Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tài chính trong công tác thanh toán quốc tế tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tạp Phẩm Hà Nội (TOCONTAP) - Pdf 17


Trêng Đ¹i Häc Kinh TÕ Quèc D©n
khoa kinh tÕ vµ kinh doanh quèc tÕ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tài chính trong công tác thanh
toán quốc tế tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tạp Phẩm Hà Nội
(TOCONTAP)
Họ và tên sinh viên: Hoàng Mạnh Hà
Chuyên ngành: Kinh doanh Quốc tế
Lớp: KDQT46A
Khóa: 46
Hệ: Chính Qui
Giảng viên hướng dẫn: TS. Mai Thế Cường
HÀ NỘI – 5/2008
1

MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu ……………………………………………………………… 4
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG
CÔNG TÁC THANH TOÁN QUỐC TẾ
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP
KHẨU ………………………………………………………… 7
1. Khái niệm về thanh toán quốc tế ………………………….. 7
2. Vai trò của công tác thanh toán quốc tế trong hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu ………………………………... 7
3. Bản chất và đặc trưng của công tác thanh toán quốc tế …… 9
II. RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TÁC THANH TOÁN
QUỐC TẾ …………………………………………………….. 10
1. Khái niệm về rủi ro ……………………………………….. 10

2. Sự cần thiết của hoàn thiện công tác thanh toán và phòng
ngừa rủi ro tài chính trong công tác thanh toán quốc tế
3

tại TOCONTAP ……………………………………….. 41
3. Quan điểm phòng ngừa rủi ro tài chính trong công tác
thanh toán quốc tế tại TOCONTAP …………………... 42
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH
TRONG CÔNG TÁC THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI
TOCONTAP ……………………………………………… 44
1. Sử dụng các giải pháp chuyên môn quản trị rủi ro tài
chính trong công tác thanh toán quốc tế ………………. 44
2. Các giải pháp hỗ trợ trong nội bộ công ty ………………. 48
3. Các giải pháp hỗ trợ ngoài doanh nghiệp ……………… 49
4. Các giải pháp phòng ngừa rủi ro trong quá trình thực hiện
các quy trình nghiệp vụ của các phương thức thanh toán
quốc tế ………………………………………………… 50
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG TÁC THANH TOÁN
QUỐC TẾ ………………………………………………… 53
1. Kiến nghị với cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước …… 53
2. Kiến nghị với các ngân hàng …………………………. 55
KẾT LUẬN …………………………………………………………. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

4

LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng, đòi hỏi từng quốc gia phải
hội nhập để giảm khoảng cách của sự nghèo nàn với các nước tư bản phát triển.

doanh này. Tuy nhiên, các công cụ bảo hiểm rủi ro thương mại vẫn còn bị doanh
nghiệp thờ ơ. Các dịch vụ phát sinh trong ngân hàng như Swap, Forward, Future,
Option … là những công cụ chống rủi ro tài chính đã được phép sử dụng ở Việt
Nam nhưng số doanh nghiệp sử dụng chỉ tính trên đầu ngón tay. Vì vậy, cần phải
có sự quan tâm, nghiên cứu và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu cho
doanh nghiệp trong việc phòng ngừa rủi ro tài chính trong thanh toán quốc tế. Có
như vậy. công tác thanh toán quốc tế mới được hoàn thiện và các doanh nghiệp sẽ
có biện pháp để thúc đẩy quá trình kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thu
về lợi nhuận kinh tế cao.
Từ những yêu cầu trên, sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xuất
nhập khẩu Tạp Phẩm Hà Nội (TOCONTAP), tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp
phòng ngừa rủi ro tài chính trong công tác thanh toán quốc tế tại Công ty cổ
phần xuất nhập khẩu Tạp Phẩm Hà Nội (TOCONTAP)“.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là đánh giá về tình hình thực tế về
công tác phòng ngừa rủi ro tài chính trong thanh toán quốc tế tại Công ty cổ phần
xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội. Qua đó rút ra những khó khăn, tồn tại cần đối
phó và khắc phục nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này là xem xét tình hình
thực tế về Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội (TOCONTAP).
Về phương pháp nghiên cứu, chuyên đề này coi việc kết hợp lí luận với thực
tiễn làm phương pháp nghiên cứu cơ bản. Ngoài ra, chuyên đề còn sử dụng kết hợp
các phương pháp khác như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê … để phân tích
và trình bày các nội dung nghiên cứu.
Về kết cấu của chuyên đề, ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu
tham khảo, nội dung của chuyên đề này được trình bày thành ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về rủi ro tài chính trong công tác thanh toán
quốc tế
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tài chính trong công
tác thanh toán quốc tế tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tạp phẩm Hà Nội
(TOCONTAP)

