MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài khóa luận`................................................................................................................ 1
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.............................................................................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................................................................................... 5
6. Kết cấu khóa luận.................................................................................................................................................................. 5
3.2.2 Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT ở Tổng công ty may 10.........................................36
3.2.2.1 Thực tiễn giao kết hợp đồng MBHHQT tại Tổng công ty may 10.........................................................36
Phương thức giao kết hợp đồng........................................................................................................................................ 37
3.2.2.2. Thực tiễn thực hiện hợp đồng MBHHQT tại Tổng công ty may 10..........................................................39
Chuẩn bị hàng hoá................................................................................................................................................................... 39
Kiểm tra hàng hoá................................................................................................................................................................... 40
Thuê tàu lưu cước.................................................................................................................................................................... 40
Làm thủ tục hải quan............................................................................................................................................................. 40
Giao nhận hàng với tàu......................................................................................................................................................... 40
Thanh toán hợp đồng............................................................................................................................................................. 41
3.3 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT....................41
3.3.1. Đề xuất hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hợp đồng MBHHQT........................................................................41
3.3.1.1 Hoàn thiện, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT .................42
3.3.1.2 Hoàn thiện quy định về khái niệm, nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế...............43
3.3.1.4. Phê chuẩn các điều ước quốc tế về thương mại....................................................................................44
3.3.1.5 Giảm bớt thủ tục hải quan................................................................................................................................ 44
3.3.2. Đề xuất về phía Tổng công ty may 10................................................................................................................. 45
3.3.2.1 Đối với nghiệp vụ đàm phán và giao kết hợp đồng...............................................................................45
3.3.2.2 Đối với quá trình thực hiện hợp đồng MBHHQT....................................................................................46
KẾT LUẬN......................................................................................................................................................................................... 46
PHỤ LỤC............................................................................................................................................................................................ 47
Vii/ trade mark.................................................................................................................................................................... 50
LỜI MỞ ĐẦU
em nhận thấy rằng việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế diễn ra
thường xuyên. Hơn nữa hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế là một trong các hoạt động
chính của công ty, đóng vai trò quan trọng trong quá trình kinh doanh của công ty, vì vậy
1
em đã chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty may 10 - CTCP” làm công trình nghiên
cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Những vấn đề pháp lý về hoạt động MBHHQT nói chung và hợp đồng MBHHQT
nói riêng đã được đề cập trong giáo trình của một số trường đại học như Giáo trình Luật
Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội…
nhưng mới chỉ dừng lại ở việc trang bị các kiến thức cơ bản. Bên cạnh đó cúng đã có
nhiều công trình nghiên cứu chất lượng liên quan đến vấn đề này. Những nghiên cứu này
đã có những thành công nhất định, góp phần làm rõ thêm vấn đề lý luận và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Một số tác phẩm đề cập
đến đề tài cần được quan tâm như:
Nguyễn Thị Tuyết Giang (2008), “Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế”, Luận văn thạc sĩ luật học Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn tập
trung vào các vấn đề lý luận chung liên quan đến xác định pháp luật áp dụng trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thực trạng pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế và đưa ra một số giải pháp. Bài luận văn chỉ đi sâu vào việc xác
định pháp luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chưa đề cập đến
các vấn đề như giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và những bất cập
còn tồn tại của pháp luật điều chỉnh nội dung này.
Nguyễn Văn Quang (2014), “So sánh chế định giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ước Viên 1980”, Luận văn thạc sĩ luật
học Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn khái quát chung về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ước Viên 1980, so sánh các nội
một nhu cầu tất yếu. Đây cũng là giải pháp góp phần bảo vệ quyền lợi cho các doanh
nghiệp thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; giảm thiểu các vi phạm hợp đồng
xảy ra; dễ dàng hơn trong xác định trách nhiệm pháp lý; tạo nên môi trường kinh doanh
thuận lợi thu hút các doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy, việc nghiên cứu pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng hiện nay là vô cùng cần thiết.
