Pháp luật về kiểm tra sau thông quan, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn áp dụng của Hải quan Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN,
CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Quốc Tế
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
35
2.1 Quy định kiểm tra sau thông quan một số nước điển hình
35
2.1.1 Quy định của Asean về kiểm tra sau thông quan
35
2.1.1.1 Cơ sở pháp lý
35
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức
36
2.1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của kiểm tra sau thông quan
38
2.1.1.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan
39
2.1.1.5 Quy trình kiểm tra sau thông quan
41
2.1.2 Kinh nghiệm kiểm tra sau thông quan của Hải quan Indonesia
42
2.1.3 Kinh nghiệm kiểm tra sau thông quan của Hải quan Singapore
44
2.1.4 Kinh nghiệm kiểm tra sau thông quan của Hải quan Nhật Bản
46
2.1.4.1 Cơ sở pháp lý
49
2.1.4.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan
50
2.1.4.3 Mô hình tổ chức kiểm tra sau thông quan
51
2.1.4.4 Quy trình kiểm tra sau thông quan
52
2.1.4.5 Một số kinh nghiệm của Hải quan Nhật Bản

THÔNG QUAN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
80
3.1 Thực trạng thực thi pháp luật về kiểm tra sau thông quan
80
3.1.1 Cơ sở pháp lý thực thi pháp luật về kiểm tra sau thông quan
80
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế trong thực thi pháp luật về KTSTQ
81
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế về thực thi pháp luật về kiểm
tra sau thông quan
85
3.1.4 Vụ kiểm tra sau thông quan điển hình năm 2008
87
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về KTSTQ
93
3.2.1 Khuyến nghị của Tổ chức Hải quan Thế giới
93
3.2.2 Khuyến nghị của Tổ chức Hải quan Asean
95
3.2.3 Định hướng phát triển của Hải quan Việt Nam
96
3.2.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển
Hải quan hiện đại.
96
3.2.3.2 Quan điểm phát triển của Hải quan Việt Nam
97
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động KTSTQ
99
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm tra sau thông quan
1
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách
quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Hội nhập mở ra
cơ hội phát triển cho tất cả các nƣớc nhƣng cũng mang tới nhiều thách thức
cho mỗi quốc gia trong tiến trình hội nhập.
Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế có liên quan đến
hoạt động Hải quan nhƣ WCO, ASEAN, APEC, ASEM. Sự kiện Việt Nam
trở thành thành viên chính thức của WTO từ ngày 11/1/2007 đã đánh dấu một
bƣớc ngoặt lớn trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.Việc Việt Nam
là thành viên của tổ chức này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
kinh tế, đƣợc tham gia vào các quan hệ kinh tế, giao lƣu thƣơng mại trong
nƣớc đƣợc thúc đẩy và phát triển nhƣng mặt khác các tổ chức này cũng đòi
hỏi thành viên của nó phải tuân thủ theo những quy định và nguyên tắc nhất
định và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.
Do lƣu lƣợng thƣơng mại ngày càng tăng, ngành Hải quan không thể
tiến hành kiểm tra, kiểm soát tất cả lƣu lƣợng hàng hoá tại các cửa khẩu nên
đã dần hình thành xu hƣớng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đặc biệt khi
việc áp dụng Hiệp định Trị giá GATT trở nên phổ biến. Đến nay kiểm tra sau
thông quan đã trở thành một nghiệp vụ không thể thiếu đối với hoạt động hải
quan của các nƣớc phát triển và hầu hết hải quan các nƣớc đang phát triển.
Biện pháp nghiệp vụ này ngày càng phát triển theo chiều sâu để có thể đáp
ứng đƣợc yêu cầu bức thiết của quá trình hội nhập thƣơng mại với thế giới và
quá trình quản lý của nhà nƣớc.
Thƣơng mại quốc tế phát mạnh mẽ do vậy Hải quan các nƣớc không
thể giữ mãi phƣơng pháp quản lý thủ công nhƣ trƣớc. Để quản lý có hiệu quả
hơn, các nƣớc đều hƣớng tới phƣơng pháp quản lý rủi ro. Việc quản lý chặt