liên quan. ( Đinh Xuân Trình, Thanh toán quốc tế trong ngoại thương, NXB Giáo
Dục, Hà Nội, 2002).
2. Vai trò của công tác thanh toán quốc tế trong hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu
Thanh toán quốc tế ra đời như một tất yếu khách quan trong quá trình phát
triển của nền kinh tế thế giới. Thanh toán là khâu cuối cùng của một chu trình sản
xuất và lưu thông hàng hóa. Vì vậy nếu công tác thanh toán được tổ chức tốt thì giá
trị của hàng hóa xuất nhập khẩu mới thực hiện được, góp phần thúc đẩy ngoại
thương phát triển.
Thanh toán quốc tế có vau trò rất quan trọng trong việc phát triển thương
mại quốc tế.Thương mại quốc tế là một công cụ thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế
8

ở trong nước và giữa trong nước và nước ngoài. Khi giữa các nước có mối quan hệ
kinh tế tốt đẹpthì họ thường có tiếng nói chung trên rất nhiều lĩnh vực. Như thế
quan hệ quốc tế giữa các quốc gia này được chặt chẽ hơn và thúc đẩy nhanh sự
hình thành các liên kết kinh tế. Việc phát triển mối quan hệ giao lưu giữa các quốc
gia không chỉ đơn giản là gắn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới để
tranh thủ những lợi thế do thương mại quốc tế đem lại, mà còn dùng thương mại
quốc tế để thúc đẩy quá trình phát triển trong nội bộ nền kinh tế, phát triển nền
kinh tế thị trường thống nhất. Đồng thời, qua theo dõi hoạt động thanh toán quốc tế
nhà nước có cơ sở để điều chỉnh lại các điểm bất hợp lý trong hệ thống pháp luật
hay chính sách liên quan đến thanh toán quốc tế; cũng qua phản ứng trên cán cân
mậu dịch, ở đó tình hình thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu của một nước nhờ
ghi chép lại, nhà nước có thể kiểm soát lại và quản lý được loại hàng hóa xuất nhập
khẩu, tình hình thương mại quốc tế đang xuất siêu hay nhập siêu, hình thành nên
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực… từ đó đề ra chính sách thương mại quốc tế
cho phù hợp.
Xét trong một phạm vi nhỏ, đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu thì thanh toán quốc tế là khâu kết thúc của hợp đồng xuất nhập khẩu, nó khép

trò cầu nối của thương mại quốc tế không thể phát huy nếu như không được mở
rộng và hoàn thiện như hiện nay. Hoạt động thanh toán quốc tế được xem như hoạt
động thanh toán giữa các nước với nhau, các khoản tiền nợ lẫn nhau phát sinh từ
các quan hệ giao dịch về kinh tế, tài chính, văn hóa, chủ thể trong các thanh toán
quốc tế có thể là pháp nhân, thể nhân hoặc chính phủ các nước.
Tuy nhiên, thanh toán quốc tế được người ta biết đến nhiều hơn là các quan
hệ thanh toán phát sinh trong lĩnh vực kinh tế và tài chính và là chức năng ngân
hàng quốc tế của ngân hàng thương mại. Thanh toán quốc tế xét trong phạm vi này
có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, thanh toán quốc tế đòi hỏi tính chuyên môn cao. Các bên tham gia
vào thanh toán quốc tế phải có một sự hiểu biết nhất định về những quy định thống
nhất trong thương mại quốc tế như UCP500, Incoterm 2000 …do phòng thương
mại quốc tế phát hành đều là nhưng quy phạm pháp luật tùy chọn, nhưng khi đã
chọn thì phải nghiêm túc tuân theo.
Thứ hai, thanh toán quốc tế mang tính an toàn cao trong trường hợp vấn đề
con người và công nghệ được đảm bảo. ngày nay, các biện pháp an toàn trong
thanh toán quốc tế ngày càng được chú trọng hơn như mã hóa thông tin truyền đi,
thiết lập mã điện, lọc nhưng thông tin gây nhiễu, đối chiếu số liệu tài khoản qua
mạng máy tính… đã làm cho thanh toán quốc tế trở nên tiện lợi và bảo mật hơn
trước.
10

