Thực trạng nhập khẩu của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu ô tô Hà Nội và một số kiến nghị - Pdf 64

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ô TÔ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU Ô TÔ
HÀ NỘI

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Như Bình
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Hương
Lớp : KINH TẾ QUỐC TẾ 48B
Mã SV : CQ481280
Hệ : Chính quy
HÀ NỘI - 2010

LỜI MỞ ĐẦU

SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục. danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề
gồm có 3 chương chính sau :
Chương 1 : Tổng quan về Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội.
Chương 2 : Thực trạng nhập khẩu của Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội.
Chương 3 : Kiến nghị một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu của
Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội.
Mặc dù đã có cố gắng nhiều song do hạn chế về trình độ, kinh nghiệm thực tế
và thời gian có hạn nên bài viết không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của các thầy cô.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của thầy
giáo PGS-TS Nguyễn Như Bình, cùng với các anh chị trong Công ty cổ phần XNK
ô tô Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện để em có thể hoàn thành
bản chuyên đề tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn !

SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN:
Họ và tên : Nguyễn Thanh Hương
Lớp : Kinh tế quốc tế 48B
Khóa : 48
Khoa : Thương mại và Kinh tế quốc tế
Mã SV : CQ481280
Tôi xin cam đoan nội dung Chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài : “Thực
trạng hoạt động nhập khẩu ô tô của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu ô tô Hà Nội
và một số kiến nghị” đã viết là do bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các

thể là:
- Trước năm 2005, công ty chỉ là một showroom nhỏ, làm đại lý mua bán và trao
đổi các loại ô tô đã qua sử dụng, và buôn bán các loại phụ tùng xe ô tô. Hoạt động
của công ty trong thời gian này rất nhỏ lẻ và manh mún.
- Năm 2005, trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, công ty chính thức
đăng kí hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần và soạn thảo điều lệ
hoạt động lần 1. Tuy nhiên, công ty vẫn hoạt động ở mức độ nhỏ hẹp, cấp cơ sở và
không được nhiều người biết đến. Lúc này công ty chỉ có một cơ sở chính đặt tại Lô
4, khu 4, tập thể cục cảnh sát kinh tế, phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
- Năm 2006, công ty mở thêm 2 chi nhánh mới : 1 chi nhánh tại 45 Hồ Tùng Mậu
– Cầu Giấy - Hà Nội và 1 chi nhánh tại 27 Tô Hiệu, thành phố Hải Phòng. Từ đây,
công ty là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân độc lập, hạch toán kinh tế độc lập, có
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
con dấu giao dịch riêng mang tên công ty, có tài khoản Việt Nam và ngoại tệ tại Ngân
hàng Nhà nước.
- Năm 2007-2009: Mặc dù gặp nhiều khó khăn và thử thách trong bối cảnh nền
kinh tế có nhiều yếu tố bất ổn định, nhưng có thể nói, đây là thời kì quan trọng và có
nhiều sự kiện nổi bật đánh dấu sự ra đời chính thức của công ty.
Công ty Cổ phần XNK ôtô Hà Nội là đơn vị kinh tế cơ sở, hoạt động theo
nguyên tắc tự quản, có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề về
sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập và lỗ lãi.
Thời gian này do xu hướng phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu, dựa vào
những ưu đãi chính sách đầu tư phát triển của nhà nước, các chính sách pháp luật, các
hợp đồng kinh tế đã kí kết, kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường, thông tin kinh tế
của cấp trên. Công ty được toàn quyền chủ động xác định phương án kinh doanh, lựa
chọn mặt hàng, thiết bị công nghệ, hình thức dịch vụ, cơ cấu tổ chức, thị trường tiêu
thụ phù hợp với yêu cầu chuyên môn hoá cao, hiệp tác hoá và kinh doanh tổng hợp
công ty để đặt hiệu quả cao.