Bằng việc tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu đi trước khác và quá trình tìm
hiểu, thực tập tại Tổng công ty may 10 cùng với sự hướng dẫn tận tình của giảng viên
ThS. Đỗ Hồng Quyên, đề tài nghiên cứu này tập trung vào phân tích một số nội dung
pháp luật về hợp đồng MBHHQT, tìm hiểu về nội dung, hình thức, quá trình giao kết và
thực hiện của một hợp đồng MBHHQT, nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng MBHHQT. Nghiên cứu và đánh giá về thực trạng thực hiện các quy phạm pháp
luật điều chỉnh hợp đồng MBHHQT. Sau đó đưa ra thực tiễn áp dụng pháp luật về giao
kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế tại Tổng công ty may 10 và đề ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng MBHHQT.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh giao kết
và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trong các văn bản pháp luật có liên
quan đến hợp đồng MBHHQT, các bản hợp đồng MBHHQT của Tổng công ty may 10
3
và thực tiễn thực hiện những quy định đó trong nội dung các bản hợp đồng MBHHQT
giữa Tổng công ty may 10 với các đối tác của Tổng công ty.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT; trên cơ sở đó đề ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng MBHHQT để đảm bảo thực thi có hiệu quả
trên thực tế, nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan trong điều kiện kinh tế thị
trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
đề tài tập trung sử dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp thu nhập, phân tích,
tổng hợp, thống kê chọn lọc.... Các phương pháp này được vận dụng trong nhiều phần
khác nhau của đề tài.
Phương pháp thu thập dữ liệu, thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các dữ liệu có
sẵn từ các phương tiện thông tin đại chúng như: sách, báo, internet…Ngoài ra, đề tài còn
sử dụng các báo cáo tổng kết của Tổng công ty may 10 – CTCP. Thu thập thông tin sơ
cấp: Thông tin sơ cấp được thu thập bằng cách hỏi ý kiến của các chuyên gia, các anh chị
có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thảo luận
nhóm với các sinh viên có chung vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp thống kê, chọn lọc, tổng hợp dữ liệu: Từ những dữ liệu đã thu thập
được, tiến hành tổng hợp dữ liệu, chọn lọc những dữ liệu cần thiết để tiến hành phân tích,
đưa vào bài.
Phương pháp phân tích, so sánh dữ liệu: Dựa vào các dữ liệu đã thu thập và tổng
hợp có chọn lọc, tiến hành phân tích dữ liệu, so sánh với những thông tin, dữ liệu, văn
bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để tìm ra những ưu, khuyết điểm của vấn đề
nghiên cứu, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện cho đề tài khóa luận của mình.
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: nhằm nắm bắt được những khó khăn,
vướng mắc của cơ quan quản lý trong quá trình thực tiễn hoạt động giao kết và thực hiện
hợp đồng tại Tổng công ty may 10 – CTCP.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung của bài khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và Pháp luật
điều chỉnh Hợp đồng MBHHQT
Chương 2: Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy
định của pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật điều chinh hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế, Thực tiễn áp dụng hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT tại Tổng
công ty may 10 và một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết
và thực hiện hợp đồng MBHHQT
Trước hết, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.[2]
Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa.
1[]
2[]
Theo Nguyễn Ngọc Khánh (2006), Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, tr.38
Theo Điều 3 Luật thương mại năm 2005
6
Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Luật thương mại nước ta không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong
thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự
để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 Bộ luật dân sự năm
2005, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa
vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả
tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là động sản cho nên hàng hóa thuộc tài sản và có
phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Có thể xem xét các đặc điểm của hợp
đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản. Theo đó đặc
điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận và là hợp đồng song vụ có
tính đền bù.
1.1.3. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với
khái niệm này song đều thống nhất chung một quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là hợp đồng có tính quốc tế. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp
ứng giữa hai nước. Về tiêu chí pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu
nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của
các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán [4]. Còn ở Việt Nam, căn
cứ theo Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới
các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển
khẩu[5]; qua đó gián tiếp bác bỏ quốc tịch khi xác định hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế.
