Tìm hiểu pháp luật về hoat động cho vay của các Tổ chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ở tất cả các quốc gia, các tổ chức tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, ngay trong điều kiện
nước nhà mới độc lập và thực hiện công cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống các Tổ chức
tín dụng của chế độ mới. Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây luôn
đạt tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực. Với mức độ tăng trưởng như hiện
nay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là hết sức lớn. Trong điều kiện hiện nay, đầu
tư nước ngoài chưa đạt được mức kế hoạch, ngược lại ở nhiều nơi còn có dấu
hiệu giảm sút thì chủ trương dựa vào nguồn vốn trong nước đang được thực hiện
triệt để. Tuy nhiên, các kênh huy động vốn từ nội lực kinh tế còn hẹp. Thị
trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành và chưa thật sự trở thành
kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy phần lớn các
doanh nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt động chủ yếu dựa
trên nguồn vốn vay từ các Tổ chức tín dụng. Từ đo khẳng định tín dụng ngân
hàng trong giai đoạn hiện nay sẽ còn tiếp tục là một kênh cung cấp vốn quan
trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi
quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh. Muốn vậy, Chính phủ phải
thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn
cho hệ thống ngân hàng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng như
thực tế áp dụng các quy dịnh của pháp luật trong hoạt động cho vay của các Tổ
chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn là hết sức cần thiết trong giai
đoạn hiện nay. Và trên cơ sở đó,có thể đó có thể đề ra những phương hướng
hoàn thiện có ý nghĩa thiết thực. Đây cũng là lý do sinh viên chọn đề tài “Tìm
hiểu pháp luật về hoat động cho vay của các Tổ chức tín dụng và các biện
pháp bảo đảm an toàn ” làm khóa luận tốt ngiệp.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng duy
vật và sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích, đánh giá các quy
định của pháp luật, để từ đó có một số đề xuất cụ thể có ý nghĩa thiết thực.
4. Cơ cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, có
3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động cho
vay của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật trong hoạt động cho vay
của các Tổ chức tin dụng.
Chương II: Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của Tổ
chức tín dụng.
Chương III: Thực trang và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt
động cho vay của các Tổ chức tín dụng và pháp luật bảo dảm an toàn.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC
TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1. Khái niệm và phân loại cho vay của tổ chức tín dụng
1.1. Khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì có các định nghĩa sau về cho vay
“ Cho vay là đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn
lẫn tỷ suất lãi theo quy định :cho vay tiền để phát triển sản xuất.”
“Cho vay cầm chứng từ là hình thức cho vay dựa vào những chứng từ sở
hữu hàng hóa (vận đơn ,phiếu lưu kho làm đảm bảo….).”
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi một tổ chức hay cá nhân đều phải có
hoặc tự tìm kiếm cho mình một nguồn vốn nhất định để tham gia vào các quan
hệ mua bán, trao đổi hay đầu tư... Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào hoặc
không phải bất cứ chủ thể nào cũng có vốn hoặc có đủ vốn tiền tệ kinh doanh.

đi vay (bên được bảo lãnh) nhận được chính là khoản tiền mà ngân hàng (bên
bảo lãnh) phải trả cho bên có quyền trong trường hợp bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
1.2. Phân loại cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD)
Việc phân loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý luận và
thực tiễn .điều đó thể hiện ở chỗ ,dựa vào kết quả phân loại cho vay mà các nhà
làm luật có thể xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động
thực tiễn nghiệp vụ của các tổ chức tin dụng.Mặt khác cũng dựa trên kết quả
phân loại cho vay mà mỗi TCTD có thể xây dựng ,hoạch định cho mình chiến
lược kinh doanh phù hợp ,mang tính khả thi và hiệu quả.Đặc biệt việc phân loại
cho vay còn giúp cho các TCTD ở cơ sở lý luận để xây dựng thành các quy tắc
kỹ thuật nghiệp vụ tương thích với từng loại hình nghiệp vụ cho vay nhằm phục
vụ cho việc triên khai các hoạt động cho vay của mình trong thực tiễn.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.1. Phân loại cho vay dựa vào thời hạn vay
Thời hạn vay theo quy đinh tại điều 10,Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
“Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời
hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn
cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về thời hạn cho vay. Đối với các pháp
nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động
còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với
cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh
sống, hoạt động tại ViệtNam.
Cho vay ngắn hạn :thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận đến
một năm.Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài
sản lưu động.
Cho vay trung hạn và dài hạn: thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa
thuận từ trên một năm trở lên .
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng

