Báo cáo thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vấn đề hợp đồng trong thương mại quốc tế là một vấn đề quan trọng và
mang tính cấp thiết nhất là trong hoàn cảnh hiện nay khi mà nước ta đang
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trước mặt là rất nhiều những cơ hội
và thách thức lớn. Trong những năm gần đây nền kinh tế có nhiều biến
chuyển, xu thế toàn cầu hoá kinh tế và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế
đang diễn ra mạnh mẽ. Cùng với xu thế đó mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa
Việt Nam và các nước ngày càng mở rộng và phát triển.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang một ý nghĩa đặc biệt trong hoạt
động kinh doanh quốc tế bởi lẽ nó là sự biểu hiện về mặt hình thức của sự
giao kết của hai đối tác: Việt Nam và nước ngoài. Nếu càng nhiều hợp đồng
được thực hiện thì chứng tỏ nước ta ngày càng dấn sâu vào thị trường thế
giới, các hợp đồng được thực hiện một cách xuất sắc cũng có thể chứng tỏ
được bản lĩnh của doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường quốc tế, nhất là
khi môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt.
Xuất phát từ những thực tế trên em xin lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về
hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu kỹ thuật TECHNIMEX”
Việc nghiên cứu sau đây tuy có tìm hiểu nhiều về các quy định về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế qua Luật pháp của nhiều nước và các công
Ước quốc tế nhưng chủ yếu vẫn là dưới góc nhìn của Luật Việt Nam và thông
qua quá trình thực tập tại công ty Cổ phần xuất nhập khẩu kỹ thuật
Technimex
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế.
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
Chương III: Phương hướng nâng cao hoạt động ký kết và thực hiện hợp
đồng mua bán thương mại quốc tế tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu kỹ
thuật Technimex
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
NỘI DUNG
Chương I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ
I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được hiểu là hợp đồng mua bán hàng
hóa có tính chất quốc tế. Để hiểu khái niệm về loại hợp đồng này thì trước hết
cần phải hiểu rõ thế nào là một hợp đồng mua bán hàng hóa.
Bộ luật Dân sự năm 2005 có đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự tại Điều
388: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Hợp đồng mua bán hàng hóa là
Về tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tùy theo
quan điểm của luật pháp các nước khác nhau lại có một cách hiểu không
giống nhau. Ví dụ như theo quan điểm của Công ước Viên năm 1980 của
Liên hợp quốc và Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa quốc tế: Công ước
Viên năm 1980 chỉ đưa ra một tiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế của
hợp đồng mua bán quốc tế, đó la các bên ký kết có trụ sở thương mại đặt ở
các nước khác nhau (Điều 1 Công ước Viên 1980). Công ước Viên 1980
không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định yếu tố nước
ngoài của hợp đồng mua bán quốc tế. Ở Việt Nam Luật Thương mại năm
2005 không quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ quy định
về mua bán hàng hóa quốc tế. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng
không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế mà chỉ liệt kê những hoạt động được coi là mua bán hàng
hóa quốc tế. Điều 27 khoản 1 nêu rõ: “Mua bán quốc tế được thực hiện dưới
các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và
chuyển khẩu.”
Tóm lại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là tất cả các hợp đồng
mua bán được ký kết giữa các thương nhân Việt Nam, doanh nghiệp của
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
Việt Nam với các thương nhân nước ngoài nhằm thực hiện việc xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu.
2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Là một phần của hợp đồng thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế có mang đầy đủ đặc điểm của một hợp đồng thương mại, nhưng so với hợp
đồng mua bán hàng hóa trong nước thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
lại có những đặc điểm khác biệt nhất định. Tính chất quốc tế của hợp đồng đã
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng có
thể được chuyển qua biên giới của một nước, tức là có thể chuyển từ nước
này sang nước khác, hoặc được chuyển từ khu chế xuất…
2.3.
Nội dung của hợp đồng
Luật Dân sự Việt Nam 2005 có quy định về nội dung của một hợp đồng
dân sự tại điều 402:
“Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội
dung sau đây:
1.
Đối tượng của hợp đồng là tài sản hải giao, công việc phải làm hoặc
không được làm;
2.
Số lượng, chất lượng;
3.
Giá, phương thức thanh toán;
4.
Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
5.
- Về số lượng: Có rất nhiều cách xác định số lượng hàng, trọng lượng
hàng. Ở mỗi nước cũng đều có đơn vị đo lường tiêng của mình, ví dụ ở
Anh, khi xác định đơn vị đo lường cho hàng hóa thuộc dạng lỏng, người ta
hay dùng đơn vị Gallong = 4,546 lít; còn ở Hoa Kỳ, Gallon = 3,4231 lít. Do
đó, để tránh sự nhầm lẫn, cần ghi rõ trong hợp đồng.