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, tác giả luận văn chọn đề tài: “Pháp
luật về kiểm tra sau thông quan, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn áp dụng
của Hải quan Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
Tình hình nghiên cứu :
Trong nội bộ ngành cũng đã có một số bài viết bài tham luận và đề tài
khoa học nghiên cứu vấn đề với cách tiếp cận khác nhau:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan “Cơ sở lý luận thực
tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan trong
ngành Hải quan” của tác giả Mai Văn Huyên, Tổng cục Hải quan, năm 2002.
Đề tài này đã có những nghiên cứu ban đầu về cơ sở lý luận, song do hoạt
động KTSTQ mới đƣợc áp dụng nên chƣa có nhiều thực tế để đánh giá, cũng
nhƣ chƣa đề cập đến kinh nghiệm của một số nƣớc, làm bài học kinh nghiệm
cho Hải quan Việt Nam.
- Sách “Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan” của tác giả Phạm Ngọc
Hữu, Tổng Cục Hải quan, năm 2003. Cuốn sách này đề cập đến một số
nghiệp vụ cụ thể đƣợc biên soạn từ tài liệu của các nƣớc, chƣa có nghiên cứu
cụ thể điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam để áp dụng cho phù hợp.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan “Các giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của
kế hoạch cải cách, phát triển hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2004- 2006”
của Thạc sĩ Nguyễn Viết Hồng, Tổng cục Hải quan, năm 2005. Đề tài này
nhằm đánh giá đƣợc thực trạng KTSTQ và đƣa ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác KTSTQ.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan “ Hoàn thiện mô hình
kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Viết
Hồng, Tổng cục Hải quan, năm 2006. Đề tài này chủ yếu nghiên cứu về mô
hình tổ chức của hệ thống.

4
Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có đề tài nghiên cứu chuyên ngành nào về

thông quan của Việt Nam; thực trạng thực thi và những giải pháp kiến nghị để
hoàn thiện hệ thống pháp luật KTSTQ.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu đề tài này dƣới góc độ của Luật quốc tế
- Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở quy định quốc tế chuẩn mực WTO,
WCO, tổ chức Hải quan ASEAN, chính sách pháp luật của nhà Nhà nƣớc liên
quan đến công tác quản lý về Hải quan.
Cơ sở thực tiễn:
Các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của ngành Hải quan, các chƣơng
trình, kế hoạch hợp tác khu vực và quốc tế, các dự án hợp tác của Hải quan
Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu: phân tích, lý luận, thực
tiễn và kinh nghiệm. Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm chỉ đạo phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng, quan điểm phát triển ngành của Nhà nƣớc nói
chung và lãnh đạo ngành nói riêng, học tập có chọn lọc những ƣu việt của
những nƣớc phát triển, có trình độ lập pháp cao
Những đóng góp mới của luận văn:
- Luận văn khái quát tổng thể các quy phạm pháp luật quốc tế điển
hình về kiểm tra sau thông quan.
- Rà soát lại các quy phạm pháp luật quốc gia điều chỉnh hoạt động
kiểm tra sau thông quan, cung cấp các đánh giá tổng thể về những ƣu, nhƣợc
điểm của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm tra sau thông quan.

6
- Trên cơ sở những đánh giá đó, đƣa ra các giải pháp, kiến nghị đối với
các nhà lập pháp, các nhà xây dựng chính sách về những thay đổi pháp lý phù
hợp điều chỉnh hoạt động kiểm tra sau thông quan ngày càng đạt hiệu quả .

mại đòi hỏi phải xoá bỏ rào cản, chấp nhận tự do mậu dịch. Tạo thuận lợi
thƣơng mại và đầu tƣ đƣợc đẩy mạnh thông qua việc cam kết cắt giảm thuế
quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan của các nƣớc tham gia WTO và trong
nội bộ các khối mậu dịch tự do nhƣ AFTA, NAFTA… Quan hệ kinh tế
thƣơng mại trên thế giới ngày càng phát triển đã thúc đẩy tăng trƣởng thƣơng
mại thế giới.
Hiệp định chung về Thƣơng mại và Thuế quan (GATT) ra đời năm
1947 với mục đích chính là tự do hoá thƣơng mại quốc tế, đặt ra các biểu thuế
quan và các điều kiện trao đổi buôn bán, giúp các nƣớc thành viên ổn định giá
cả và tăng cƣờng trao đổi hàng hoá với nhau. Nhờ dỡ bỏ những rào cản ngăn
cách giữa các quốc gia, khối lƣợng thƣơng mại và đầu tƣ quốc tế giữa các
quốc gia tăng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trƣởng kinh tế
quốc tế và nâng cao phúc lợi con ngƣời.
Hiệp định GATT 1947 và đến 1995 đƣợc kế thừa bởi Tổ chức Thƣơng
mại Thế giới đã thống nhất về nguyên tắc huỷ bỏ các hàng rào thuế quan,
đồng thời nhiều liên minh kinh tế khu vực thể hiện nguyện vọng loại bỏ từng
bƣớc các rào cản bảo hộ thƣơng mại, nhƣng sự tồn tại và vai trò của Tổ chức
Hải quan trong nền kinh tế thế giới không những không suy giảm mà còn
đƣợc tăng cƣờng.