Thứ ba, thanh toán quốc tế tạo môi trường ứng dụng công nghệ ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng của mỗi nước dù đã hay đang phát triển đều hết sức quan tâm
đến hoạt động thanh toán quốc tế là nhanh chóng, kịp thời cà chính xác. Do đó, các
công nghệ tiên tiến của ngành ngân hàng đều được ứng dụng nhằm thực hiện tốt
hơn các tiêu chí nêu trên.
Thứ tư, thanh toán quốc tế gắn liền với kinh doanh tiền tệ. Trong thanh toán
quốc tê, việc thanh toán cho đối tác nước ngoài luôn được thực hiện bằng đồng
ngoại tệ. Khách hàng nhập khẩu trong nước hầu hết đều không có hoạt có với số

hiểu là chức năng quản trị của các quá trình tài trợ và đầu tư các quỹ của doanh
nghiệp ta có khái niệm rủi ro tài chính như sau: Rủi ro tài chính là rủi ro đối với
quá trình tài trợ và đầu tư các quỹ của doanh nghiệp.
Rủi ro tài chính là nguyên nhân gây ra sự bất định trong quản trị các quá
trình tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp. Thực vậy, trong quá trình ra các quyết
định tài trợ và đầu tư các quỹ của doanh nghiệp, các quỹ đó sẽ được tạo lập và sử
dụng cho các mục tiêu quản trị chiến lược cũng như các mục tiêu quản trị hoạt
động kinh doanh của công ty trong từng giai đoạn. Vấn đề đặt ra ở đây là nhà quản
trị cần phải nhận diện được và có những giải pháp hữu hiệu nhằm đối phó với các
rủi ro tài chính có thể xuất hiện làm ảnh hưởng đến việc theo đuổi các mục tiêu
quản trị chiến lược cũng như các mục tiêu quản trị kinh doanh của công ty.
2. Rủi ro tài chính trong công tác thanh toán quốc tế
Như chúng ta đã biết, trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, người bán
và người mua thường có cơ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Do đó, trong
giao dịch sẽ gặp một số khó khăn trở ngại như không cùng ngôn ngữ, mỗi nước có
luật lệ khác nhau về nhân sự, về chính sách ngoại thương cũng như các luật lệ
khác, ở mỗi nước sử dụng đồng tiền riêng của mình cũng như có chế độ quản lý
ngoại hối riêng. Ngoài ra người mua và người bán ở cách xa nhau về mặt địa lý
nên quá trình giao nhân hàng hóa và thanh toán tiền hàng không thể diễn ra đồng
thời cùng 1 lúc nên dễ dàng có những phát sinh trong công tác thanh toán.
Thanh toán quốc tế thực sự là rất phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay
thế giới tiền tệ luôn biến động trên thị trường tiền tệ quốc tế, yêu cầu đặt ra cho
công tác thanh toán là: đảm bảo an toàn cho công tác xuất nhập khẩu, các khoản
phải thu, phải trả phải được thực hiện một cách an toàn, kịp thời, chính xác. Quan
hệ mua bán và thanh toán giữa các nước rất phức tạp vè thường xuyên xảy ra bất
trắc, rủi rui. Người xuất khẩu lẫn người nhập khẩu rất cần những biện pháp phòng
ngừa rủi ro trong công tác thanh toán quốc tế.Tất cả những điểm khác biệt trên là
những nguyên nhân gây ra những rủi ro trong buôn bán quốc tế nói chung và trong
12


tài trợ xuất khẩu từ các ngân hàng thương mại thay đổi, các tính toán về chi phí,
13