Thông thường, trong thực tiễn thương mại quốc tế người ta thường có hai
cách xác định số lượng hàng. Có thể xác định người bán phải giao một số
lượng hàng chính xác hoặc một số lượng hàng có dung sai. Hai cách xác định
này sẽ làm cho người bán gánh chịu những hậu quả pháp lý khác nhau nếu
người bán vi phạm.
Điều khoản về giá cả và phương thức thanh toán:
Điều khoản về giá cả và phương thức thanh toán là điều khoản chủ yếu,
đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng mua bán ngoại thương.
- Luật pháp của đa số nước quy định rằng, về nguyên tắc, giá hàng
phải được quy định cụ thể trong hợp đồng. Song, thực tế, nếu hợp đồng
không có quy định giá cụ thể thì phai quy định cách xác định giá, cách tính
giá. Ví dụ các bên có thể quy định trong hợp đồng rằng giá cả sẽ được xác
định theo thỏa thuận của hai bên một tháng trước khi giao hàng; hoặc giá cả
sẽ được xác định trên cơ sở giá công bố ở một sở giao dịch nào đó vào thời
điểm giao hàng…
- Điều 52 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định “ trường hợp
không có thỏa thuận về giá hàng, không có thỏa thuận về phương pháp xác
định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác, thì giá của hàng được
xác định theo giá của hàng hóa đó trong các điều kiện tương tự về phương
thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hóa, thị trường địa lý, phương thức
thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá”.
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
bên quy định rõ trong hợp đồng, hoặc có thể được hai bên dẫn chiếu đến
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
các điều kiện thương mại quốc tế như các điều kiện FOB, CIF, CIP,…
Incoterms năm 2000…
Tranh chấp phát sinh giữa các bên xung quanh việc ký kết và thực hiện
hợp đồng có thể do Tòa án của một nước hoặc do một tổ chức trong tài có
thẩm quyền xét xử.
Luật điều chỉnh hợp đồng (luật áp dụng cho hợp đồng) mang tính chất
phức tạp, đa dạng: nếu là hợp đồng trong nước thì nó chỉ chịu sự điều chỉnh
của luật pháp nước đó, còn nếu là hợp đồng mua bán quốc tế thì có thể sẽ phải
áp dụng luật nước ngoài, tập quán quốc tế hoặc điều ước quốc tế và thậm chí
cả án lệ (tiền lệ pháp).
Những đặc điểm này cũng đồng thời nói lên tính chất quốc tế của hợp
đồng mua bán hàng hóa mà dựa vào đó để phân biệt nó với hợp đồng mua bán
hàng hóa trong nước nói riêng và với hợp đồng thương mại nói chung.
II.
Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Một hợp đồng mua bán hàng hóa thương mại quốc tế trong giao dịch buôn
bán (bỏ qua hàng tặng và các vấn đề khác) chỉ đơn giản là một bên đưa ra lời
chào hàng và bên kia chấp nhận lời chào hàng ấy. Chào hàng làm phát sinh
trách nhiệm ngay khi nó rời tay bên chào hàng đồng thời nó cũng có thể hủy
ngang bất cứ lúc nào trước khi được chấp nhận.
Đặt hàng là một lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua,
trong đơn đặt hàng, người mua liệt kê với người bán cụ thể với các hàng hóa
tế phải ký kết bằng hình thức văn bản mới có hiệu lực và mọi sửa đổi bổ sung
cũng phải làm bằng văn bản. Mọi hình thức sửa đổi bằng miệng đều không có
giá trị pháp lý.
+ Nội dung phải hợp pháp
+ Đối tượng – hàng hóa mua bán theo hợp đồng mua bán quốc tế – phải
hợp pháp.
+ Hợp đồng phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện: Nguyên tắc này cho
phép các bên được hoàn toàn tự do thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các
bên trong khuôn khổ pháp luật và loại bỏ tát cả các hợp đồng được ký kết trên
cơ sở dùng bạo lực, do bị đe dọa, bị lừa đảo hoặc do sự nhầm lẫn.
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
2. Thủ tục ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Ai là người có quyền ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nếu hợp đồng được ký kết giữa các cá nhân, các thương nhân cá thể hay
các doanh nghiệp tư nhân với nhau thì người có thẩm quyền ký các hợp đồng
mua bán quốc tế là người chủ các doanh nghiệp đó. Họ là các cá nhân có tên
trong đăng ký kinh doanh (ở Việt Nam) hoặc có tên trong sổ đăng ký thương
nhân, trong sổ đăng ký thương mại (ở các nước phương Tây) hoặc những
người được các chủ doanh nghiệp, các cá nhân đăng ký kinh doanh ủy quyền.