8
Hoạt động hải quan là hoạt động can thiệp trực tiếp vào tính chất tự do
hoá của nền thƣơng mại quốc tế, vì lực lƣợng hải quan đƣợc ví nhƣ "ngƣời
gác cửa biên giới", là lực lƣợng trực tiếp thực hiện các chính sách mở cửa,
giao lƣu, hội nhập của một Nhà nƣớc với các thực thể quốc tế ở bên ngoài
biên giới lãnh thổ quốc gia. Nhiệm vụ của hải quan ngày nay không chỉ dừng
lại ở nhiệm vụ truyền thống mà còn phải thực hiện đúng chính sách phát triển
của mỗi nƣớc cũng nhƣ những quy định quốc tế về hải quan. Xu hƣớng giảm
thuế quan có thể ảnh hƣởng đến nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu, nhƣng
điều đó không có nghĩa là khối lƣợng công việc của tổ chức hải quan cũng

đều có các chƣơng trình cải cách, nhiều tổ chức quốc tế đƣa ra những biện
pháp, các khuyến nghị để tạo thuận lợi cho phát triển thƣơng mại quốc tế.
Đây chính là cơ sở hình thành các liên minh hải quan, hợp tác hải quan khu
vực, hợp tác hải quan song phƣơng.
Hợp tác hải quan quốc tế không nằm ngoài mục đích tăng cƣờng năng
lực của cơ quan hải quan trong việc tạo thuận lợi thƣơng mại quốc tế và đảm
bảo an ninh cho xã hội. Do đó hầu hết hải quan các nƣớc trên thế giới trong
đó có Việt nam đều là thành viên của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO)
Kiểm tra sau thông quan đƣợc hình thành và hoàn thiện dần cùng với
việc hình thành và phát triển của khoa học về quản lý rủi ro (risk
management) trong quá trình hoạt động của hải quan các nƣớc trên thế giới.
Quản lý rủi ro nghĩa là không quản lý toàn bộ các lô hàng xuất nhập
khẩu mà quản lý dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro của các thông tin về lô
hàng, quản lý theo mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, rút ngắn
quy trình, thời gian thông quan, hoặc thông quan trƣớc, sử dụng thông tin đến
trƣớc để thông quan và giải phóng hàng hoá ngay khi hàng về tới cảng.

10
Với yêu cầu của quá trình phát triển và hội nhập, Luật hải quan Việt
Nam (Khoản 1a, Điều 15) quy định về các phương pháp kiểm tra hải quan,
trong đó gồm cả kiểm tra sau thông quan, là phƣơng pháp quản lý rủi ro, cụ
thể là: Kiểm tra hải quan đƣợc thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh
giá việc chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, mức độ rủi ro về vi phạm
pháp luật hải quan.
Hiện tại, Việt Nam đang vận hành song song hai phƣơng thức quản lý
hải quan: phƣơng thức truyền thống (kiểm tra thủ công) và phƣơng thức hiện
đại (quản lý rủi ro). Trong đó, phƣơng thức quản lý hải quan hiện đại dựa trên
nền tảng của kỹ thuật quản lý rủi ro đã và đang đƣợc áp dụng phổ biến tại các
lãnh thổ hải quan của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới đƣợc Hải quan
Việt Nam đánh giá sẽ là phƣơng tiện hữu hiệu, tạo nên bƣớc đột phá căn bản

