Đề tài : “Tìm hiểu pháp luật về hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng và các
biện pháp bảo đảm an toàn”
LỜI MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ở tất cả các quốc gia ,các tổ chức tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội.Chính vì vậy ,ngay trong điều kiện
nước nhà mới độc lập và thực hiện công cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp,Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng hệ thống các Tổ chức
tín dụng của chế độ mới. Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây
luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực. Với mức độ tăng trưởng như
hiện nay, nhu cầu vốn cho nền kinh tế là hết sức lớn. Trong điều kiện hiện
nay, đầu tư nước ngoài chưa đạt được mức kế hoạch, ngược lại ở nhiều nơi
còn có dấu hiệu giảm sút thì chủ trương dựa vào nguồn vốn trong nước đang
được thực hiện triệt để. Tuy nhiên, các kênh huy động vốn từ nội lực kinh tế
còn hẹp. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành và chưa thật
sự trở thành kênh cung cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế cho thấy
phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam năng lực tài chính còn yếu kém, hoạt
động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay từ các Tổ chức tín dụng.Từ đo khẳng
định tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay sẽ còn tiếp tục là một kênh
cung cấp vốn quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nếu muốn có một nền
kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh.
Muốn vậy, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm
bảo được hành lang an toàn cho hệ thống ngân hàng.
1
Chính vì vậy ,việc nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng như thực
tế áp dụng các quy dịnh của pháp luật trong hoạt động cho vay của các Tổ
chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn là hết sức cần thiết trong giai
đoạn hiện nay.Và trên cơ sở đó,có thể đó có thể đề ra những phương hướng
hoàn thiện có ý nghĩa thiết thực.Đây cũng là lý do sinh viên chọn đề tài “Tìm
hiểu pháp luật về hoat động cho vay của các Tổ chức tín dụng và các
luận có thể hoàn thiện hơn.
3.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng
duy vật và sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích ,đánh giá các
quy định của pháp luật ,để từ đó có một số đề xuất cụ thể có ý nghĩa thiết
thực .
4.Cơ cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài lời nói đầu ,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo ,có 3
chương:
Chương I:Một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động
cho vay của tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật trong hoạt
động cho vay của các Tổ chức tin dụng .
Chương II:Pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
Tổ chức tín dụng.
Chương III:Thực trang và phương hướng hoàn thiện pháp luật về
hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng và pháp luật bảo dảm an
toàn .
3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ CÁC
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG.
1.1Khái niệm và phân loại cho vay của tổ chức tín dụng
1.1.1Khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì có các định nghĩa sau về cho vay
“ Cho vay là đưa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn
lẫn tỷ suất lãi theo quy định :cho vay tiền để phát triển sản xuất.”
“Cho vay cầm chứng từ là hình thức cho vay dựa vào những chứng từ sở
hữu hàng hóa (vận đơn ,phiếu lưu kho làm đảm bảo….).”
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi một tổ chức hay cá nhân đều phải có
hình thức cho thuê tài chính thì khoản tiền vay chính là khoản tiền mà các
ngân hàng dùng để mua tài sản để cho thuê. Trong trường hợp bảo lãnh ngân
hàng, khoản tiền vay mà bên đi vay (bên được bảo lãnh) nhận được chính là
khoản tiền mà ngân hàng (bên bảo lãnh) phải trả cho bên có quyền trong
trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ.
1.1.2.Phân loại cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD)
Việc phân loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý
luận và thực tiễn .điều đó thể hiện ở chỗ ,dựa vào kết quả phân loại cho vay
mà các nhà làm luật có thể xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp
với hoạt động thực tiễn nghiệp vụ của các tổ chức tin dụng.Mặt khác cũng
dựa trên kết quả phân loại cho vay mà mỗi TCTD có thể xây dựng ,hoạch
định cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp ,mang tính khả thi và hiệu
quả.Đặc biệt việc phân loại cho vay còn giúp cho các TCTD ở cơ sở lý luận
để xây dựng thành các quy tắc kỹ thuật nghiệp vụ tương thích với từng loại
5
hình nghiệp vụ cho vay nhằm phục vụ cho việc triên khai các hoạt động cho
vay của mình trong thực tiễn.
1.1.2.1Phân loại cho vay dựa vào thời hạn vay
Thời hạn vay theo quy đinh tại điều 10,Quyết định 1627/2001/QĐ-
NHNN “Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh
doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về thời hạn cho vay.
Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá
thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động
tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá
thời hạn được phép sinh sống, hoạt độngtạiViệtNam.