- Nếu hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp dưới dạnh công ty,
hãng, hiệp hội, tập đoàn, tổng công ty… luật pháp sẽ quy định rõ ai là người
có quyền ký hợp đồng đó. Thông thường, đó là những người đại diện theo
pháp luật cho các công ty, cho các pháp nhân… Ví dụ, đó là Tổng giám đốc
hoặc Giám đốc các công ty, Chủ tịch các hãng, các tập đoàn… Những người
này là những người đại diện theo luật định cho pháp nhân trong giao dịch đối
nội cũng như đối ngoại. Song trong thực tế, không phải lúc nào những người
Giai đoạn chấp nhận đề nghị ký kết hợp đồng: khi một đề nghị ký kết hợp
đồng được đưa ra thì bên được đề nghị có thể chấp nhận hoặc từ chối hợp
đồng. Nhưng cần lưu ý rằng nếu bên được đề nghị không hoàn toàn chấp nhận
hợp đồng một cách vô điều kiện mà lại có yêu cầu bổ sung sửa đổi một số
điểm vào đề nghị ký kết hợp đồng thì theo luật pháp của hầu hết các nước cho
đó là việc từ chối hợp đồng. Việc từ chối ký kết này sẽ đưa lại những hậu quả
pháp lý nhất định: hợp đồng chỉ được coi là ký kết nếu người đê nghị chấp
nhận mọi sửa đổi bổ sung mà người được đề nghị đã đưa ra.
Sau khi đề nghị ký kết đã được chấp nhận thì cần xác định ngày và nơi ký
kết đối với trường hợp hợp đồng được ký kết giữa những người ở xa, không
có điều kiện gặp gỡ để đàm phán trực tiếp này.
Cũng như nhiều vấn đề khác, các nước khác nhau lại có những quy định
khác nhau trong vấn đề này. Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế coi ngày mà người đề nghị ký kết hợp đồng nhận được chấp
nhận vô điều kiện đề nghị ký kết hợp đồng là ngày hợp đồng được ký kết.
Đồng thời, nơi nhận được chấp nhận vô điều kiện đó cũng như là nơi ký kết
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
hợp đồng (Điều 18 và 23). Tương đương với quan điểm này có Pháp và một
số nước thuộc Civcil Law được gọi là thuyết tiếp thu, trong đó có Việt Nam
(Điều 404 Bộ luật Dân sự 2005 cũng có quy định về thuyết này).
Còn với những nước theo hệ thống luật Common Law như Anh, Hoa
Kỳ…, thời điểm ký kết hợp đồng được coi là ngày gửi đi chấp nhận ký kết
hợp đồng (thuyết tống phát). Và nơi ký kết hợp đồng cũng là nơi gửi đi chấp
nhận ký kết hợp đồng.
2.2. Thủ tục đăng ký hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Mặc dù các doanh nghiệp kinh doanh XNK có quyền chủ động và chịu
4. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
4.1. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
Để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng (tức là cho thụ trái), cần căn
cứ vào 4 yếu tố sau:
∗ Thụ trái có hành vi trái pháp luật. Trong hợp đồng mua bán quốc tế,
hành vi trái pháp luật được coi là việc không thực hiện hoặc thực hiện
không tốt hợp đồng.
∗ Trái chủ có lỗi. Lỗi của thụ trái khi vi phạm hợp đồng mua bán quốc tế
là lỗi suy đoán. Điều này có ý nghĩa là pháp luật dựa vào nguyên tắc
“suy đoán lỗi” để quy trách nhiệm cho thụ trái chứ không dựa vào lỗi
cố ý hay lỗi khinh suất.
∗ Trái chủ có thiệt hại về tài sản. thiệt hại mà trái chủ gánh chịu có thể là
thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần (như mất uy tín kinh
doanh). Thiệt hại đó phải mang tính chất thực tế, nghĩa là phải có thể
tính toán được một cách cụ thể. Muốn đòi bồi thường thiệt hại, trái chủ
phải chứng minh được là họ đã có thiệt hại thực tế đó.
∗ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của thụ trái với
thiệt hại thực tế mà trái chủ gánh chịu.
4.2. Căn cứ miễn trách của thụ trái
Khi vi phạm hợp đồng mua bán quốc tế thụ trái sẽ được miễn trách nếu họ
chứng minh được là họ đã gặp được một trong các căn cứ miễn trách sau:
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
- Lỗi của trái chủ.