xuất trình với cơ quan hải quan, để ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp
luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý xuất nhập khẩu đối
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã đƣợc thông quan”
1.2. Cơ sở thực tiễn và pháp lý để hải quan Việt nam thực hiện
kiểm tra sau thông quan trong tạo thuận lợi cho thƣơng mại quốc tế
1.2.1. Cơ sở thực tiễn:
Ngành hải quan là cơ quan giữ nhiệm vụ trọng trách gác cửa biên giới
quốc gia góp phần bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nƣớc phát triển, giữ gìn
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong điều kiện của hội nhập. Lĩnh vực
hải quan là một trong những lĩnh vực quan trọng của quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của bất kỳ quốc gia nào.
Ngành Hải quan Việt Nam ra đời từ khá sớm, ngay sau khi nƣớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà đƣợc thành lập năm 1945. Là một nƣớc có vị trí địa lý
thuận lợi, nằm ở ngã tƣ của các mối quan hệ quốc tế năng động, đa dạng, vừa

12
gắn liền với lục địa Á - Âu, vừa tiếp giáp với Thái Bình Dƣơng, có đƣờng
biên giới quốc gia trên đất liền trải dài 4.610 km giáp với ba nƣớc (Trung
Quốc: 1.406 km, Lào: 2.067 km, Campuchia: 1.137 km) với 28/64 tỉnh, thành
giáp biển trải trên 3.260 km chiều dài đƣờng bờ biển, Việt Nam có đầy đủ cơ
hội để giao lƣu kinh tế mở rộng với các quốc gia láng giềng, trong khu vực và
trên thế giới, hợp tác đa phƣơng và song phƣơng trên nhiều lĩnh vực. Song
hành với thƣơng mại phát triển, là tình hình vi phạm pháp luật, buôn lậu, gian
lận thƣơng mại gia tăng, nguy cơ khủng bố đe doạ, với diễn biến phức tạp và
các thủ đoạn ngày một tinh vi hơn theo sự phát triển này càng cao của khoa
học kỹ thuật. Vậy trƣớc yêu cầu của quản lý hải quan hiện đại, vừa phải tạo
thuận lợi tối đa cho thƣơng mại quốc tế, vừa bảo đảm an ninh quốc gia và
thực hiện trọng trách là “ngƣời lính biên phòng trên mặt trận kinh tế”, cần
thiết phải có một biện pháp quản lý hải quan mới.
Sự cần thiết của hoạt động kiểm tra sau thông quan trong việc tạo thuận

Thứ ba, do yêu cầu của việc thực hiện các cam kết quốc tế
Việt Nam phải thực hiện các cam kết, một trong những cam kết đó là
phải tiến hành cắt giảm thuế quan hàng năm. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố số
thu của ngành Hải quan không ngừng tăng qua các năm. Dự kiến trong những
năm tới số thu của ngành Hải quan vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong số thu
của ngân sách Nhà nƣớc. Ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế
quốc tế là một phần trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tham gia vào
các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu chính là nhân tố giúp cho các nƣớc
tạo ra những chuyển biến mạnh trong nền kinh tế, từ đó đẩy nhanh tiến trình
cải cách và hội nhập quốc tế. Nhƣng điều đó không có nghĩa là tham gia mọi
định chế và tổ chức bằng mọi giá mà phải căn cứ vào tình hình cụ thể của đất

14
nƣớc để xác định tham gia hiệp định nào, vào lúc nào. Để chủ động, vững
chắc trong hội nhập, mỗi quốc gia cần xây dựng một chiến lƣợc tổng thể lâu
dài bao gồm những định hƣớng, chính sách cho quá trình tham gia vào các thể
chế liên kết - hợp tác kinh tế toàn cầu và khu vực.
Khi đã cam kết rồi, các quốc gia buộc phải thực hiện, tuân thủ các quy
định của tổ chức mà mình là thành viên, phải chuyển hoá các quy định pháp
luật quốc tế mà mình cam kết thành những quy định của pháp luật quốc gia.
Hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật về hải quan nói riêng
phải đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây là vấn đề
quan trọng và có ý nghĩa hàng đầu không chỉ trong lĩnh vực hải quan mà
trong toàn bộ tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế của đất nƣớc. Pháp
luật quốc gia phải phù hợp với những cam kết quốc tế, làm hài hoà pháp luật
quốc gia với môi trƣờng pháp luật trên thế giới mà trƣớc hết là pháp luật quốc
tế. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là đồng nhất hệ thống pháp luật một
quốc gia với các hệ thống pháp luật khác, kể cả pháp luật quốc tế phổ cập.
Thứ tư, do yêu cầu của công tác cải cách hiện đại hoá
Cải cách thủ tục hải quan không ngoài mục đích hƣớng tới tạo thuận lợi