Như vậy, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Việc sử dụng khái niệm này vẫn phải dựa trên căn cứ pháp lý là các nguồn
luật khác nhau điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế.
1.1.4 Giao kết hợp đồng MBHHQT
Giao kết hợp đồng dân sự là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo
hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận nhằm xác
định quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 389 luật dân sự quy định về nguyên tắc giao kết
hợp đồng dân sự).
Giao kết hợp đồng MBHHQT là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các chủ
thể là thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các nước khác nhau theo hình thức, nội dung,
nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp luật thừa nhận nhằm xác định quyền và nghĩa
vụ dân sự.
1.1.5 Thực hiện hợp đồng MBHHQT
Hợp đồng giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên. Thực hiện hợp đồng
là thực hiện những quyền và nghĩa vụ đã phát sinh trong hợp đồng. Thông thường với các
loại hợp đồng dân sự thì quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia. Vì vậy
thực hiện nghĩa vụ của bên này là đảm bảo quyền của bên kia. Đề đảm bảo quyền của các
bên giao kết hợp đồng, BLDS 2005 đã nêu một số nguyên tắc cơ bản cho việc thực hiện
hợp đồng tại điều 412, đó là các nguyên tắc:
4[]
5[]
Theo Nguyễn Thị Tuyết Giang, Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr.16
mại ở các nước khác nhau được xét là một trong những căn cứ xác định yếu tố quốc tế
của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Ngoài ra, trong thực tế thương mại quốc tế, không phải lúc nào các chủ thể của
hợp đồng là bên bán và bên mua đều đích thực trực tiếp ký hay thực hiện hợp đồng mà họ
ủy nhiệm, ủy quyền hoặc ủy thác cho bên thứ ba thường là đại lý, đại diện thương mại
hoặc bên nhận ủy thác ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng.
1.2.2
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
9
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng được quy định rất khác nhau
trong pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế. Có hệ thống pháp luật yêu cầu bắt buộc
hình thức cảu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được lập thành văn bản nhưng
cũng có hệ thống pháp luật không có bất kì yêu cầu nào về hình thức hợp đồng. Theo đó,
hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể được xác lập và chứng minh dưới mọi hình
thức, kể cả bằng lời khai của nhân chứng. Bên cạnh đó, một điểm cần lưu ý là ngay trong
khái niệm “văn bản” giữa các quốc gia cũng có cách quan niệm rộng, hẹp khác nhau về
những dạng vật chất nhất định chứa thông tin nào được coi là “văn bản” (thực tiễn
thương mại quốc tế thừa nhận các dạng tồn tại sau đây của dữ liệu như là văn bản: Bản
fax; điện tín, điện toán; tài liệu mềm …)
Tuy nhiên, để tránh những hiểu lầm khi thực hiện hợp đồng, thông thường mọi
thỏa thuận đều được ghi lại thành văn bản, nhất là trong trường hợp mua bán hàng hóa
quốc tế, khi các bên thường không có cùng tiếng nói, không cùng một hệ thống pháp luật
và có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau.
1.2.3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là tổng hợp các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng (bên bán và bên mua), được hình thành trong quá trình
1.3.1. Luật quốc gia
Luật quốc gia ở đây được hiểu là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia. Ví
dụ: Nếu pháp luật Việt Nam được áp dụng thì không chỉ áp dụng luật Thương mại mà là
toàn bộ pháp luật Thương mại, rộng hơn nữa là toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam.
Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT trong các trường hợp:
• Nếu Điều ước quốc tế mà quốc gia của chủ thể tham gia ký kết hoặc thừa nhận
có qui định về Điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT, thì luật đó đương nhiên
được áp dụng mà không phụ thuộc vào sự đàm phán và thoả thuận của các chủ thể.
• Các bên thoả thuận trong hợp đồng MBHHQT cho phép áp dụng luật quốc gia.
• Nếu các bên không đạt được bất kỳ một thoả thuận nào về luật áp dụng thì cơ
quan thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ tự mình lựa chọn luật áp dụng căn cứ vào qui
phạm xung đột của nước mình.