- Lỗi của người thứ 3
- Gặp trường hợp bất ngờ
Điều 302 có quy định: “1) Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi
thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho các bên bị vi
phạm; 2) Giá trị bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và
khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do
bên vi phạm hợp đồng gây ra”. Muốn áp dụng chế tài này, trái chủ phải chứng
minh được những thiệt hại thực tế mà mình gánh chịu.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng: Buộc thực hiện đúng hợp đồng là
việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng được thực
hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh. (Điều 297 Luật Thương Mại
2005)
Thực hiện đúng hợp đồng là làm đúng nghĩa vụ hợp đồng, nhằm vào đối
thượng của hợp đồng. Chế tài này được áp dụng trong hai trường hợp. Thứ
nhất, khi người bán không giao hàng, người mua có quyền tìm mua hàng của
người bán khác và bắt người bán cũ bù chênh lệch. Thứ hai, khi người bán
giao hàng kém phẩm chất, người mua có quyền yêu cầu người bán sửa chữa
khuyết tật của hàng hoặc thay thế hàng xấu bằng hàng có phẩm chất tốt.
Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng: Điều 308 Luật Thương mại năm
2005 quy định tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không
thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng khi gặp một trong các trường hợp sau đây:
a.
Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm
ngừng thực hiện hợp đồng;
b.
Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Khi hợp đồng bị tạm nhừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực và Bên bị
vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh.
Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng bức thi hành chế tài, luật pháp các
nước quy định hai điều kiện:
Thứ nhất, trái chủ phải chứng minh được thời hạn thực hiện nghĩa vụ của
thụ trái đã hết.
Thứ hai, trái chủ phải thông báo cho thụ trái biết là thời hạn thực hiện
nghĩa vụ của thụ trái đã hết. Theo quy định của luật pháp hầu hết các nước
trên thế giới, việc thông báo này là cơ sở pháp lý để trái chủ áp dụng cac biện
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
pháp cưỡng chế và là điều kiện bắt buộc theo luật định (trừ một số trường hợp
không phải thông báo do chính pháp luật quy định).
Các biện pháp cưỡng chế thi hành chế tài trong Ngoại thương
Biện pháp sai áp tài sản của thụ trái. Nếu thụ trái không trả tiền phạt,
không bồi thường thiệt hại… thì trái chủ có quyền sai áp vào tài sản của thụ
trái. Sai áp tức là nắm giữ tài sản của thụ trái để lấy nợ từ tài sản đó.
Có hai loại sai áp là sai áp trực tiếp và sai áp gián tiếp. Sai áp trực tiếp là
sai áp vào những tài sản mà thụ trái đã có, đang có hoặc sẽ có trong tương lai,
còn sai áp gián tiếp là sai áp và những món nợ mà người thứ ba nợ thụ trái.
Biện pháp tuyên bố phá sản
Đây cũng là một biện pháp có tính chất cưỡng chế được áp dụng để bảo vệ
quyền lợi cho trái chủ trong trường hợp thụ trái không trả được nợ cho trái
chủ vì lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách trong kinh doanh, thương mại.
Tuyên bố phá sản là một quy chế pháp lý có trong hầu hết luật pháp của
các nước có nên kinh tế thị trường phát triển. Thực chất tuyên bố phá sản là
thủ trục thanh toán tài sản của con nợ bị phá sản để trang trải cho các chủ nợ
bị liên quan.
- Tên viết tắt:
- Trụ sở chính: 70 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, TP. Hà nội
- Điện thoại: 9.423 751 - Fax: 8.220 377
- Tài khoản số: + VND: 002.1.00.0000408 – Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
+ USD: 002.1.37.0020269 – Ngân hàng Ngoại thương Hà nội.
- Mã số thuế: 0 1 0 1 1 9 2 8 5 1
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103000693, do phòng đăng ký
kinh doanh - Sở Kế hoạch Đầu tư TP Hà nội cấp ngày 19/12/2001.
Quá trình hình thành và phát triển
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
Từ năm 1982-1992:
Thực hiện ủy quyền thương mại về hợp tác khoa học kỹ thuật với nước
ngoài của Hội đồng Bộ trưởng cho ủy ban KH & KTNN, ngày 6-10-1982
Giáo sư Đặng Hữu Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đã có
quyết định số 212/QĐ về việc thành lập công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật
TECHNIMEX – là một trong hai doanh nghiệp nhà nước đầu tiên trực thuộc
Ủy ban KH&KTNN.