thông quan nhằm thẩm định sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; áp dụng
quản lý rủi ro để phân loại hồ sơ, phân loại doanh nghiệp
Thứ sáu, do kinh nghiệm của hải quan các nước
Kinh nghiệm thực tế của hải quan các nƣớc cho thấy, nếu chỉ dừng
công việc kiểm tra của cơ quan Hải quan tại cửa khẩu thì không những không
thể phát hiện và ngăn chặn các trƣờng hợp cố ý gian lận mà còn gây phiền hà,
ách tắc cho hoạt động xuất nhập khẩu. Về mặt lý luận, khi hoạt động thƣơng
mại hàng hoá phát triển từ giản đơn đến phức tạp, tƣơng ứng với nó, hình
thức quản lý nhà nƣớc về hải quan mà biểu hiện cụ thể là thủ tục kiểm tra,
giám sát hải quan cũng phải thay đổi cho kịp với yêu cầu quản lý.

16
Việt Nam đang từng bƣớc cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành
hải quan một cách toàn diện, chuyển từ phƣơng pháp quản lý thủ công hiện
nay sang phƣơng pháp quản lý hải quan hiện đại, trên cơ sở ứng dụng công
nghệ thông tin, phƣơng pháp quản lý rủi ro, áp dụng các chuẩn mực của
WCO và khu vực.
1.2.2. Cơ sở pháp lý:
Hoạt động quản lý nhà nƣớc về Hải quan nhằm thực hiện tự do hoá
thƣơng mại trong WTO sẽ không thể thu đƣợc hiệu quả kép: vừa tạo thuận lợi
nhiều hơn vừa bảo đảm an ninh tốt hơn, nếu nhƣ thiếu đi khung pháp lý đủ
hoàn chỉnh điều chỉnh các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới.
Trong phần cơ sở pháp lý tại luận văn này, tác giả sẽ trình bày hệ
thống các văn bản quốc tế và quốc gia mang tính cơ bản, chủ chốt nhất liên
quan tới kiểm tra sau thông quan.
1.2.2.1. Pháp luật quốc tế:
Pháp luật điều chỉnh hoạt động hải quan ("pháp luật về hải quan") là
một trong những hành lang pháp lý quan trọng là nhân tố quyết định trực
tiếp tới mức độ hiệu quả trong kiểm tra, kiểm soát, giám sát để bảo đảm và
tăng cƣờng thuận lợi trong các hoạt động giao thƣơng quốc tế của mỗi một

đổi để dung hoà các lợi ích đối lập. Về cơ bản, các quốc gia thành viên khi
tham gia WTO sẽ phải chấp nhận sự ràng buộc “cả gói” ngay khi gia nhập đối
với hệ thống các hiệp định đa phƣơng.
a. Trong khuôn khổ Tổ chức thương mại Thế giới ( WTO )
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) đƣợc thành lập ngày 1/1/1995
với tƣ cách là thể chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế thƣơng mại
quốc tế mang tính toàn cầu. WTO kế thừa tất cả các nguyên tắc, luật lệ của tổ
chức tiền thân đã tồn tại gần 50 năm qua là Hiệp định chung về Thuế quan và