thu nhập và hiệu quả kinh doanh sẽ thay đổi.Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu thường xuyên phải tham dự vào quan hệ tính dụng thương
mại xuất nhập khẩu với đối tác của mình. Cho nên khi có sự biến động của tỷ giá
lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng không tốt dến công tác thanh toán của công ty.
Từ đó ảnh hưởng một cách trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
2.3. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng nợ không có khả năng
chi trả. Đối với các công ty kinh doanh quốc tế, rủi ro tín dụng phát sinh khi công
ty bán chịu hàng hóa và khách hàng mua chịu thất bại trong việc trả nợ. Rủi ro tín
dụng đe dọa hiệu quả công tác thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu khi họ cấp tín dụng thương mại cho các đối tác của mình. Khi các
khoản nợ không được thu một phần hay toàn bộ theo đúng tiến độ của các thỏa
thuận tài trợ thì đương nhiên hiệu quả của công tác thanh toán quốc tế của doanh
nghiệp xuất nhập khẩu sẽ bị đe dọa.
Do đó, rủi ro tín dụng có thể kết hợp với rủi ro hối đoái và rủi ro lãi suất, tạo
thành những nguy cơ lớn hơn đe dọa hiệu quả công tác thanh toán quốc tế của
doanh nghiệp. Chính vì thế, các giải pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái, rủi ro lãi
suất, rủi ro tín dụng cần được thiết kế một cách có hệ thống, thể hiện mối quan hệ
của các loại rủi ro này.
3. Vai trò của việc phòng ngừa rủi ro tài chính trong công tác thanh
toán quốc tế
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế đều chứa đựng khả năng rủi
ro. Chẳng hạn trong một doanh nghiệp khi sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó,
anh ta tin rằng sẽ có thị trường tiêu thụ và sản xuất thi được số tiền lớn hơn số bỏ
ra do tiêu thụ sản phẩm. Số tiền này nhà doanh nghiệp dùng để trang trải chi phí
làm ra sản phẩm, nộp thuế cho nhà nước, phần còn lại rất phũ phàng vì mọi cái đều

doanh quốc tế, việc cần phải có những biện pháp phòng ngừa là rất cần thiết mà
cách làm đầu tiên và hiển nhiên nhất là các doanh nghiệp cần cố gắng dự báo giá
cả trong tương lai chính xác hơn.
15

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI
CHÍNH TRONG CÔNG TÁC THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU TẠP PHẨM
(TOCONTAP)
I - TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU TẠP
PHẨM HÀ NỘI ( TOCONTAP)
1. Những vấn đề chung về công ty
1.1. Giới thiệu sơ lược về công ty
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tạp Phẩm Hà Nội là doanh nghiệp được
thành lập dưới hình thức chuyển từ doanh nghiệp nhà nứoc thành công ty cổ
phần, được tố chức và hoạt đông theo quy định của luật doanh nghiệp có hiệu
lực 1/1/2006.Công ty CP XNK Tạp phẩm được thành lập theo quyết định số
2537/QĐ-BTM ngày 18/10/2005 và số 0206/QĐ-BTM ngày 13/2/2006 của Bộ
trưởng Bộ Thương Mại .
 Tên công ty : Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Tạp Phẩm Hà
Nội.
 Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM NATIONAL SUNDRIES
IMPORT AND EXPORT JOIN STOCK COMPANY
 Tên viết tắt :TOCONTAP
 Website: www.tocontap-hanoi.vnn.vn
 Trụ sở đăng kí :
 Địa chỉ : 36 Bà Triệu- Hoàn Kiếm- Hà Nội
 Điện thoại: 84 4 8253617
 Fax: 84 4 8255917

