Phân tích những quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của
tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng
A. Lời Nói Đầu
Như chúng ta đã biết: Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ
chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao cho bên vay (khách hàng)
một khoản vốn tiền tệ, bên vay sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đó trong một khoảng
thời gian nhất định, sau đó sẽ hoàn trả cho tổ chức tín dụng cả gốc và lãi theo hoả
thuận và điều này được thể hiện dưới dạng bản hợp đồng gọi là hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định
của Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS). Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong
trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó chủ yếu là các
ngân hàng . Nhìn chung với hệ thống các quy định được thể hiện trong BLDS,
Luật các TCTD và Quy chế Cho vay của TCTD đối với khách hàng do Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) ban hành (hiện nay là Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31-12-2001), đã quy định khá cụ thể, chi tiết các điều kiện, điều khoản có
trong một hợp đồng tín dụng. Vậy những quy định cảu pháp luật về hoạt động cho
vay của tổ chức tín dụng như thế nào và thực tế áp dụng ra sao em xin được đề cập
trong bài tiểu luận: “phân tích những quy định của pháp luật về hoạt động cho vay
của tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng”
B. Nội Dung
1. chủ thể tham gia giao dịch cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
Trong giao dịch cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, chủ thể bao gồm bên
cho vay ( tổ chức tín dụng) và bên đi vay ( tổ chưc cá nhân có đủ những điều kiện
do luật định). Các chủ thể này khi tham gia giao dịch cho vay cần phải thỏa mãn
những điều kiện nhất định do luật dự liệu. Việc quy định các điều kiện chủ thể đối
với bên vay và bên cho vay không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu
lực của hợp đồng tín dụng mà còn góp phần nâng cao kỹ năng giao kết hợp đồng
tín dụng cũng như củng cố kỷ luật hợp đồng đối với các chủ thể khi tham gia giao
dịch cho vay.
1.1 Bên cho vay
Trong quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, bên cho vay thường
dụng như điều kiện để giao kết hợp đồng tín dụng.
1.2.1 Các điều kiện chung
Trên nguyên tắc, các điều kiện này có tính chất bắt buộc chung đối với mọi chủ thể
có nhu cầu vay vốn của tổ chức tín dụng.
Thứ nhất, bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Riêng
đối với các tổ chức, hộ gia đình, tổ hợp tác… còn phải có người đại diện hợp pháp
có đủ năng lực và thẩm quyền đại diện để ký kết hợp đồng tín dụng.
Thứ hai, bên vay phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. Đây cũng là điều
kiện bắt buộc đối với mọi chủ thể có nhu cầu vay vốn của tổ chức tín dụng và điều
kiện này phải được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng như một điều khoản chủ yếu
của hợp đồng.
1.2.2 Các điều kiện riêng
Ngoài những điều kiện chung có tính chất bắt buộc thỏa mãn đối với bên vay thì
người vay còn phải thỏa mãn những điều kiện riêng khác nữa do tổ chức tín dụng
yêu cầu theo từng hợp đồng tín dụng cụ thể. Những điều kiện này chỉ có tính chất
bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi tổ chức tín dụng yêu cầu. Theo quy
định của pháp luật hiện hành, các điều kiện này bao gồm:
- Bên vay phải có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Bên vay có phương án sư dụng vốn khả thi và có hiệu quả.
- Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của người thứ
ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh.
Tóm lai, việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho
vay trong hợp đồng tín dụng ngoài mục đích thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt
động tín dụng còn có ý nghĩa là giải pháp đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh
doanh của các tổ chức tín dụng.
2. Hợp đồng tín dụng
2.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho
vay) với khách hàng (bên vay, tổ chức, cá nhân) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ
nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng (bên
điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Các
hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá
trị chứng cứ trong quá trình giao dịch.
2.3 Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư
cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp
luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làm phát
sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng tín
dụng.
Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng tín
dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
- Điều khoản về điều kiện vay vốn. Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên cần ghi
rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thì
hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực.
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng. Trong điều khoản này, các bên phải thỏa
thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng
đáo hạn.
- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín
dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp
đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này
trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏa thuận sau trong
quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay. Đây là một điều khoản rất quan
trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế, các bên
phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay
là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay được thỏa thuận
thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khả năng điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay khi trả nợ.
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay. Trong điều khoản này, các bên cần ghi
rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì. Việc thỏa thuận điều khoản này trong
Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây cho
thấy, có nhiều trường hợp bên chủ động giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là tổ
chức tín dụng chứ không phải là khách hàng, nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh và mở rộng thị trường tín dụng. Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên
phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngân hàng cổ phần, ngân
hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong trường hợp
này, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho tổ chức, cá
nhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vay
vốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựa
chọn là bên đối tác. Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thường
đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những ước khoản cụ
thể để cho bên kia xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, do một thư chào mời có thể
không nhất thiết phải là một văn bản dự thảo hợp đồng nên trong thực tế, nếu bên
tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung của thư chào mời đó
thì không vì thế mà hợp đồng tín dụng được coi là đã hình thành.
- Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng:
Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ – pháp lý
do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên
vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không. Do tính đặc biệt quan trọng
của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi
bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc
lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm
định và khâu quyết định cho vay. Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách
hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay.
Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng
bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho vay. Việc từ chối cho vay không có
căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ
chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên nhận đề
nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia với nội dung
doanh do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp.
Năng lực và thẩm quyền đại diện của người đại diện hợp pháp cho ngân hàng
thương mại: từ điều kiện này có thể khẳng định nếu thể nhân là người đại diện hợp
pháp cho ngân hàng thương mại không có năng lực tiếp nhận quyền và thực hiện
các quyền đó thay cho và nhân danh ngân hàng thương mại thì coi như ngân hàng
thương mại đã không có khả năng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong
quan hệ pháp luật với chủ thể khác (nghĩa là không có năng lực hành). Mặt khác,
cũng có thể xem như giao dịch thương mại của ngân hàng đã vi phạm điều kiện
này khi có bằng chứng chứng minh rằng người xưng danh đại diện của ngân hàng
thương mại không có thẩm quyền đại diện ngân hàng để xác lập và thực hiện giao
dịch với khách hàng.
Thứ hai, “mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã
hội”.
Đây là điều kiện được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi công, xét trong
mối quan hệ tương hỗ với quyền lợi tư của các bên giao dịch. Đối với các giao dịch
thương mại của ngân hàng thương mại, mục đích và nội dung giao dịch không chỉ
phản ánh lợi ích của các bên mà còn bị chi phối bởi chính các lợi ích đó. Mục đích
của giao dịch thương mại giữa ngân hàng và khách hàng sẽ bị coi là trái pháp luật
và đạo đức xã hội khi giao dịch đó được các bên xác lập nhằm vi phạm các quy tắc
pháp lí đã được Nhà nước xây dựng để bảo vệ quyền lợi chung hoặc nhằm xâm hại
các giá trị đạo đức đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Ví dụ, nếu ngân hàng và khách hàng giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi là để
giúp cho khách hàng thực hiện hành vi “rửa tiền” đối với nguồn thu nhập do phạm
pháp mà có thì giao dịch này được xem là có mục đích trái pháp luật.
Còn nội dung của giao dịch thương mại ngân hàng sẽ bị coi là trái pháp luật và đạo
đức xã hội khi các điều khoản được cam kết bởi ngân hàng và khách hàng đã vi
phạm các điều cấm của pháp luật hoặc vi phạm các chuẩn mực đạo đức đã được
Nhà nước thừa nhận.
Ví dụ, Ngân hàng A kí kết hợp đồng tín dụng để cho vay đối với khách hàng là con
đẻ của Tổng giám đốc ngân hàng A. Giao dịch này có nội dung vi phạm điểm c
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ đó quyền
và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh. Trên thực tế,
pháp luật của từng nước có những quy định rất khác nhau về thời điểm phát sinh
hiệu lực của HĐTD. Còn ở Việt Nam, theo Đ405 BLDS 2005 ta có thể lý giải rằng
thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong
các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản HĐTD.
Sự vô hiệu của HĐTD và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu:
Trên nguyên tắc, khi một HĐTD không thoả mãn một trong số các điều kiện có
hiệu lực do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu và sự vô hiệu này,
về lí thuyết có thể được nhìn nhận là ở trạng thái tuyệt đối (đương nhiên vô hiệu)
hoặc tương đối (có thể vô hiệu).
Trong khoa học pháp lí, việc xác định trạng thái vô hiệu (tuyệt đối hoặc tương đối)
của các giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch thương mại của ngân hàng nói
riêng thường dựa vào nguyên tắc cơ bản là:
- Nếu giao dịch được xác lập nhưng vi phạm những quy tắc pháp lí có mục đích
bảo vệ lợi ích công hay trật tự công thì hậu quả kéo theo là giao dịch đó đương
nhiên vô hiệu ngay từ khi xác lập (vô hiệu tuyệt đối) và bất kì ai quan tâm đến lợi
ích chung đều có thể yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu.
- Ngược lại, nếu giao dịch được xác lập nhưng chỉ vi phạm các quy tắc pháp lí có
mục đích bảo vệ lợi ích tư hay quyền lợi tư của các bên tham gia vào giao dịch thì
hậu quả kéo theo là giao dịch đó có thể bị coi là vô hiệu (vô hiệu tương đối) và chỉ
những người có quyền lợi bị xâm hại (bao gồm các bên của giao dịch hoặc người
thứ ba không tham gia vào giao dịch nhưng có quyền lợi liên quan) mới có quyền
yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình.