• Trường hợp do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà các bên
có thể thoả thuận lựa chọn luật áp dụng sau khi ký hợp đồng hoặc thậm chí sau khi đã
phát sinh tranh chấp (khi đó các bên vẫn có quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra xét xử
theo trình tự trọng tài và quyết định áp dụng luật quốc gia nào để giải quyết tranh chấp
mà hợp đồng chưa qui định về cơ quan giải quyết tranh chấp).
• Có một vấn đề cần lưu ý là là tất cả các nước trên thế giới đều không cho phép
áp dụng pháp luật nước ngoài khi có lý do phải bảo vệ trật tự công cộng nước mình dù
qui phạm xác định dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài.
Luật quốc gia được các bên lựa chọn có thể là luật nước người bán, nước người
mua, luật của nước thứ ba hoặc luật của bất kỳ nước nào khác có quan hệ với hợp đồng,
chẳng hạn như luật của nơi ký hợp đồng, nơi thực hiện nghĩa vụ….
11
Khi lựa chọn pháp luật của một nước thứ ba, phải có hiểu biết về luật pháp của
nước đó. Cần phải biết luật đó bảo vệ quyền lợi của người bán, người mua, luật đó có trái
với chế độ chính trị hay vi phạm quyền lợi của chủ thể tham gia ký kết hợp đồng hay không.
Ở Việt Nam, luật quốc gia có liên quan đến hợp đồng MBHHQT là luật Thương
Điều ước quốc tế có giá trị áp dụng bắt buộc trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia đó. Các qui
phạm luật quốc gia ban hành phải phù hợp với Điều ước quốc tế (nguyên tắc nội luật hoá).
Trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế có một số điều ước quốc tế tiêu biểu:
- Điều kiện chung về giao hàng giữa các tổ chức kinh tế của các nước thành viên
Hội đồng tương trợ kinh tế (ĐKCGHSEV 1968/1988) điều chỉnh quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
- Một điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực MBHHQT là công ước Viên về
mua bán hàng hoá quốc tế ngày 1/1/1980. Đến nay đã có hơn 60 nước phê chuẩn công
ước này.
- Quy tắc La Haye ngày 15/6/1955 về Luật áp dụng vào hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế.
- Công ước Rôma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được
ký tại Rôm ngày 19/6/1980.
- Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được ký ở Mehico
City ngày 17/5/1994, được thông qua bởi Hội nghị quốc tế Liên Mỹ về tư pháp quốc tế tổ
chức tại Mehico City(6).
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 60 Hiệp định thương mại song phương.
Trong đó phải kể đến: Hiệp định Buôn bán hàng dệt may Việt Nam – EU là hiệp định
thương mại chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất xứ của hàng hoá, điều khoản
liên quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng. Việc ký kết các hiệp
định thương mại, là thành viên của các công ước quốc tế sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và
thống nhất cho hoạt động MBHHQT giữa các thương nhân Việt Nam với các thương
nhân nước ngoài(7).
1.3.2.2. Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thương mại là những thói quen thương mại được lặp đi lặp lại trong một
thời gian dài được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng rãi trong những hoạt động
thương mại nhất định. Thông thường thói quen thương mại được công nhận là tập quán
thương mại quốc tế khi thoả mãn Điều kiện:
tắc về nhờ thu (URC).
Tập quán thương mại quốc tế là tập quán thương mại được nhiều nước công nhận
và áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi, nhiều khu vực. Trong các hợp đồng xuất nhập khẩu
thường dẫn chiếu tới tập quán thương mại quốc tế trong Incoterms do Phòng Thương mại
và Công nghiệp quốc tế biên soạn vào năm 1936, sửa đổi bổ sung vào các năm 1953,
1967, 1980, 1990, 2000 và gần đây nhất là Incortems năm 2010 - qui định về Điều kiện
giao hàng, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, như: chi phí trong giao nhận hàng
hoá giữa các bên, thời điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua. Ngoài ra người
ta còn áp dụng Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) do phòng
Thương mại và Công nghiệp quốc tế ban hành.
