài
chính trung gian, các tổ chức tín dụng kinh doanh bằng cách luân chuyển nguồn
vốn từ những đối tượng có nguồn vốn nhàn rỗi chuyển đến những đối tượng có
nhu cầu sử dụng vốn tại một thời điểm nhất định.
Thứ ba, hoạt động của các tổ chức tín dụng có tính nhạy cảm cao và luôn
chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật. Kinh doanh ngân hàng dựa trên niềm
tin, vì vậy tính nhạy cảm trong kinh doanh rất cao. Chỉ cần một biến động nhỏ
cũng có thể gây tác động đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng (một thay đổi
nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến sự dịch chuyển khách hàng từ ngân hàng này
sang ngân hàng khác).
Nếu các tổ chức tín dụng hoạt động tốt sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn
lực, giảm thiểu chi phí cho xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển bền vững. Ngược lại, khi tổ chức tín dụng phá sản sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến các khách hàng gửi tiền và sự phá sản của tổ chức tín dụng luôn có hiệu
ứng dây chuyền, lây lan rất lớn và tác động xấu đến đời sống kinh tế, cho nên
các hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được giám sát chặt chẽ, thường xuyên
bằng pháp luật. Những quy chế giám sát phổ biến là: quy định về an toàn trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng, quy chế phân phối tín dụng, quy chế về bảo vệ
nhà đầu tư, quy chế về thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho các tổ chức
tín dụng…
Thứ tư, kinh doanh ngân hàng gắn liền với yếu tố rủi ro. Rủi ro có thể xảy
ra với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Tuy nhiên, rủi ro tropng kinh doanh ngân
hàng có những đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác về mức độ
và nguyên nhân. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền và để lại
hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành mà còn của tất cả các

nước. Quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức của các tổ chức tín dụng bị hạn
chế bởi những quy định về bảo đảm an toàn. Pháp luật Việt Nam đã quy định
bốn hình thức huy động vốn của tổ chức tín dụng là nhận tiền gửi, phát hành
giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, và vay vốn của Ngân hàng nhà
nước. Với các hình thức khá đa dạng như vậy, phần nào đã tạo được sự ổn định,
chất lượng về vốn và đáp ứng kịp thời khả năng chi trả. Trong mỗi hình thức đó,
pháp luật cũng đặt ra những yêu cầu, điều kiện riêng thích ứng nhằm bảo toàn
tốt nhất cho các nguồn huy động vốn.
4


1. Đảm bảo an toàn cho hoạt động nhận tiền gửi
Trong các hình thức huy động vốn thì nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu
và quan trọng nhất bởi nguồn vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng tập trung
phần lớn ở đây. Tuy nhiên nghiệp vụ này lại chứa đựng những rủi ro nhất định
do các tổ chức tín dụng dễ lâm vào tình trạng không thanh toán, hoàn trả được
tiền gửi của khách hàng, không bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền, người
đầu tư. Do vậy, luật các tổ chức tín dụng cũng như các văn bản hướng dẫn đã rất
chú trọng tới loại quy phạm an toàn này trong các quy định cụ thể của mình.
a. Quy định về hình thức các loại tiền gửi được nhận của các loại hình tổ
chức tín dụng
Với các tổ chức tín dụng là ngân hàng. Nếu như tại pháp lệnh ngân hàng
trước kia, các hình thức nhận tiền gửi không được quy định rõ thì tại Luật các tổ
chức tín dụng đã quy định khách hàng được gửi tiền vào ngân hàng dưới hình
thức không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Quy định
này một mặt đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mặt khác đảm bảo cho ngân hàng
tập trung thu hút được mọi khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư, dù là nhỏ nhất. Bên
cạnh ý nghĩa đó, quy định này còn có vai trò rất quan trọng và cần thiết cho sự
an toàn tiền gửi của khách hàng. Việc phân ra các hình thức tiền gửi giúp cho
ngân hàng có kế hoạch sử dụng vốn phù hợp, thích ứng với tính chất từng loại