2.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng tín dụng
Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
- Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng hạn và địa điểm cho khách hàng vay
sử dụng (nghĩa vụ giải ngân).
- Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng.
- Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thỏa thuận, kể cả tiền phạt, tiền
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD: được áp dụng khi có thiệt
hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm. Số tiền bồi
thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ quan tài
phán có thẩm quyền.
2.8 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng và các phương thức giải quyết tranh
chấp
Trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của người vay sau thời
hạn nhất định nên thường dẫn tới các rủi ro bất trắc, chẳng hạn, người vay không
thanh toán hoặc thanh toán không đúng hạn như đã thỏa thuận. Vì thế các tranh
chấp về hợp đồng cũng thường xuyện xảy ra. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng được hiểu là tình trạng pháp lý của quan hệ hợp đồng tín dụng trong đó các
bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ
hoặc lợi ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng và những xung đột này phải được thể
hiện ra bên ngoài ( mặt khách quan).
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
sẽ được giải quyết bằng những phương thức sau:
- Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng phương thức thương lương
hoặc hòa giải trung gian.
- Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng cơ chế tài phán.
Ở Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con
đường tài phán được xem là giải pháp cuối cùng để phân định quyền lợi giữa các
bên theo quy định của luật tố tụng.
3. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng
Ta có thể nhận thấy một điều rằng các tổ chức tín dụng đã áp dụng linh hoạt các
quy định của pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi vay vốn tại
các tổ chức tín dụng ví dụ như:
Trường hợp bên vay trả nợ trước hạn, thì thường phải trả phí trả nợ trước hạn theo
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Gọi là phí trả nợ trước hạn nhưng thực chất là
một loại lãi suất phạt trên cơ sở quy định bên vay có quyền trả tiền vay trước hạn,
hàng nhạy cảm mang độ rủi ro cao- tiền nên bao giờ họ cũng phải đảm bảo được
khả năng thu hồi vốn của chính mình). Điều này ta có thể nhận thấy qua một số
khía cạnh sau :
Trong hợp đồng cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng thì bên vay vốn được
sử dụng vốn vay vào bất kỳ mục đích nào, nếu không bị pháp luật cấm. Tuy nhiên,
có những trường hợp không bị pháp luật cấm, như việc vay vốn để trả nợ ngân
hàng khác hoặc trả nợ chính ngân hàng vay, nhưng lại rất khó được chấp nhận, vì
nó được coi như một hoạt động đảo nợ ( Rollover )Đảo nợ hiểu nôm na là đi vay
để trả nợ. Việc đảo nợ bị nghiêm cấm vì nó che đậy các khoản nợ có vấn đề, trong
trường hợp ngân hàng chạy theo doanh số và đồng ý đảo nợ, tiền vay được tiếp tục
cung cấp cho người vay trong khi thực tế, nguồn trả nợ không có thực, giống như
cho con rắn cắn đuôi của nó vậy. Tuy nhiên, thực tế đảo nợ củng có thể mang ý
nghĩa khác trong 2 trường hợp sau. Sở dĩ các trường hợp này được chấp nhận là vì
nó đảm bảo tính lành mạnh về mặt tài chính cho người vay và người cho vay: -
Rollover các khoản vay liên ngân hàng, giống như gia hạn khoản vay, tuy nhiên vì
người vay ở đây là ngân hàng nên vấn đề khả năng thanh toán và nguồn trả nợ xem
như là chắc chắn. - Rollover ở nước ngoài, khi người vay đảm bảo tại thời điểm
đáo hạn khoản vay, trên tài khoản của họ có số tiền tối thiểu bằng khoản vay, hoặc
báo cáo tài chính tại thời điểm gần đó (1 tháng, 1 tuần tất nhiên báo cáo tài chính
phải có độ tin cậy) thỏa mãn yêu cầu về các chỉ số tài chính, khonả vay sẽ được tự
động rollover. Khi người đi vay "đảo nợ" bằng một hình thức nào đó thì đó chỉ là
một hành vi dân sự. Nếu ngân hàng cho vay không bằng lòng với hành vi đảo nợ
này thì họ có thể kiện khách hàng ra tòa dân sự, chẳng có lý do gì luật tín dụng lại
cấm đoán hành vi này - hình sự hóa).
Đối với vay vốn dân sự hoặc thương mại thông thường, thì hầu như bên cho vay
không quan tâm đến mục đích sử dụng vốn vay, trong khi đối với hợp đồng tín
dụng thì lại là một trong điều kiện quan trọng nhất .Trong cả thời hạn vay vốn, nếu
bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận, thì ngân hàng lập
tức được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn. Đó luôn
là quy định của pháp luật, cũng đồng thời là điều quan tâm hàng đầu của các ngân
ngày hết hạn trả nợ theo thoả thuận, mà tính đến khi bên vay trả hết nợ trong
trường hợp hợp đồng tín dụng có thoả thuận: Hợp đồng này có hiệu lực cho đến
khi bên vay trả hết nợ (gốc và lãi) cho bên cho vay (xem Bản án giám đốc thẩm số
08/2003/HĐTP-KT ngày 29-5-2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND TC về vụ án
tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Công ty
TNHH Thương mại Lam Hồng Sơn).