1.3.2.3. Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại
Tiền lệ pháp về bản chất là việc sử dụng các phán quyết đã tuyên bố trước đây của
toà án hoặc trọng tài trên cơ sở phân tích và vận dụng nó như một cơ sở pháp lý để các cơ
quan tư pháp giải quyết tranh chấp về sau. Đối với một số quốc gia thì tiền lệ pháp không
được coi là nguồn của pháp luật, nhưng đối với một số nước như Anh, Mỹ thì tiền lệ
pháp được coi là một nguồn quan trọng của pháp luật.
14
Việt Nam không thừa nhận tiền lệ pháp, nhưng đối với hợp đồng MBHHQT có thể
trở thành luật áp dụng nếu một trong hai nước mà chủ thể mang quốc tịch coi án lệ là một
nguồn của pháp luật và luật áp dụng trong hợp đồng là luật của quốc gia coi án lệ là
nguồn của pháp luật. Tuy nhiên việc sử dụng án lệ không được trái với nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam.
15
CHƯƠNG 2: GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý nếu những điều kiện này được thực hiện.
16
Đối với hợp đồng bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên
đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Các bên có thể sử dụng những chứng cứ hợp
pháp để chứng minh việc các bên đã thỏa thuận.
2.1.2 Giao kết hợp đồng MBHHQT gián tiếp
Giao kết hợp đồng bằng phương thức gián tiếp là việc các bên không trực tiếp gặp
nhau để bàn bạc, thoả thuận mà thực hiện trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công
văn, điện báo, đơn đặt hàng, đơn chào hàng…có ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch.
Trình tự giao kết hợp đồng theo phương thức này bao gồm hai giai đoạn: Đề nghị giao
kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Những vấn đề này không được
Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể, vì vậy các quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 sẽ
được áp dụng, và áp dụng chung cho cả hợp đồng MBHHQT.
• Đề nghị giao kết hợp đồng: có bản chất là hành vi pháp lý đơn phương của một
chủ thể, có nội dung bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với các chủ thể khác theo những
điều kiện xác định. Đó là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp
nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên
đã được xác định cụ thể8. Về nguyên tắc thì hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng phải
phù hợp với những quy định pháp luật về hợp đồng. Bộ luật dân sự 2005 không quy định
về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng, để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng,
theo đó đề nghị hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể
hoặc kết hợp giữa các hình thức này. Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức của
hợp đồng phải bằng văn bản thì hình thức đề nghị của hợp đồng cũng phải bằng văn bản.
Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định. Hiệu lực của đề
nghị giao kết hợp đồng thông thường được bên đề nghị ấn định. Nếu bên đề nghị không
ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị hợp đồng thì đề nghị của giao kết hợp đồng có
hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Trong trường hợp đề nghị giao
chậm trả lời. Trong trường hợp thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đến chậm
vì lý do khách quan thì thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng này vẫn có
hiệu lực.
Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp
đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời
chấp nhận giao kết hợp đồng.
Hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản, thời điểm đạt được sự thỏa thuận
được xác định khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. trong một
số trường hợp sự im lặng của bên được đề nghị cho đến khi hết thời hạn trả lời cũng có
thể là căn cứ xác định hợp đồng đã được giao kết nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời
chấp nhận giao kết hợp đồng (theo khoản 2 điều 404 BLDS năm 2005). Tuy nhiên theo
CISG thì sự im lặng hoặc không hành động của người nhận được chào hàng không được
coi là chấp nhận chào hàng. (Điều 14 khoản 1).