Ngoài các căn cứ trên để phân loại cho vay ,thì theo các quy định của
pháp luật một số nước trên thế giới còn phân loại cho vay theo một số căn cứ
khác ,ví dụ như theo pháp luật Hoa kỳ thì việc phân loại cho vay còn căn cứ
vào:phương pháp hoàn trả là hoàn trả một lần “trả một lần thườnglà những
khoản cho vay thẳng,hợp đồng yêu cầu hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gian
đáo hạn cuối cùng “, hoặc hoàn trả theo hình thức trả góp “trả góp là hoàn trả
gốc và lãi theo định kỳ”.
2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
2.1. Các quy định của pháp luật về quy trình cho vay vốn của các Tổ chức
tín dụng đối với khách hàng
2.1.1. Quy trình cho vay vốn của các TCTD
Quy trình cho vay vốn là tổng hợp các bước cụ thể từ khi tiếp nhận nhu
cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi TCTD quyết định cho vay ,ngân và
thanh lý hợp đồng tín dụng.Dựa trên những điều kiện của mình thì các TCTD sẽ
tự thiết kế những quy trình cho vay cụ thể ,bao gồm nhiều giai đoạn khác
nhau .Sau đây là một quy trình tóm tắt được sinh viên lựa chọn để tham khảo:
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng tóm tắt quy trình cho vay
1
Các giai đoạn
của quy trình
Nguồn và nơi
cung cấp thông
tin
Nhiệm vụ của TCTD
ở mỗi giai đoạn
Kết quả của mỗi
gia đoạn
Lập hồ sơ xin vay

bộ phận có thẩm
quyền để quyết
định cho vay hoặc
từ chối cho vay.
Quyết định tín
dụng
Bổ sung các
thông tin cần
thiết dựa trên các
thông tin đã có.
Quyết định cho vay
hoặc từ chối cho vay
dựa vào kết quả phân
tích.
Quyết định cho
vay hoặc từ chối
cho vay dựa vào
kết quả phân tích.
Tiến hành các thủ
tục pháp lý như ký
Hợp đồng tín
dụng, Hợp đồng
công chứng, và
các loại hợp đồng
khác.
Giải ngân *Quyết định cho
vay và các hợp
đồng liên quan.
*Các chứng từ
làm cơ sở giải

*Báo cáo kết quả
giám sát và đưa ra
các giải pháp xử
lý.

Việc xây dựng quy trình cho vay của các TCTD là dựa trên những quy
định thực tế của pháp luật hiện hành:“Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi
cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ
điều kiện vay vốn như quy định tại Điều 7 Quy chế này. Khách hàng phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi
cho tổ chức tín dụng.”(Khoản 1 điều 14 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN).
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ
pháp lý do TCTD thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên
vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không. Trong thực tế giao dịch
ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường do các nhân viên chuyên trách
của tổ chức tín dụng thực hiện và kết thúc bằng việc lập báo cáo thẩm định hồ sơ
tín dụng. Báo cáo này được trình lên cho người quản lý có thẩm quyền của tổ
chức tín dụng quyết định về việc có cho vay hay không .Do tính đặc biệt quan
trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật
đòi hỏi bên cho vay là TCTD phải triệt để tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính đậc
lập ,phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu
thẩm định và khâu quyết định cho vay.” Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét
duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách
nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay”.(Khoản
1 Điều 15 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNNVề việc ban hành Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng)
Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình cho vay của các
TCTD có ý nghĩa hết sức quan trọng .Xây dựng một quy trình cho vay hợp lý sẽ
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo quy định tại điều 17 của Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN”… Hợp
đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay,
phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm,
giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên
thỏa thuận”.
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên
có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù
hợp với pháp luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý trí của các bên, đồng thời
cũng làm phát sinh những quyền và nghĩa vu pháp lý cơ bản của mỗi bên tham
gia hợp đồng tín dụng. Nội dung của hợp đồng tín dụng (các điều khoản của hợp
đồng) phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận ý chí, phù hợp
với pháp luật và đạo đức xã hội.
Và theo quy định tại điều 51 luật tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm
2004, nội dung của hợp pháp tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thoả thuận điều khoản này, các bên
cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải
thoả mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực. Chẳng hạn, bên vay phải có
năng lực chủ thể, có tình hình tài chính lành mạnh hay phải có tài sản cầm cố,
thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba.
Theo quy định tại điều 7 của Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN,cũng đã
có quy định rất rõ về các điều kiện đối với khách hàng khi vay vốn tại các
TCTD,ngoài các quy định đối với khách hàng là các cá nhân tổ chức Việt Nam
thì còn có các quy định đối với khách hàng là cá nhân ,nước ngoài“Đối với
khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật
dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp
nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó
được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn
bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định”.

Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: “Thời hạn cho vay là khoảng thời
gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức
tín dụng và khách hàng”. Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín dụng về ngày,
tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền trong bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng. Nếu
có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này trong
hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thoả thuận sau trong quá
trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là điều khoản rất
quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế,
các bên phải thoả thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được trả dần hàng tháng (trả góp)
hay trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay được thoả
thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khả
năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay
khi trả nợ.
Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: Các quy định của pháp luật
cũng có quy định mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp(theo quy định tại
khoản 2 điều 7 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN),và khách hàng vay cũng phải
sử dụng đúng mục đich đã cam kết .Vì vậy,trong điều khoản này, các bên cần
ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ, mua vật tư hàng hoá để
kinh doanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng…) việc thoả thuận điều khoản này
trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về
vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử
dụng vốn một cách tuỳ tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Mặt khác để
đảm bảo lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng
hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, các bên có
quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thờ cơ và
điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.

bên cho vay trong hợp đồng tín dụng và cũng phải thõa mãn các điều kiện chủ
thể giống như đối với bên cho vay là TCTD.
Theo quy định của pháp luật hiện hành ,một TCTD muốn trở thành chủ
thể cho vay trong HĐTD phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây :
Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín
dụng với khách hàng.(Điều 28 luật Các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004).
Riêng với các tổ chức không phải là TCTD .muốn trở thành chủ thể cho
vay trong hợp đồng tín dụng thì chỉ cần thỏa mãn những điều kiện như :có giấy
phép hoạt động ngân hàng ,có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người
đại diện hợp pháp .Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt
động ngân hàng được phép thực hiện.
Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay không
chỉ góp phần hạn chế ,loại trừ những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh doanh
trên thương trường ,nhờ đó góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư,mà còn là căn cứ để các luật gia hay
các thẩm phán ,trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá một cách khách
quan vấn đề hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng.
Bên vay trong HĐTD là các tổ chức ,cá nhân thỏa mãn các điều kiện do
pháp luật quy định và các điều kiện khác do các bên thỏa thuận .
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 về việc sửa
đổi bổ sung một số điều của quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với
khách hàng ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngà 31/12/2001
của Thống đốc ngân hàng nhà nước ,tại điều 2 khoản 2”Khách hàng vay tại Tổ
chức tín dụng là các cá nhân,tổ chức Việt nam và nước ngoài có nhu cầu vay

Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp
với quy định của pháp luật.
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
Với điều kiện này các bên không nhất thiết phải ghi rõ trong hợp đồng tín
dụng và nếu không ghi điều kiện này trong hợp đồng tín dụng thì cũng có thể coi
như các bên mặc nhiên thừa nhận nó theo quy định của pháp luật.Theo quy trình
nghiệp vụ tín dụng ,khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng ,bên cho vay
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phải kiểm tra ,xác minh điều kiện này trên cơ sở các tài liệu,giấy tờ làm bằng
chứng do khách hàng xuất trình như quyết định thành lập tổ chức,điều lệ của tổ
chức ,giấy chứng nhận dăng ký kinh doanh,quyết định bổ nhiệm người đứng đầu
tổ chức (đối với người vay là tổ chức)hoặc giấy chứng minh nhân dân ,giấy xác
nhận về hộ tịch ,hộ khẩu ,lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền cấp(đối với
người vay là cá nhân).
Tóm lại việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay
và bên đi vay trong hợp đồng tín dụng ngoài mục đích thiết lập trật tự ,kỷ
cương ,trong hoạt động tín dụng,còn có ý nghĩa là giải pháp nhằm bảo đảm sự
an toàn trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2.1.2.3. Một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia hợp đồng
tín dụng
Trong pháp luật thực định, do mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng có tư
cách pháp lý khác nhau nên những chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ
khác nhau. Các quyền và nghĩa vụ này được phát sinh từ nội dung thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh từ các điều khoản đã được dự liệu sẵn
của nhà lập pháp nhưng suy cho cùng chúng đều có giá trị pháp lý ràng buộc đối
với các bên giao kết hợp đồng tín dụng.
a. Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay

bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên vay. Ngoài ra bên cho vay
còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết, trừ trường hợp cả
hai bên cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng tín dụng trước thời hạn.
Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng.
“Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình
vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm hoạt
động của tổ chức tín dụng và tính chất của khoản vay, nhằm bảo đảm hiệu quả
và khả năng thu hồi vốn vay; gửi quy trình kiểm tra giám sát vốn vay của khách
hàng cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.”.
Trước khi luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi năm 2004, việc kiểm tra,
giám sát quá trình vay vốn chỉ được xem là một nghĩa vụ của tổ chức tín dụng
và khả năng pháp lý này đối với bên cho vay hoàn toàn phát sinh trên cơ sở các
bên thoả thuận chứ không phải do pháp luật quy định trước. Tuy nhiên, đứng
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trước yêu cầu đề cao trách nhiệm pháp lý của bên cho vay trong quá trình cung
cấp tín dụng, khoản 3, điều 53 Luật Các Tổ chức tín dụng ( được sửa đổi năm
2004) đã quy định việc kiểm tra, giám sát qúa trình cho vay, sử dụng vốn vay và
trả nợ của khách hàng là một nghĩa vụ pháp lý của tổ chức tín dụng chứ không
còn là một quyền năng pháp lý nữa. Với quy định này, bên cho vay có trách
nhiệm phải kiểm tra quá trình sử dụng vốn và hoàn trả vốn của khách hàng
nhằm nâng cao chất lượng quản trị các khoản tín dụng. Mặt khác, khách hàng
vay cũng buộc phải chịu sự kiểm tra, giám sát này từ phía bên cho vay nhằm tạo
điều kiện để bên cho vay tiến hành các biện pháp quản trị tíng dụng hiệu
quả.Phải chăng đây là một bất cập của pháp luật vì về mặt lý thuyết quyền và
nghĩa vụ của bên cho vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng nhưng trong thực tế
hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc sử dụng vốn vay như thế nào là quyền
của bên vay ,vì vậy nếu quy định như vậy một mặt sẽ tạo thuận lợi cho các tổ
chức tín dụng trong việc kiểm tra ,theo dõi ,kiểm soát tín dụng nhưng lại gây
khó khăn cho bên vay.Như vậy ,cần có những yêu cầu đối với việc áp dụng quy

từ chối cho vay không có căn cứ thì rõ ràng không hợp lý, bởi lẽ như vậy nghĩa
là pháp luật đã tước đi một quyền năng nghĩa vụ cơ bản nhất của người kinh
doanh đó là quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự định đoạt việc cho
vay hay không đối với khách hàng. Với quy định này, nếu tổ chức tín dụng
muốn từ chối cho vay đối với một khách hàng thì họ bắt buộc phải đưa ra các
căn cứ hay lý do chính đáng để từ chối.
Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thoả thuận
trong HĐTD.
Quyền năng này của bên vay cũng chính là nghĩa vụ của bên cho vay, đều
phát sinh trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Do có quyền này mà
bên vay được yêu cầu bên cho vay trả tiền bồi thương thiệt hại đã xảy ra cho
mình, trong trường hợp bên cho vay không thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân
theo thoả thuận mà gây thiệt hại.
Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả đúng mục đích đã thoả thuận trong
HĐTD.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nghĩa vụ này phát sinh do điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay đã
được ghi trong HĐTD, nhằm đặt cho người vay tình trạng bị kiểm tra, giám sát
thường xuyên bởi người cho vay. Tuy nhiên, nghĩa vụ này sẽ không cản trở
người vay áp dụng các biện pháp nhằm đem lại tính hiệu quả cho phương án sử
dụng vốn của mình như được quyền lựa chọn mô hình công nghệ thích hợp nhất
để đầu tư, lựa chọn loại vật tư, nguyên liệu trong nước hay nhập khẩu để mua
sắm bằng nguồn vốn tín dụng được cấp… Ngoài ra, hậu quả pháp lý của việc
bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ này là họ sẽ bị bên cho vay đình chỉ việc
sử dụng vốn hoặc bi thu hồi vốn vay trước thời hạn, su khi đã được bên cho vay
nhắc nhở bằng văn bản.
Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm HĐTD và
tiền bồi thường thiệt hại cho bên cho vay (nếu có).
Đây là một trong những nghĩa vụ chính yếu của bên vay, phát sinh trên cơ