ty trực thuộc Bộ Thương Mại.
17

+ Năm 1995 để đáp ứng điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trường,
theo đề nghị của vụ trưởng vụ tổ chức và của giám đốc công ty xuất nhập
khẩu tạp phẩm, Bộ Thương Mại ra quyết định thành lập tổng công ty xuất
nhập khẩu Tạp phẩm số 333/TM-TCCB ngày 31/3/1995.
+ Số tài khoản tiền Việt Nam: 001.1.00.0013074 tại ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam.
+ Số tài khoản tiền ngoại tệ : 001.1.37.0076543 tại ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam.
- Năm 2006, bước sang thời kỳ đổi mới, với chính sách khuyến khích mọi
thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuât nhập khẩu, xuất phát từ
nhu cầu và sự phát triển của ngành, Bộ thương mại đã ra quyết định về
phương án cổ phần và quyết định chuyển công ty xuất nhập khẩu Tạp
phẩm Hà Nội thành công ty CP XNK Tạp phẩm Hà Nội.
Cho đến nay, trai qua hơn 50 năm hoạt động và phát triển, công ty đã xác lập
được mối quan hệ mua bán, quan hệ kinh tế quốc tế với trên 70 nước và vùng lãnh
thổ trên thế giới như Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, Pháp,….Công ty CP XNK Tạp
phẩm là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có
điều lệ tổ chức và hoạt động kinh doanh, được mở tài khoản ở ngân hàng trong và
ngoài nước theo quy định của Nhà nước. Công ty được tự chủ kinh doanh, sản
xuất, xuất nhập khẩu tổng hợp, chủ động lien doanh lien kết với các tổ chức kinh tế
trong và ngoài nước.
1.3Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của công ty
• Chức năng chủ yếu của công ty :
Chức năng chủ yếu của TOCONTAP là tiến hành các hoạt động xuất nhập
khẩu, trong đó:
- Tổ chức xuất khẩu trực tiếp các mặt hang không thuộc danh mục hang
cấm như: thủ công mỹ nghệ, hang nông lâm hải sản, may mặc, giầy dép,

được nêu rõ trong bản điều lệ hoạt động của công ty cũng như các văn bản cho
phép của cơ quan quản lý chuyên môn.
Với đặc thu kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp, nên hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu của công ty khá đa dạng và phong phú.
• Nghĩa vụ của công ty:
Đăng kí kinh doanh và kinh doanh các ngành nghề đã đăng ký, chịu trách
nhiệm với các cổ đông về kết quả hoạt động kinh doanh, chịu trách nhiệm trứơc
khách hàng và pháp luật về sản phẩm, dịch vụ do công ty thực hiện .
Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch đầu tư, kế hoạch sản xuất kinh
doanh phù hợp với chức năng nhiệm vụ của công ty và nhu cầu thị trường .
19

Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, kế toán, báo cáo định kỳ theo quy định
của Nhà nước và báo cáo bất thường của Đại hội cổ đông và chịu trách nhiệm về
tính chính xác của báo cáo .
Chịu sự thanh tra kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật.
Thực hiện chế độ và quy định về hạch toán kế toán, thống kê chế độ kiểm
toán và các chế độ tài chính khác do pháp luật quy định, chịu trách nhiệm về tính
xác thực của báo cáo tài chính của công ty.
Kê khai và thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế, các khoản nộp ngân sách Nhà
nước và các nghĩa vụ khách theo quy định của pháp luật.
1.4. Cơ cấu bộ máy tổ chức và điều kiện năng lực kinh doanh cảu
công ty
1.4.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty
20

21
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

CHÍ MINH
CHI
NHÁNH
HẢI
PHÒNG
XNK
8
XNK
7
XNK
6
XNK
4
XNK
3
XNK
2
XNK
1
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG

( Nguồn:
Để đáp ứng yêu cầu chuyên môn hoá sản xuất, để quản lý điều hành
tốt các hoạt động kinh doanh của công ty thì cần phải có sự phân chia, sắp xếp
thành các bộ phận phòng ban, phân xưởng. Công ty đã tổ chức sắp xếp một bộ máy
quản lý gọn nhẹ, hợp lý và hoạt động thực sự có hiệu quả, đảm bảo phát huy năng
lực tối đa của mỗi nhân viên trong công ty.
Công ty TOCONTAP có 5 phòng quản lý và 7 phòng kinh doanh xuất
nhập khẩu. Ngoài ra công ty còn có 2 chi nhánh tại Hải Phòng và Thành phố Hồ