Đối chiếu với các quy định liên quan của CISG, có thể nói, ngoại trừ một số chi
tiết cụ thể, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến giao kết hợp đồng
đều tương thích với những nguyên tắc cơ bản của Công ước Viên 1980. Chỉ có một số
khác biệt nhỏ, thể hiện ở những quy định chi tiết hơn của Công ước. Ví dụ, CISG quy
định cụ thể về điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa (gồm tên hàng, số
lượng, giá cả), còn pháp luật về mua bán hàng hóa của Việt Nam hiện nay không có quy
định hợp đồng mua bán hàng hóa phải có những điều khoản chủ yếu nào. Ngoài ra, CISG
còn quy định rất rõ tại điều 19.3 về nội dung của chấp nhận chào hàng, qua đó có thể xác
Pháp luật về hợp đồng thương mại và đầu tư: những vấn đề pháp lý cơ bản – TS Phạm Thị Dung
XBCTQG 2008
9
18
định được những sửa đổi bổ sung nào của chấp nhận chào hàng là cơ bản khiến cho chấp
nhận chào hàng đó trở thành một chào hàng mới. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
ngân hàng…). Tuy nhiên chưa có quy định về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.
Luật Giao dịch điện tử chỉ có một điều quy định về thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký
điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài.
19
Một hợp đồng được hình thành khi một đề nghị giao kết hợp đồng (thường được gửi
dưới dạng một đơn chào hàng) được chấp nhận. Đối với hợp đồng điện tử, các vấn đề có
thể phát sinh khi một đơn chào hàng hoặc một sự chấp nhận bị mạo danh bởi một người
nào đó không có thẩm quyền về mặt pháp lý để ràng buộc công ty với hợp đồng. Trong
một số trường hợp, doanh nghiệp có thể nhận được đơn chào hàng hay đơn đặt hàng
được ký bởi một chữ ký không đảm bảo an toàn, ví dụ như loại chữ ký gồm các ký tự đơn
giản, chữ ký là một bản quét chữ ký viết tay, v.v… Trong trường hợp như vậy, doanh
nghiệp cần có một thư điện tử yêu cầu đối tác xác nhận thông tin đã nêu nhằm tránh
những rủi ro có thể phát sinh. Nếu doanh nghiệp không có sự xác nhận lại như thế hoặc
không có những thủ tục ràng buộc, rất có khả năng một người khác đang lợi dụng những
thông tin của bên đối tác để gửi đơn chào hàng hoặc đơn đặt hàng giả. Nếu thực hiện việc
giao hàng (hoặc cung ứng dịch vụ) theo những đơn chào hàng, đơn đặt hàng đó, doanh
nghiệp sẽ gánh chịu thiệt hại về vật chất do gặp rủi ro không lấy được tiền hàng.
Bên cạnh đó, đối với hợp đồng điện tử, vấn đề về lưu trữ chữ ký điện tử cũng là vấn
đề phức tạp. Doanh nghiệp sử dụng chữ ký điện tử cần phải có sự đảm bảo về việc bảo
mật cho các chữ ký dạng này được lưu giữ trong các máy vi tính vì trong trường hợp bất
kỳ, nếu một người nào tiếp cận được với chữ ký đó và dùng nó để ký hợp đồng thì doanh
nghiệp không còn cách nào khác là phải công nhận hiệu lực của hợp đồng điện tử đã ký
kết trước đối tác của mình, về mặt pháp lý, dù điều đó bất lợi cho mình. Hoặc nếu doanh
nghiệp để lọt mật mã vào tay người khác, người này có thể giả mạo doanh nghiệp để giao
kết hợp đồng điện tử với đối tác. Trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp có thể
sẽ chịu rất nhiều rủi ro như: mất danh tiếng, phải thực hiện những hợp đồng không phải
do mình ký, đối tác không tin tưởng v.v…
2.2 Pháp luật điều chỉnh vấn đề thực hiện hợp đồng MBHHQT
bán và địa điểm này thường tuỳ thuộc vào điều kiện cơ sở. Ví dụ khi so sánh hai điều
kiện giao hàng CIF và DDU, trong hợp đồng mua bán theo điều kiện CIF trách nhiệm
giao hàng của bên bán được hoàn thành khi hàng hoá được giao lên tàu ở cảng đi. Theo
điều kiện DDU bên bán chịu mọi rủi ro cho đến tận khi hàng hoá tới cảng đến và thanh
toán toàn bộ cước phí tới tận điểm đích…
• Giao hàng đúng thời hạn
Điều 37 LTM 2005 quy định về thời điểm giao hàng. Thời hạn giao hàng trong hợp đồng
mua bán MBHHQT là thời hạn mà bên bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho
người mua. Thời hạn giao hàng có thể được các bên quy định là giao ngay hàng trong
một khoảng thời gian nhất định, giao một lần, giao một chuyến, giao thành nhiều chuyến,
hoặc thời hạn cuối cùng mà hàng phải giao xong. Thời điểm người bán hoàn toàn thành
nghĩa vụ giao hàng còn phụ thuộc vào điều kiện giao hàng cơ sở mà các bên thoả thuận.