Như đã trình bày ở trên, trước khi trở thành công ty, với chức năng như một
showroom nhỏ chuyên buôn bán và trao đổi xe đã qua sử dụng và các phụ tùng xe. Sau
khi chính thức đăng ký hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần, công ty
đã và đang thực hiện tốt các chức năng kinh doanh theo ngành nghề được phép như sau
:
- Đại lý mua bán thiết bị, phụ tùng ô tô.
- Dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô.
- Buôn bán ô tô du lịch, ô tô vận tải, máy cẩu, máy xúc, máy ủi, máy nâng hạ.
- Nhận đặt hàng các dòng xe nhập khẩu.
- Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh.
Trong đó, công ty đặc biệt chú trọng tới hoạt động chính phù hợp với chức
năng và chuyên môn của mình, đó là : nhập khẩu và buôn bán ô tô.
Nhiệm vụ :
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của công ty theo
quy chế hiện hành.
- Nghiên cứu khả năng cung cấp, nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế ,
thực hiện hoàn thiện các hoạt động nhập khẩu ô tô và phụ tùng để không
ngừng nâng cao chất lượng, thay đổi mẫu mã các loại xe để đáp ứng thị hiếu
người tiêu dùng.
- Tuân thủ các chính sách chế độ luật pháp của Nhà nước và thực hiện
nghiêm chỉnh các hợp đồng mua bán trao đổi,...và các văn bản pháp lý
khác mà công ty đã tham gia ký kết.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tự chủ về tài chính.
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3.Đặc điểm ngành hàng và mặt hàng kinh doanh của công ty.
Chúng ta thấy rằng ô tô ngày càng xâm nhập vào đời sống kinh tế xã hội của
toàn cầu, Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài xu thế này. Hơn 10 năm trở lại
đây, thị trường ô tô đã thực sự sôi động trở lại bởi sự có mặt của các nhà đầu tư nước

SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chặt chẽ giữa các phòng ban tạo ra các hoạt động nhịp nhàng trong doanh nghiệp đưa
công ty ngày một kinh doanh có hiệu quả. Cụ thể, chức năng nhiệm vụ của các phòng
ban như sau:
Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty
- Giám đốc: là người đại diện cho công ty trước pháp luật và trước khách
hàng, tổ chức và điều hành mọi hoạt động của công ty theo nghị quyết và quyết định
của HĐTV, là người được quyền tuyển dụng hoặc cho thôi việc người làm công
không đáp ứng nhu cầu kinh doanh, người vi phạm nội quy và quy chế họat động của
công ty. Ngoài ra, giám đốc còn là chủ tài khoản của công ty, thay mặt công ty ký kết
các hợp đồng kinh tế với khách hàng. Giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐTV về
hiệu quả hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc chấp hành
pháp luật trong công ty.
- Phó giám đốc: Giúp giám đốc quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty, chịu trách nhiệm trước giám đốc về công tác quản lí hoạt động kinh doanh
và hoạt động tài chính của công ty. Công tác thực hiện các mục tiêu kế hoạch sản
xuất kinh doanh của công ty đã đặt ra và đưa ra các biện pháp tối ưu.
- Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ căn cứ vào kế hoạch thực hiện sản
xuất kinh doanh của công ty để lập kế hoạch cấp vốn đủ cho các hoạt động sản xuất.
Theo dõi tình hình tài chính của công ty, quản lý quỹ tiền mặt và thu chi tiền mặt theo
nguyên tắc chế độ. Quản lí chứng từ sổ sách có liên quan đến hoạt động tài chính của
công ty. Theo dõi việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, thanh quyết toán các khoản
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
Giám đốc
Phó giám đốc
hành chính
Phó giám đốc
kinh doanh