1.1.2.1.1Cho vay ngắn hạn :thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận
đến một năm.Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư
vào tài sản lưu động.
không được cho vay các nhu cầu vốn trong trường hợp dùng để mua sắm các
tài sản mà Pháp luật cấm mua bán ,chuyển nhượng,chuyển đổi,để thanh toán
các giao dịch mà pháp luật cấm”.
Ngoài các căn cứ trên để phân loại cho vay ,thì theo các quy định của
pháp luật một số nước trên thế giới còn phân loại cho vay theo một số căn cứ
khác ,ví dụ như theo pháp luật Hoa kỳ thì việc phân loại cho vay còn căn cứ
vào:phương pháp hoàn trả là hoàn trả một lần “trả một lần thườnglà những
khoản cho vay thẳng,hợp đồng yêu cầu hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gian
đáo hạn cuối cùng “, hoặc hoàn trả theo hình thức trả góp “trả góp là hoàn
trả gốc và lãi theo định kỳ”.
II.Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
2.1.Các quy định của pháp luật về quy trình cho vay vốn của các Tổ chức
tín dụng đối với khách hàng
2.1.1.Quy trình cho vay vốn của các TCTD.
7
Quy trình cho vay vốn là tổng hợp các bước cụ thể từ khi tiếp nhận nhu
cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi TCTD quyết định cho vay ,ngân và
thanh lý hợp đồng tín dụng.Dựa trên những điều kiện của mình thì các TCTD
sẽ tự thiết kế những quy trình cho vay cụ thể ,bao gồm nhiều giai đoạn khác
nhau .Sau đây là một quy trình tóm tắt được sinh viên lựa chọn để tham khảo:
Bảng tóm tắt quy trình cho vay
1
Các giai đoạn của
quy trình
Nguồn và nơi
cung cấp thông
tin
Nhiệm vụ của
TCTD ở mỗi giai
đoạn
phận thẩm định thực
hiện.
Báo cáo
kết quả
thẩm định
để chuyển
sang các
bộ phận có
thẩm
quyền để
quyết định
cho vay
hoặc từ
chối cho
1
Thẩm định dự án,www.fetp.edu.vn.
8
vay.
Quyết định tín dụng Bổ sung các
thông tin cần
thiết dựa trên
các thông tin đã
có.
Quyết định cho vay
hoặc từ chối cho vay
dựa vào kết quả phân
tích.
Quyết
định cho
vay hoặc
tiền vào
tài khoản
tiền gửi
của khách
hàng hoặc
chuyển trả
9
cho nhà
cung cấp
theo yêu
cầu của
khách
hàng,hoặc
giao trực
tiếp cho
khách
hàng.
Giam sát và thanh
lý tín dụng
*Các thông tin
từ ,báo cáo tài
chính từ khách
hàng.
*Các thông tin
khác
*Kiểm tra hoạt động
sử dụng vốn vay .
*Thanh lý HĐTD
*Báo cáo
kết quả
có ý nghĩa hết sức quan trọng .Xây dựng một quy trình cho vay hợp lý sẽ góp
phần nâng cao chất lượng ,giảm thiểu rủi ro trong khi cho vay .Hơn nữa,quy
trình cho vay còn là cơ sở cho việc thiết lập các thủ tục ,hồ sơ vay vốn về mặt
hành chính,và thủ tục pháp lý quan trọng đó là thiết lập HĐTD.
2.1.2.Hợp đồng tín dụng ,cơ sở pháp lý quan trọng
Sau khi ra quyết định chấp thuận cho khách hàng vay vốn các TCTD sẽ
hướng dẫn khách hàng ký kết HĐTD. Theo quy định tại điều 17 của Quyết
định 1627/2001/QĐ-NHNN” Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng
vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng...”.Chủ thể tham gia ký kết HĐTD
là bên cho vay(các TCTD) và bên vay (khách hàng có nhu cầu vay vốn ).
Theo quy định tại điều 51 của Luật Các tổ chức tín dụng ,mọi hợp đồng tín
dụng đều phải ký kết bằng văn bản thì mới có gía trị pháp lý. Hợp đồng tín
dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương
thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị
tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên
thỏa thuận.
11
Văn bản hợp đồng tín dụng bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử.Hợp
đồng tín dụng được xác lập thông qua phương diện điện tử dứới hình thức
thông điệp dự liệu được coi là giao dịch bằng văn bản .Các văn bản hợp đồng
điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị
chứng cứ trong quá trình giao dịch. hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn
bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố
công khai chính thức,về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để
cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phuơng cách xử sự
hợp lý,an toàn trong trường. Ngoài ra,việc cần thiết ký kết hợp đồng tín dụng
bằng văn bản mới có thể khiến các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền
thi hành công vụ được tốt hơn.Chẳng hạn như việc thu thuế,lệ phí,kiểm
mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật
nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy
định”.
Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải thoả
thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay,phương thức cho vay, tổng số tiền phải
trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn.
Số tiền vay :phải được ghi rõ,ngoài ra sinh viên cũng xin kiến nghị một vấn
đề đó là bên cạnh việc ghi rõ số tiền vay là bao nhiêu thì cũng cần ghi rõ loại
tiền vay là USD,Euro,Tệ…để áp dụng mức lãi suất cho phù hợp và áp dụng
việc vay bằng đồng tiền nào thì trả bằng đồng tiền đó.Hơn nữa,trong thời kì
kinh tế hiện nay,cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ có rất nhiều doanh
nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động kinh doanh ,làm ăn với các doanh
13
nghiệp của nước ngoài,đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu.Do vậy
nhu cầu về nguồn vốn vay bằng ngoại tệ là rất cần thiết .Nếu quy đổi đồng
ngoại tệ ra tiền VNĐ đôi khi sẽ gây ra khó khăn cho không chỉ các khách
hàng có nhu cầu vay vốn mà còn cho cả các TCTD,vì tỷ giá quy đổi giữa các
đồng tiền là không đồng nhất tại thời điểm vay cũng như thời điểm thanh
toán khoản vốn vay.
Lãi suất cho vay:mức lãi suất được áp dụng hiện nay theo quy định của
NHNN là do TCTD và khách hàng thỏa thuận và ấn định trong HĐTD .
Phương thức cho vay có thể là:
Cho vay từng lần:mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực
hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng:TCTD và khách hàng xác định và thoả
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Cho vay theo dự án đầu tư:TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư
mạo hiểm. Mặt khác để đảm bảo lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng
vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian
sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay
mỗi khi xét thấy thờ cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.
Điều khoản về giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng: Đây là điều
khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về biện
pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoà giải, hoặc lựa
chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp đồng
tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thoả thuận thì
15
việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm
bằng tài sẩn cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, thì các bên có thể thoả thuận một
điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập
thành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.Trên thực tế, các bên
thường ký kết một hợp đồng phụ ( hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp
đồng bảo lãnh) theo thể thức luật định nhằm thể hiện rõ ý chí của mình trong
việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Về lý thuyết, hợp đồng cầm cố, hợp đồng
thế chấp, hợp đồng bảo lãnh do chỉ có tính cách là hợp đồng phụ nên hiệu lực
của nó phụ thuộc hoàn toàn vào hiệu lực của hợp đồng chính(HĐTD).
2.1.2.2.Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Trong giao dịch tín dụng ,chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng bao gồm bên
cho vay (các TCTD) và bên vay (các tổ chức ,cá nhân có đủ các điều kiện do
pháp luật quy định ).Các chủ thể này khi tham gia giao dịch hợp đồng tín
dụng cần phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo sự dự liệu của pháp
luật .Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho vay
không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu lực của hợp đồng tín
dụng .,mà còn góp phần năng cao kỹ năng giao kết hợp đồng tín dụng cũng
như củng cố kỷ luật hợp đồng đối với các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng
khách hàng ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngà
31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ,tại điều 2 khoản 2”Khách
hàng vay tại Tổ chức tín dụng là các cá nhân,tổ chức Việt nam và nước ngoài
có nhu cầu vay vốn ,có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu tư,phương
án sản xuất ,kinh doanh ,dịch vụ hoặc dự án đâu tư, phương án phục vụ đời
sống trong nước và nước ngoài. Trong trường hợp khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước
ngoài, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định riêng.”
17
.Khi vay vốn tại TCTD khách hàng phải thoả mãn các điều kiện vay
vốn theo quy định của pháp luật,Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho
vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật:
“ Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự
Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự
Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự
Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự
Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có
năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật
của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu
pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
buộc đối với các bên giao kết hợp đồng tín dụng.