Người bán cũng có thể giao hàng trước thời hạn, giao hàng từng phần khi có thoả
thuận trong hợp đồng hoặc khi được người mua chấp nhận.
• Trường hợp giao hàng trước hạn
21
Theo điều 38 LTM 2005 quy định, trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn
đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên
không có thỏa thuận khác. Trên thực tế thì bên mua thường nhận hàng ngay khi
có thể vì việc vận chuyển trong thương mại quốc tế luôn có nhiều sự biến,
không thể đảm bảo đến đúng hạn.
2.2.1.2 Giao chứng từ liên quan
Chứng từ của hàng hóa là một phần của hàng hóa, nó làm cho hàng hóa trở
nên có giá trị hợp pháp, chính vì vậy việc chuyển giao giấy tờ đúng quy định
của hợp đồng và luật áp dụng được coi là hành vi quan trọng trong nghĩa vụ của
người bán. Việc giao chứng từ được thực hiện với các trách nhiệm sau:
• Giao chứng từ đúng thời gian
Giao chứng từ đúng thời hạn cũng quan trọng như giao hàng đúng thời hạn, bởi
2.2.2 Nhận hàng
Theo điều 56 LTM 2005 quy định, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận
và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng. Vấn đề này cũng được
quy định tại Điều 60 Công ước Viên 1980. Theo đó, bên mua phải thực hiện mọi hành vi
tạo điều kiện cho bên bán giao hàng và tiếp nhận hàng hoá.
Nghĩa vụ nhận hàng là nghĩa vụ theo đó mà người mua phải chuẩn bị đầy đủ phương
tiện đồng thời thực hiện những thủ tục cần thiết để người bán thực hiện nghĩa vụ giao
hàng và bên mua phải tiếp nhận hàng. Khi người bán mang hàng đến địa điểm đúng quy
định và đặt hàng dưới sự định đoạt của người mua thì người mua phải thực hiện nghĩa vụ
của mình là nhận hàng. Để thực hiện việc sẵn sang tiếp nhận hàng hóa, người mua phải
tiến hành chuẩn bị mọi cơ sở vật chất như phương tiện bốc dỡ, chuẩn bị kho bãi…
Kiểm tra hàng hóa là một bước không thể thiếu của người mua khi nhận hàng.Đây
không phải là một nghĩa vụ của người mua để nhận hàng thế nhưng đó là việc đảm bảo
quyền lợi cho mình. Sau khi kiểm tra và phát hiện sự không phù hợp của hàng hóa, người
mua cần thông báo sự không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý, nếu không thông báo
kịp thời, người mua sẽ mất quyền khiếu nại. Việc kiểm tra hàng hóa về hình dáng, kích
thước hay những đặc trưng khác là một trong những quyền lợi của bên mua. Nếu bên
mua không thực hiện trong thời gian đã thỏa thuận thì quyền lợi này sẽ được bên bán xác
nhận thay cho bên mua.
Sau khi giám định hàng hóa, nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, người mua
có quyền từ chối nhận hàng, có thể từ chối cả lô hàng hoặc một phần lô hàng.
2.2.3. Thanh toán
23
Thanh toán tiền hàng của bên mua cũng quan trọng như việc giao hàng của bên
bán. Theo khoản 1, điều 50 LTM 2005 quy định bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán và nhận hàng theo thỏa thuận.
• Phương thức thanh toán
Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện thanh toán theo trình tự,