Sau khi thực hiện xong, đương nhiên hợp đồng được thanh lý. Các bên không cần
thiết phải lập biên bản thanh lý hợp đồng, trừ trường hợp cần bằng chứng để cung
cấp cho bên thứ ba.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng vẫn thoả thuận trong hợp đồng tín dụng về lãi suất
quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đối với chính hợp đồng tín dụng đó.
Mức lãi suất quá hạn không quá 150% này là do NHNN quy định dựa trên cơ sở
BLDS năm 1995 giao cho NHNN quy định mức lãi suất quá hạn. Nhưng từ năm
2006 trở đi, nếu vẫn áp dụng mức lãi suất quá hạn này là không đúng pháp luật, vì
BLDS năm 2005 quy định mức lãi suất quá hạn được tính “theo lãi suất cơ bản do
NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” . Hai quy định
này có sự chênh lệch rất đáng kể, nhất là trong thời kỳ lãi suất có sự biến động lớn.
Ví dụ : về cách tính lãi suất quá hạn.
Ngân hàng B cho Công ty C vay tiền, với mức lãi suất là 14%/năm. Theo quy định
của BLDS năm 1995, nếu khoản nợ bị chuyển sang quá hạn, thì mức lãi suất áp
dụng tối đa là 21% (14% + 7%), không phụ thuộc vào lãi suất cơ bản tại thời điểm
quá hạn là bao nhiêu.
Còn theo quy định của BLDS năm 2005, nếu lãi suất cơ bản tại thời điểm quá hạn
là 7%/năm thì mức lãi suất quá hạn sẽ vẫn là 21%/năm (14% + 7%). Nhưng nếu lãi
suất cơ bản tại thời điểm đó chỉ có 5%/năm thì lãi suất quá hạn chỉ còn 19%/năm
(14% + 5%). Ngược lại, nếu lãi suất cơ bản lại là 10%/năm, thì lãi suất quá hạn sẽ
là 24%/năm (14% + 10%).
Như vậy, theo cách tính thứ nhất thì phần lãi suất quá hạn sẽ rất khác nhau phụ
thuộc vào mức lãi suất cho vay, còn theo cách tính thứ hai, dù lãi suất cho vay bao
nhiêu, thì phần lãi suất quá hạn tối đa vẫn chỉ là một mức lãi suất cơ bản.
lúng túng trong quá trình thực hiện.
Về cơ chế bảo đảm tiền vay, theo quy định tại Điều 8 Nghị định 41, các đối tượng
khách hàng được vay không có tài sản bảo đảm phải nộp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, hoặc được UBND cấp xã xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp. Nhưng khi áp dụng, các tổ chức tín
dụng cho vay lại yêu cầu nông dân nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm
giảm “rủi ro” cho các tổ chức tín dụng cho vay.Như vậy chẳng khác gì so với cho
vay thông thường.
Có thể những bất cập nói trên bắt nguồn từ nguyên nhân chung nhất của hệ thống
pháp luật Việt Nam đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp luật và hơn nữa là
chưa có những hướng dẫn cụ thể nên việc thực hiện hoạt động cho vay của các tổ
chức tín dụng còn khá nhiều vướng mắc. Thêm vào đó là việc chạy theo tiêu chí lợi
nhuận nên nhiều tổ chức tin dụng còn khá lỏng lẻo ở khâu thẩm định khách hàng
nên dễ dẫn đến tình trạng nợ . Chính vì vậy nên có những quy định cụ thể trong
hợp đồng cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng và hơn nữa là nâng cao kỹ
nâng soạn thảo và đàm phán hợp đồng để hợp đồng tín dụng có thể thể hiện nhiều
hơn nữa ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết.
C. Kết Luận
Như vậy, trong bối cảnh nền kinh tế được mở cửa ngày càng rộng như hiện nay thì
việc tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức tín dụng hoạt động là điều cần
thiết hơn bao giờ hết. Bởi nó góp phần duy trì một nền kinh tế ổn định, tạo tiềm lực
cho sự phát triển.
TLTK:
Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo
1. Giáo trình Luật Ngân Hàng
Trường ĐH Luật Hà Nội
2. Luật các tổ chức tín dụng 2010
3. Bộ luật dân sự 2005
4. Rút trước hạn, chỉ hưởng lãi suất không kỳ hạn mức thấp nhất - Văn bản mới
cập nhật - Báo Pháp luật Việt Nam điện tử