18
Thƣơng mại (GATT). Các quy định của GATT (gồm 38 điều và 9 phụ lục)
đƣợc sửa đổi cho phù hợp với điều kiện của thƣơng mại quốc tế nhƣng cơ bản
vẫn giữ nguyên. Có một số lĩnh vực mới đƣợc đƣa vào nhƣ Hiệp định chung
về Thƣơng mại và Dịch vụ (GATS) và Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến
thƣơng mại (TRIPS).
Liên quan đến công tác hải quan có một số quy định phải tuân thủ nhƣ:
Tự do quá cảnh (Điều V), Xác định trị giá hải quan (Điều VII), Phí và thủ tục
liên quan xuất nhập khẩu (điều VIII), Quy tắc xuất xứ (Điều IX). Các văn
kiện WTO mà hải quan phải thực hiện nhƣ: Hiệp định thực hiện điều VII của
GATT về xác định trị giá Hải quan; Hiệp định về Quy tắc xuất xứ; Hiệp định
về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thƣơng mại (TRIPS).
Các cam kết này liên quan chủ yếu trong lĩnh vực thuế quan, tạo thuận lợi cho
thƣơng mại quốc tế thông qua quá trình đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải
quan theo các chuẩn mực của hải quan quốc tế.
Tổ chức Hải quan Thế giới là tổ chức liên chính phủ duy nhất có chức
năng “giám sát hoạt động trao đổi thƣơng mại”, thực hiện vai trò điều phối
hoạt động quản lý hải quan quốc tế. WTO là tổ chức thƣơng mại thế giới có
chức năng giám sát quá trình thực hiện các Hiệp định hƣớng tới tự do hoá
thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên với nhau. Nhƣ vậy, cả hai tổ chức này
đều giữ vai trò mật thiết liên quan tới chuỗi cung ứng, dịch chuyển hàng hoá

quan, chứng từ và sổ sách kế toán tại doanh nghiệp, các loại giấy tờ khác
còn lƣu lại tại cơ quan hải quan, tại doanh nghiệp và các bên liên quan
khác về hàng hoá sau khi thông quan.
Với 162 thành viên là các quốc gia, lãnh thổ, WCO có chức năng
nghiên cứu mọi vấn đề liên quan tới việc hợp tác hải quan, kiểm tra các khía
cạnh kỹ thuật cũng nhƣ các yếu tố kinh tế có liên quan tới hệ thống hải quan

20
để đề xuất những phƣơng thức thiết thực nhằm đạt đến mức độ hoà hợp và
thống nhất cao nhất có thể đƣợc cho các hải quan thành viên. Vì vậy, WCO
đã thực hiện những việc sau:
- Xây dựng, bổ sung, sửa đổi các Công ƣớc, đƣa ra các khuyến nghị đối
với các Chính phủ để bảo đảm việc hiểu và áp dụng thống nhất các Công ƣớc
- Khuyến nghị hoà giải các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp
dụng các Công ƣớc
- Cung cấp thông tin liên quan đến các quy định và thủ tục hải quan
- Hỗ trợ về thông tin và tƣ vấn trong khuôn khổ mục đích chung của
Công ƣớc
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế liên Chính phủ khác trong những vấn
đề thuộc thẩm quyền quy định
Các Công ƣớc đáng chú ý nhất của WCO là: Công ƣớc thành lập Hội
đồng hợp tác hải quan, Công ƣớc quốc tế về Đơn giản hoá và hài hoà các thủ
tục hải quan (Công ƣớc KYOTO), Công ƣớc Kyoto sửa đổi, Công ƣớc về Hệ
thống mô tả hài hoà và mã hoá hàng hoá (Công ƣớc HS), Công ƣớc quốc tế về
giúp đỡ hành chính lẫn nhau nhằm ngăn ngừa và trấn áp các vi phạm hải quan
(Công ƣớc Nairobi), Công ƣớc về tạm quản hàng hoá, Công ƣớc Istanbul
nhằm tạo thuận lợi cho việc tạm chấp nhận, nhƣng bao gồm nhiều chủng loại
hàng hoá hơn và áp dụng cả đối với các phƣơng tiện giao thông, súc vật…
b1. Công ước Kyoto - cơ sở pháp lý quan trọng hình thành kiểm tra sau
thông quan:

- Vấn đề kiểm tra xuất xứ hàng hoá đặc biệt là hàng tƣơi sống, súc vật…
Công ƣớc Kyoto năm 1973 đã đƣợc sửa đổi vào ngày 26 tháng 6 năm
1999 tại Brucxen - Bỉ. Nguyên nhân của sự thay đổi lần này là sự phát triển
mạnh mẽ của thƣơng mại quốc tế theo hƣớng toàn cầu hoá đòi hỏi hoạt động

Trích đoạn Khuyến nghị của tổ chức hải quan cỏc nƣớc ASEAN Định hƣớng phỏt triển của Hải quan Việt Nam Hoàn thiện hệ thống phỏp luật về kiểm tra sau thụng quan Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ mỏy kiểm tra sau thụng quan Nõng cao trỡnh độ cỏn bộ kiểm tra sau thụng quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status