2.1.2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
Với tư cách là bên cho vay, đồng thời là chủ nợ trong quan hệ cho vay,
bên cho vay có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản sau đây:
“Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời
19
sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi
quyết định cho vay. Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không
đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu
quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có
đủ nguồn vốn để cho vay”.Tiền gửi là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản
Nợ của từng Tổ chức tín dụng, hoạt động kinh doanh tín dụng của các Tổ
chức tín dụng chủ yếu bằng vốn của người khác tức là chủ yếu bằng tiền gửi
mà các Tổ chức tín dụng đã huy động được;do đó chúng ta vẫn thường nói
các Tổ chức tín dụng kinh doanh bằng cách “đi vay để cho vay” hay kinh
doanh trên sự kinh doanh của người khác. Việc cho vay và đầu tư của các Tổ
chức tín dụng luôn gắn liền với rủi ro.Do đó , thực hiện tốt việc thẩm tra tính
xác thực của các tài liệu sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn ,ảnh hưởng tới hoạt động
của các Tổ chức tín dụng.Vì vậy ,khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin
sai sự thật ,hay vi phạm hợp đồng ..thì Tổ chức tín dụng được quyền chấm dứt
việc cho vay ,thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện khách hàng hoặc người bảo
lãnh vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho
khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân).Nghĩa vụ này phát sinh do việc
bên cho vay đã cam kết cho khách hàng vay được sử dụng số tiền của mình
trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả.Nếu bên cho vay vi phạm
nghĩa vụ này (nghĩa vụ giải ngân) như giả ngân chậm hoặc không chịu giải
ngân theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thì vấn đề trách nhiệm pháp lý
của họ là như thế nào? với hiện trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam, trong
dõi ,kiểm soát tín dụng nhưng lại gây khó khăn cho bên vay.Như vậy ,cần có
những yêu cầu đối với việc áp dụng quy định này trong thực tiễn .
Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thoả thuận, kể cả tiền
phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có).” Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng
không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có
21
quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu
hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn;
Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy
định tại Quy chế này; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
2.1.2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của bên vay
Với tư cách là người hưởng tín dụng, đồng thời là con nợ trong quan hệ
cho vay, bên vay có những quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
Quyền từ chôí các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi kết,
thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Quyền năng này được pháp luật quy định nhằm tạo cho khách hàng vay
khả năng chống lại các yêu cầu rõ ràng là không hợp lý của TCTD, có thể
gây ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thoả mãn các yêu cầu này, ví dụ
khách hàng vay có quyền từ chối cung cấp thông tin và hoạt động kinh
doanh của mình nhưng rõ ràng là không liên quan gì đến việc sử dụng vốn và
hoàn trả vốn vay cho tổ chức tín dụng…
Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc
các vi phạm HĐTD của TCTD.
Đây là một quyền năng pháp định, với mục tiêu nhằm bảo vệ lợi ích hợp
pháp của khách hàng vay trước những hành vi không có căn cứ hợp pháp của
tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép khách hàng vay được
quyền đệ đơn khiếu nại đối với tổ chức tín dụng nhận hồ sơ vay vốn, chỉ vì lý
pháp luật của cơ quan tài phán có thẩm quyền. Thông thường, nghĩa vụ hoàn
23
trả tiền vay cả gốc và lãi sẽ phát sinh khi HĐTD bắt đầu có hiệu lực và
chúng phải được bên vay thực hiện khi thời hạn sử dụng vốn vay đã hết. Còn
nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm hợp đồng hay bồi thường thiệt hại thì chỉ phát
sinh khi xảy ra sự vi phạm hay sự thiệt hại mà các bên đã thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng, hoặc phát sinh do một phán quyết đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án hay trọng tài. Về nguyên tắc, các nghĩa vụ này của bên vay sẽ
chấm dứt khi nào chúng đã được bên vay thực hiện xong trên thực tế.
2.1.2.4.Các vấn đề liên quan đến hiệu lực của HĐTD
Điều kiện có hiệu lực của HĐTD:Dựa trên các quy định có nguyên tắc của Bộ
luật dân sự năm 2005 về các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, một
HĐTD, với tư cách là một giao dịch dân sự đặc thù, chỉ có hiệu lực khi thoả
mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
Chủ thể tham gia HĐTD phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự.
Mục đích và nội dung của HĐTD không trái pháp luật và đạo đức xã
hội.Mục đích cho vay và mục đích đi vay của các bên chủ thể hợp đồng nhất
thiết phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung của hợp đồng và các mục đích
này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng và tự do ý chí.Một HĐTD được coi là không có sự đồng thuận khi
sự thoả thuận đó giữa các bên bị các khuyết điểm như sự nhầm lẫn: sự lừa
dối, lường gạt hoặc sự ép buộc, cưỡng bức trong khi giao kết hợp đồng. Trên
nguyên tắc, các khuyết tật này phải có ảnh hưởng mang tính quyết định đến ý
trí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là sự kiện pháp lý làm cho
hợp đồng tín dụng vô hiệu.
Hình thức của HĐTD phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân
hàng. Đối với hợp đồng tín dụng, do tính chất rủi ro cao cho quyền lợi của
24