từng phương án kinh doanh cụ thể ,xác định lỗ lãi để trả tiền cho từng đơn
vị.
- Phòng Tổng hợp: Có chức năng tổng hợp các vấn đề đối nội , đối ngoại ,sản
xuất kinh doanh của công ty,lập báo cáo trình bộ chủ quản và các ngành có
liên quan.Thẩm định phương án kinh doanh XNK trước khi trình cứu , đồng
thời hướng dẫn các đơn vị xây dựng kế hoạch kinh doanh và báo cáo tổng
hợp theo tháng ,quí. Đồng thời còn có nhiệm vụ biên dịch ,phiên dịch các tài
liệu phục vụ cho kinh doanh ,tìm hiểu các thông tin về luật pháp ,tập quán
thương mại ,vận chuyển ở các quốc gia ,giúp ban Giám Đốc và các phòng
kinh doanh nắm rõ tình hính và có các chính sách tương ứng.
- Phòng hành chính quản trị:Phònh quản lý có chức năng điều hành toàn bộ
hoạt động chung của công ty ,các hoạt động của công đoàn, đoàn thể.Quản lý
về văn thư ,lưu trữ , điện thoại ,Fax,Telex,văn phòng phẩm , điều hành xe và
phương tiện làm việc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Phòng còn
có nhiệm vụ duy trì thời gian làm việc ,sửa chữa nhà cửa đảm bảo môi trường
của công ty luôn sạch đẹp ,văn minh.
- Phòng tổ chức nhân sự:Có chức năng mưu cho ban Giám Đốc về việc tổ
chức bộ máy tuyển dụng sắp xếp bố trí lao động vào những vị trí phù hợp
,phòng cũng có trách nhiệm đào tạo và bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ của đội
ngũ cán bộ kinh doanh ,giải quyết khiếu nại ,tố tụng đảm bảo quyền lợi của
người lao động.
- Phòng Kinh Doanh XNK: Chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh bao
gồm: lập kế hoạch, tổ chức theo dõi thực hiên kế hoạch phát triển thị trường,
thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị bán hàng và điều tiết sản
xuất của công ty.
Trước đây có 6 phòng nghiệp vụ gồm 3 phòng chuyên xuất khẩu và 3 phòng
chuyên nhập khẩu .Do tình hình thực tế có nhiều thay đổi nên công ty chuyển chức
năng phòng nghiệp vụ thành phòng XNK tổng hợp nhằm tận dụng mọi khả năng
quan hệ giao dịch của các thành viên trên toàn công ty. Hiện nay công ty có 7
phòng XNK tổng hợp ,mỗi một phòng được phân XNK một số ngành hàng khác

thương(trên 50% cán bộ nhân viên tốt nghiệp Đại học Ngoại thương). Ban lãnh đạo
của công ty do Đại hội đồng cổ đông bổ nhiệm là những người có năng lực, có
trình độ chuyên môn. Hiện nay tổng số lao động của công ty là 100 người, thu
nhập bình quân của cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện với những
chế độ hợp lý.
1.5. Môi trường kinh doanh của công ty
24

• Khách hàng:
Với đặc thù hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp các mặt hàng
nên đối tác kinh doanh, các bạn hàng của công ty là đa dạng và chủ yếu là các công
ty nước ngoài. Công ty đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác làm ăn lâu dài với
nhiều công ty ở nhiều quốc gia trên thế giới và gây được uy tín lớn tạo điều kiện
ngày càng có nhiều đối tác tìm đến thiết lập qua hệ buôn bán với công ty.
• Đối thủ cạnh tranh:
Trong xu thế phát triển kinh tế ngày càng có nhiều các doanh nghiệp lớn bé
được thành lập, kinh doanh nhiều mặt hàng, tất cả các công ty kinh doanh trên thị
trường thế giới đều phải qua tâm tới vấn đề cạnh tranh. Có nhiều loại đối thủ cạnh
tranh: đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh gián tiếp, đối thủ canh tranh
về ngành hàng, nhóm hàng, về chủng loại hàng hóa và loại hàng, về kiểu cách hàng
hóa. Do đặc thù kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty là tổng hợp các mặt hàng
nên việc cạnh tranh là không tránh khỏi. Với đội ngũ cán bộ kinh doanh có trình độ
và nghiệp vụ cũng như có kinh nghiệm công ty đã và đang từng bước khẳng định
vị trí của mình trên trường quốc tế và đạt được nhiều thành tựu to lớn đưa công ty
trở thành đơn vị kinh doanh lớn mạnh.
• Đặc điểm thị trường:
Trong cơ chế kế hoạch hóa, Công ty chủ yếu thực hiện các đơn đặt hàng của
các nước, thị trường tập trung chủ yếu ở các nước XHCN như Liên Xô(cũ), CHDC
Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Thụy Điển, Angiêri. Thế nhưng do sự sụp đổ
của Liên Xô cũ và Đông Âu, hoạt động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status