xuất, kinh doanh và đời sống. Việc vay vốn rộng rãi từ dân chúng để phục vụ lợi
ích cho bản thân nhóm người này sẽ dẫn đến những tiêu cực ảnh hưởng đến
quyền lợi của những người gửi tiền khác.
Như vậy, các quy định về hình thức nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
đã bước đầu tạo ra sự an toàn tối thiểu cho hoạt động huy động vốn.
b. Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
Vì là chủ thể cầm giữ tiền của rất nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội nên
các tổ chức tín dụng sẽ gặp nguy hiểm khi có thể do không chi trả được tiền gửi
do một nguyên nhân nào đó. Do vậy, để đảm bảo an toàn thì pháp luật các nước
cũng như pháp luật Việt Nam đều định ra các tỷ lệ bảo đảm an toàn nhất định
mà việc duy trì nó sẽ đảm bảo được phần nào khả năng thanh toán, trả nợ của
các tổ chức tín dụng.
Trước hết, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhận tiền gửi phải
đảm bảo các quy định về khả năng chi trả. Theo quy định tại Điều 12 Quyết định
6


457/2005/QĐ-NHNN, tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả
năng chi trả:
“1. Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “có” có thể thanh toán ngay
và các tài sản “nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo.
2. Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “có” có thể thanh toán ngay
trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản nợ phải thanh
toán trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo.”
Tài sản “có” được phân nhóm theo các mức độ rủi ro bao gồm nhóm tài
sản “có” hệ số rủi ro 0%, 20%, 50% và 100%.
Thứ hai, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhân tiền gửi phải
đảm bảo các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “có”, kể cả các cam kết
ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Vốn tự có của các tổ chức tín

khách hàng đến rút tiền mà tổ chức tín dụng lại không thanh toán được bởi tiền
đã tạo thành vốn trung hạn hoặc dài hạn cho nền kinh tế, tổ chức tín dụng không
thể rút lại số tiền đã cho vay khi chưa đáo hạn. Do vậy, việc quy định tỷ lệ tối đa
nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn là hết sức cần
thiết, việc cho vay tuỳ tiện dẫn đến mất khả năng thanh toán. Tỷ lệ này càng nhỏ
thì càng an toàn cho các tổ chức tín dụng nhưng đồng thời nó vẫn phải tạo điều
kiện cho các tổ chức tín dụng gia tăng tín dụng trung, dài hạn cho nền kinh tế.
Theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, tỷ lệ này đối với Ngân hàng thương mại
là 40% và đối với các tổ chức tín dụng khác là 30%.
Thứ tư, tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi. Tổ chức tín dụng
khi có được tiền gửi luôn mong muốn cho vay nhiều để thu lợi nhuận. Trong khi
đó hoạt động cho vay luôn chứa nhiều bất trắc, việc không thu hồi được nợ hoặc
thu hồi chậm trong khi không còn dư một khoản tiền nào bù đắp cho việc thanh
toán là hết sức nguy hiểm. Nếu không quy định tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với
số tiền gửi tức là đã không cho tổ chức tín dụng “một lối thoát” để đảm bảo an
toàn. Vì thế với tư cách là trung gian tài chính, luôn có nghĩa vụ thanh toán đầy
đủ cho khách hàng, không bao giờ các tổ chức tín dụng lại cho vay hết số tiền
gửi mà mình nhận được.
Thứ năm, các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác. Hoạt động kinh doanh của các
tổ chức tín dụng không chỉ dừng lại ở việc cấp tín dụng, làm dịch vụ thanh toán
8


mà còn có các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh bất động
sản… Đây là những hoạt động đòi hỏi đầu tư khá nhiều vốn, vì thế nếu không
quy định một tỷ lệ nhất định trong việc đầu tư vào những hoạt động này sẽ dễ
gây ảnh hưởng, rủi ro tới các hoạt động kinh doanh chính yếu của tổ chức tín
dụng.
c. Quy định về dự trữ bắt buộc
Các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân

hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, tỉ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%,
đối với tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4%
lên 5%; Đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và cón kỳ hạn dưới 12
tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc tăng từ 4% lên 5%
Ba là, không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín
dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn (Ngân hàng nông nghiệp,
Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương,
Ngân hàng hợp tác) nhằm hỗ trợ các tổ chức tín dụng này mở rộng tác dụng
phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp- nông thôn.
Bốn là, việc thay đổi cơ chế và tỷ lệ dự trữ bắt buộc chưa áp dụng ngay
trong tháng 1 năm 2008 mà có hiệu lực thi hành kể từ tháng 2 năm 2008 để tạo
điều kiện cho các tổ chức tín dụng chuẩn bị vốn để dự trữ bắt buộc.
d. Quy định về bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức tín dụng có thực hiện hoạt động nhận tiền gửi phải tham gia tổ
chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi (theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Luật
các tổ chức tín dụng).
Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm phi thương mại, theo đó tổ chức
tín dụng và các tổ chức có hoạt động nhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng
Việt Nam thì bắt buộc phải tham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo
hiểm tiền gửi tại Việt Nam. Khi có văn bản chấm dứt hoạt động đối với tổ chức
tín dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức tín dụng mất khả năng
thanh toán thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sẽ có trách nhiệm thay tổ
chức tín dụng trả khoản tiền gửi được bảo hiểm của các cá nhân gửi tiền ở tổ
chức tín dụng tham gia bảo hiểm, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi tính đến thời
10


điểm có sự kiện bảo hiểm, nhưng không vượt quá giới hạn tối đa số tiền bảo
hiểm pháp luật quy định. Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi


chức tín dụng. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là liệu các quy định về bảo hiểm
tiền gửi đó có phù hợp với mọi loại hình tổ chức tín dụng Việt Nam? Nói một
cách cụ thể thì các quy định này khó có thể đáp ứng được an toàn cho hệ thống
quỹ tín dụng nhân dân, một loại hình có nhiều đặc thù riêng vì: Thứ nhất, bảo
hiểm tiền gửi chỉ cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi của dân cư, trong khi đó
nguồn vốn vay của quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu là từ nguồn vốn điều hoà quỹ
khả dụng…Thứ hai, sẽ rất khó khăn để bảo hiểm tiền gửi giám sát kiểm tra theo
dõi trên dưới 1000 quỹ tín dụng nhân dân. Thứ ba, nó chỉ cho vay hỗ trợ các tổ
chức tín dụng có vai trò quan trọng. Vì thế, để đáp ứng nhu cầu này quỹ an toàn
hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở nước ta đã được thành lập.
e. Quy chế kiểm soát đặc biệt
Khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh
toán thì cũng có nghĩa tổ chức tín dụng đó có nguy cơ phá sản. Trong trường
hợp này, pháp luật đã đặt ra một biện pháp quản lý nhà nước gọi là kiểm soát
đặc biệt, do Ngân hàng nhà nước áp dụng nhằm giúp các tổ chức tín dụng vượt
qua khó khăn tài chính đó. Vì thế, Ban kiểm soát đặc biệt được thành lập sẽ thực
hiện rất nhiều công việc như chỉ đạo, giám sát việc triển khai các giải pháp đã
nêu trong phương án, đình chỉ các hoạt động ngân hàng có thể gây phương hại
đến lợi ích người gửi tiền… Ngoài ra, Ban kiểm soát đặc biệt còn có quyền kiến
nghị với Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ra hạn hoặc chấm dứt thời hạn
kiểm soát đặc biệt; về khoản cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng trong
trường hợp cấp bách để bảo đảm khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng.
Như vậy, vai trò kiểm soát đặc biệt rất quan trọng. Nó giúp cho tỷ lệ thua
lỗ, phá sản của hệ thống tổ chức tín dụng giảm đi bởi những biện pháp tích cực
và thiết thực được đưa ra thực hiện.
Với các quy định về hình thức các loại tiền gửi, các tỷ lệ bảo đảm an toàn,
quỹ dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi cũng như chế độ kiểm soát đặc biệt mà
trong hoạt động nhận tiền gửi đã được pháp luật bảo vệ an toàn, tránh nguy cơ
mất khả năng chi trả, thanh toán. Đây là những biện pháp đổi mới hơn so với