Chức năng, nhiệm vụ được giao là: trực tiếp quan hệ, giao dịch, ký kết và
triển khai thực hiện các hợp đồng về hợp tác KHKT đã được thỏa thuận trong
các Hiệp định, Nghị định thư mà Nhà nước đã ký với nước ngoài; Từng bước
tìm kiếm bạn hàng, tạo thị trường triển khai các hoạt động dịch vụ KHKT,
chuyển giao công nghệ, kinh doanh XNK vật tư thiết bị KHKT đáp ứng nhu
cầu cho công tác nghiên cứu KHKT và sản xuất.
Thành tựu trong 10 năm: đã thực hiện các hợp đồng trao đổi hợp tác trong
lĩnh vực KHKT, phối hợp tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học, chuyển
Đáp ứng nhu cầu cấp thiết về công nghệ trong nghiên cứu thí nghiệm và
sản xuất, Công ty đã chuyên biệt hóa các mặt hàng, sản phẩm, dịch vụ do
Công ty cung cấp thành 3 mảng chính: Cung cấp các thiết bị, dụng cụ thí
nghiệm có chất lượng cao, trong nước chưa sản xuất được; hợp tác kinh
doanh với các đối tác trong các lĩnh vực cung cấp thiết bị Y tế, thiết bị Tin
học, Viễn thông, thiết bị Giảng dạy,…và duy trì nghiệp vụ xuất nhập khẩu ủy
thác với tiêu chí là “giúp khách hàng nhập khẩu các sản phẩm từ nước ngoài
trong một thời gian ngắn nhất”.
Vị thế của công ty so với doanh nghiệp cùng ngành
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Kỹ thuật với hơn 20 năm kinh nghiệm
trong các lĩnh vực hoạt động như tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch
hợp tác khoa học, Công nghệ và Môi trường giao cho Công ty thực hiện, thực
hiện các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, máy móc, thiết bị trong
lĩnh vực khoa học kỹ thuật,chuyển giao công nghệ…
Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Công ty đã và đang có những bước phát
triển mạnh mẽ, vững chắc. Với bề dày kinh nghiệm trong quá trình hoạt động
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên xuất sắc, công ty đã và đang khẳng
định là doanh nghiệp có uy tín trên thương trường và được nhiều bạn hàng,
đối tác tin cậy, là một trong những công ty có thế mạnh so với các doanh
nghiệp cùng ngành.
2. Cơ cấu tổ chức
∗ Chức năng của bộ máy quản lý công ty:
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết định mọi
vấn đề quan trọng của Công ty theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty.
sách của Nhà nước và Điều lệ của Công ty. Phó Giám đốc chịu trách nhiệm
trước Giám đốc, HĐQT và Điều lệ của Công ty. Phó Giám đốc chịu trách
nhiệm trước Giám đốc, HĐQT và Pháp luật về nhiệm vụ được phân công.
Các phòng ban:
Các phòng ban: Công ty hiện có 7 phòng, ban, trung tâm và 2 văn phòng
đại diện.
Bùi Hạnh Ly - Anh 3 - Luật KDQT
Báo cáo thực tập
Phòng Hành chính Tổ chức: Phòng hành chính tổ chức giữ nhiệm vụ
quản lý chung về mặt nhân sự đối với toàn Công ty.
Phòng Tài chính Kế toán: là nơi tiến hành mọi hoạt động về kế toán, tài
chính, là cơ quan tham mưu cho Ban Điều Hành về các hoạt động san xuất
kinh doanh của công ty.
Phòng Dự án Khao học Kỹ thuật: là phòng chuyên cung cấp các thiết bị
nghiên cứu khoa học kỹ thuật, các thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu chuyên sâu
trong các lĩnh vực như: Công nghệ sinh học, Đo lường, kiểm chuẩn đối với
các vật liệu, các hóa chất tinh khiết phục vụ nghiên cứu, thí nghiệm…
Phòng Kinh doanh và xuất nhập khẩu: là phòng ban nghiệp vụ được
thành lập từ thời đầu, ngoài chức năng thực hiện nghiệp vụ xuất nhập khẩu,
phòng Kinh doanh và Xuất nhập khẩu giữ vau trò khai thác các mảng sản
phẩm và dịch vụ mới trong toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty.
Trung tâm Công nghệ Sinh học: Nhằm hỗ trợ các dự án về thiết bị công
nghệ sinh học, Trung tâm được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu các sản
phẩm mới, các phương pháp nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.
Trung tâm lắp đặt bảo hành thiết bị: được thành lập với nhiệm vụ theo