Đối với hợp đồng tín dụng, do tính chất rủi ro cao cho quyền lợi của các bên
trong quá trình thực hiện hợp đồng này nên pháp luật ngân hàng đòi hỏi hình
thức hợp đồng tín dụng phải được xem là một trong những điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng.
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ
lúc đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia hợp đồng tín dụng bắt
đầu phát sinh. Chẳng hạn như ở Cộng hoà Pháp, do nhà làm luật coi HĐTD là
hợp đồng thực tế nên họ cho rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín
dụng chính là thời điểm bên cho vay chuyển giao số tiền vay (đối tượng hợp
đồng) cho bên vay. Với quan điểm này, việc chuyển giao tiền vay của người cho
vay sang co người vay không phải là một nghĩa vụ pháp lý trong hợp đồng tín
dụng mà bên cho vay phải thực hiện. Vì thế, nếu bên cho vay đã hứa sẽ cho vay
mà sau đó lại không chuyển giao tiền vay (với tư cách là đối tượng hợp đồng)
thì do đó hợp đồng tín dụng vẫn chưa hình thành và người hứa cho vay cũng
không phải gánh chịu một chế tài nào cả.
Còn ở Việt Nam, do nhà làm luật coi HĐTD là loại hợp đồng ưng thuận
nên pháp luật quy định tại thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng
chính là thời điểm các bên đã thoả thuận xong các điều khoản của hợp đồng và
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu (nếu có) và văn bản hợp đồng tín dụng. Theo
quy định này việc chuyển giao tiền vay (giải ngân) là một nghĩa vụ hợp đồng
của bên cho vay và nếu họ không thực hiện đúng hợp đồng này mà lại gây thiệt
hại tính được thành tiền cho bên vay thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi
phạm hợp đồng và chịu cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lý của sự vô hiệu:
HĐTD đựơc coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung và hình thức của
hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội hoặc
phương hại đến lợi ích chung. Khi đó, bất ky ai quan tâm (chứ không phải là
các bên ký kết hợp đồng) đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng tín

vay vốn sẽ giúp các TCTD tránh được các rủi ro trong quá trình kinh doanh ,bởi
các TCTD có thể cho vay theo hình thức,phương thức,thời hạn khác nhau ,điều
đó tùy thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng với
những đảm bảo cần thiết cho việc vay vốn.Do vậy,nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro
cho các TCTD.Rủi ro có thể từ phía người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ
gốc và lãi khi đến hạn thanh toán hay rủi ro xuất phát từ phía TCTD do cách tổ
chức, quản lý hoạt động kinh doanh kém, không hiệu quả, kinh doanh không có
lãi.Việc thực hiện đúng các nguyên tắc và điều kiện vay vốn sẽ đảm bảo hoạt
động kinh doanh của TCTD ,cũng như vị trí và uy tín của TCTD đó trên thương
trường.
2.2.2. Quy định về lãi suất
Pháp luật không có quy định cụ thể về mức lãi suất cho vay,mà mức lãi
suất cho vay là do TCTD và khách hàng thỏa thuận phù hợp với các quy định
của NHNN Việt Nam.Theo các quy định của các văn bản trước đấy thì mức lãi
suất cũng theo sự thỏa thuận của TCTD với khách hàng,và mức lãi suất cũng sẽ
phải“thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại
bằng Đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Tổ chức tín dụng
xác định lãi suất cho vay bằng Đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị
trường và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay là các pháp nhân và cá nhân
Việt Nam, pháp nhân và cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở
tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của
nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn theo Quyết định của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ để làm tham khảo và định hướng lãi
suất thị trường, phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
đồng thời chủ động áp dụng các biện pháp để kiểm soát biến động của lãi suất
thị trường, đảm bảo được yêu cầu và mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ.(Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status