chức tín dụng khó đạt được. Do vậy, việc quy trì quy định này là cần thiết.
Về điều kiện phát hành giấy tờ có giá: tổ chức tín dụng chỉ được phát
hành giấy tờ có giá ngắn hạn tuân thủ đầy đủ các hạn chế để đảm bảo an toàn
trong hoạt động. Đối với giấy tờ có giá dài hạn, ngoài các điều kiện quy định
13


như đối với phát hành giấy tờ có giá ngắng hạn, các tổ chức tín dụng phải được
Ngân hàng nhà nước cho phép và đảm bảo có tình hình tài chính lành mạnh theo
đánh giá của thanh tra Ngân hàng nhà nước. Quy định này nhằm hạn chế việc
các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá một cách tràn lan để huy động vốn
mà không có khả năng hoàn trả cho khách hàng.
3. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc vay vốn của tổ
chức tín dụng khác
Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế- xã hội,
pháp luật còn cho phép tổ chức tín dụng được vay vốn của các tổ chức tín dụng
trong nước và các tổ chức tín dụng nước ngoài.
Nhu cầu vay lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng là tất yếu và cần thiết vì
trong quỹ của chúng thường xuyên có tình trạng thừa hoặc thiếu tiền cho việc
chi trả, thanh toán. Hai bên đều có nhu cầu gặp nhau để vay hoặc cho vay nhằm
bù đắp thiếu hụt thanh toán tạm thời, tránh việc tập trung vào Ngân hàng nhà
nước vì như thế sẽ đẩy vào lưu thông một lượng tiền mới là lượng tiền không
phải thiếu thực sự (bởi các chủ thể khác đang nắm lượng tiền thừa). Xuất phát từ
thực tế này mà một loại thị trường tiền tệ được ra đời gọi là thị trường liên ngân
hàng mà thành viên tham gia chỉ là các ngân hàng với nội dung hoạt động là tiến
hành mua bán các khoản vay ngắn hạn trên cơ sở các hợp đồng vay ngắn hạn.
Việc vay vốn giữa các tổ chức tín dụng nhằm điều hoà, phân phối vốn để
tăng cường khả năng thanh toán, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động của
từng tổ chức tín dụng. Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng.

có thể được Ngân hàng nhà nước cho vay khi được Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận.
Như vậy, bằng những quy định phù hợp và linh hoạt của mình, pháp luật
đã bảo vệ được cho hoạt động huy động vốn mà cụ thể gồm nhận tiền gửi, phát
hành giấy tờ có giá, vay vốn của tổ chức tín dụng khác và vay vốn của Ngân
hàng nhà nước. Điều này rất có ý nghĩa để tạo ra một lượng vốn an toàn và ổn
định, đáp ứng nhu cầu kinh doanh và đảm bảo được khả năng chi trả, thanh toán
của các tổ chức tín dụng.
15


III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT PHÁP LÝ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Huy động vốn là một trong các hoạt động chủ yếu của tổ chức tín dụng,
pháp luật hiện hành đã có những quy định nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động
này, thế nhưng qua thực tiễn áp dụng pháp luật, các quy định đảm bảo an toàn
cho hoạt động này đã bộc lộ những điểm bất cập, đó là sự quy định cứng nhắc,
gây không ít khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi tiến hành hoạt động kinh
doanh của mình, cụ thể như:
Đối với hoạt động nhận tiền gửi
Thứ nhất, quy định về hình thức các loại tiền gửi được nhận của các loại
hình tổ chức tín dụng như hiện nay là không hợp lý, nhất là đối với các tổ chức
tín dụng là ngân hàng. Tại Khoản 3 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng thì tổ
chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn; theo
Khoản 2 Điều 45 Luật các tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng phi ngân hàng
được nhận tiền gửi có kỳ hạn 1 năm trở lên. Tuy nhiên, trong thực tế, một khách
hàng gửi tiền thường có nhu cầu gửi cả ngắn hạn lẫn trung, dài hạn, nếu tổ chức
tín dụng chỉ thực hiện huy động một hình thức ngắn hạn hoặc trung hạn thì sẽ
hạn chế rất nhiều về mặt thu thút khách hàng và lãng phí nhân lực cũng như cơ

thiết”. Nhưng ban kiểm soát đặc biệt lại không được giao quyền trong việc chỉ
định ban quản trị lâm thời để tiếp tục điều hành tổ chức tín dụng trong thời gian
kiểm soát đặc biệt. Vì vậy, trong luật cần quy định rõ quyền của Ban kiểm soát
đặc biệt trong việc chỉ định Ban quản trị lâm thời. Ngoài ra, Điều 96 Luật các tổ
chức tín dụng cần quy định cụ thể giao quyền cho chính phủ xử lý trường hợp
khoản vay đặc biệt không thể thu hồi trong tình huống đặc biệt.
Đối với việc vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
Điều 47 Luật các tổ chức tín dụng cho phép các tổ chức tín dụng được
vay vốn lẫn nhau và vay vốn của tổ chức tín dụng nước ngoài, nhưng Nghị định
48/2001/NĐ-CP ngày 13-8-2001 về tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân
dân (kể cả mẫu điều lệ quỹ tín dụng nhân dân cơ sở) không cho phép các quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở gửi vốn, cho vay vốn trực tiếp với nhau. Quy định này phù
hợp với thực tế của thời gian tập trung thực hiện công tác củng cố, chấn chỉnh
hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân nhưng không phù hợp với Luật
17


(văn bản luật mà trái lại với Luật), các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực sự bị
hạn chế hoạt động, hiện nay quỹ tín dụng trung ương chưa làm đầy đủ vai trò,
trách nhiệm trong điều hoà vốn đối với các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thành
viên nhất là cho vay chi trả tiền mặt…Đề nghi khi cơ bản hoàn thành công tác
củng cố, chấn chỉnh hoạt động quỹ tín dụng nhân dân, Chính phủ, Ngân hàng
nhà nước cần nghiên cứu cho phép các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thực
hiện “vay vốn của nhau” và nhất là tổ chức tín dụng nhà nước phải có cơ chế để
cho các quỹ tín dụng nhân dân vay vốn khi cần thiết như luật đã cho phép.
Về việc vay vốn của Ngân hàng nhà nước.
Tại Điều 30 của Luật Ngân hàng nhà nước quy định “tổ chức tín dụng là
ngân hàng được vay vốn ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn”. Đề nghị bỏ cụm
từ “là ngân hàng” và sửa lại là “tổ chức tín dụng được vay vốn ngắn hạn của
Ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn”. Nếu được sửa như vậy thì các

MỤC LỤC
I. Khái niệm về tổ chức tín dụng ……………………………..

2

II. Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn
của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng ……………...

4

1. Đảm bảo an toàn cho hoạt động nhận tiền gửi …................

5

2. Bảo đảm an toàn cho hoạt động phát hành giấy tờ có giá …

13

3. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc
vay vốn của tổ chức tín dụng khác ……………………………

14

4. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc
vay vốn của Ngân hàng nhà nước …………………………….

15

III. Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định
về đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ

dụng, em xin chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động
huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng” làm đề tài bài tập
học kỳ của mình.
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài viết bao gồm 3 nội dung chính
sau:
IV.

Khái niệm về tổ chức tín dụng

V.

Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ
chức tín dụng và thực tiễn áp dụng

VI.

Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định về đảm bảo
an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng

10.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status