giá trị thương hiệu của đơn vị. Và một số nhiệm vụ khác.
Ngoài ra, còn có một số bộ phận khác như bảo vệ, vệ sinh… cũng góp phấn
quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động diễn ra thuận lợi, thúc đẩy quá trình
phát triển của công ty.
1.5. Đặc điểm thị trường và khách hàng.
1.5.1.Đặc điểm thị trường :
Thị trường Miền Bắc là thị trường chủ yếu của công ty. Doanh thu tại khu vực này
liên tục tăng và ổn định qua các năm. Ở khu vực này, công ty xây dựng cho mình thị
trường trọng điểm là Hà Nội và Hải Phòng. Đây là hai khu vực phát triển nhất Miền
Bắc về kinh tế, dân cư có mức thu nhập. Khai thác được lợi thế vị trí địa lý Cảng Hải
Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, là cửa ngõ quốc tế của Việt
Nam, điều này không chỉ tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu của công ty cũng
như việc giao nhận và vận chuyển được nhanh chóng, an toàn, giảm chi phí ( việc
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhập khẩu hàng hóa của công ty chủ yếu thông qua cảng Hải Phòng ). Tại khu vực này
công ty đã tồn tại và phát triển nhờ vào những lợi thế của riêng mình. Tuy nhiên, hiện
nay với xu thế phát triển nhanh chóng thì ngày càng nhiều cơ sở mọc lên ở khu vực này
với quy mô khác nhau và sự đa dạng trong chủng loại mặt hàng : công ty TNHH, công ty
cổ phần,…Điều này nguy cơ làm mất dần thị trường của công ty.
Thị trường thứ hai của công ty là các tỉnh Miền Trung trong đó tập trung chủ yếu là
ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Mặc dù tại khu vực này đã có nhiều công ty và chi nhánh cung
cấp mặt hàng ô tô nhập khẩu, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng, vẫn có một lượng khách hàng có nhu cầu mua hàng tại Hà Nội. Bởi đây là mặt
hàng có giá trị cao, khách hàng luôn có nhu cầu tìm hiểu thông tin về mặt hàng tại thị
trường lớn, đa dạng về chủng loại sản phẩm, mẫu mã và giá cả. Công ty chưa có chi
nhánh tại khu vực này, doanh thu trên thị trường này chưa đáng kể. Hiện nay, công ty
đang có kế hoạch đầu tư vào thị trường này.
Thị trường Miền Nam là thị trường có tiềm năng lớn nhưng do có khoảng cách địa

của công ty.
1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của công ty
1.6.1. Nhân tố bên trong công ty :
1.6.1.1. Nhân tố Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính
Hoạt động nhập khẩu đòi hỏi cần phải có một bộ máy lãnh đạo hoàn chỉnh, có
tổ chức phân cấp quản lý, phân công lao động trong công ty sao cho phù hợp với đặc
trưng của công ty kinh doanh nhập khẩu. Nếu bộ máy quản lý cồng kềnh không cần
thiết sẽ làm cho việc kinh doanh của công ty không có hiệu quả và ngược lại.
1.6.1.2. Nhân tố con người :
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu
nói riêng, tất cả các công đoạn từ khâu nghiên cứu tìm hiểu thị trường đến khâu ký kết
và thực hiện hợp đồng đòi hỏi cán bộ nhập khẩu phải nắm vững các chuyên môn nghiệp
vụ, năng động, đặc biệt khi kinh doanh với các đối tác nước ngoài.
Nhân tố con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty, sự tồn tại và thành công của công ty.
1.6.1.3.Nhân tố vốn và công nghệ :
Vốn và công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của công
ty nói chung cũng như hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng. Vốn và công nghệ
quyết định đến lĩnh vực kinh doanh cũng như quy mô kinh doanh của công ty, vốn và
công nghệ giúp cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty được thực hiện có
hiệu quả cao. Vốn và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu công ty có
nguồn lực tài chính lớn ( nhiều vốn ), đặc biệt là vốn lưu động thì sẽ mua được (có
được ) nhiều công nghệ hiện đại nâng cao năng suất và hiệu quả trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty và ngược lại.
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.6.2. Nhân tố bên ngoài công ty :
1.6.2.1. Nhân tố chính trị, luật pháp
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập

tiền thanh toán. Tỷ giá hối đoái không cố định, có sự biến động lên xuống. Chính vì
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vậy công ty cần phải có sự nghiên cứu và dự đoán xu hướng biến động của tỷ giá hối
đoái để đưa ra các quyết định phù hợp cho việc nhập khẩu như lựa chọn bạn hàng,
lựa chọn đồng tiền tính toán, lựa chọn đồng tiền thanh toán,…
1.6.2.4.Yếu tố thị trường trong nước và ngoài nước :
Tình hình và sự biến động của thị trường trong và ngoài nước như : sự thay
đổi của giá cả, khả năng cung cấp hàng hóa, khả năng tiêu thụ và xu hướng biến động
của dung lượng thị trường… Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng tới hoạt động
nhập khẩu của công ty.
Sự thay đổi lên xuống của giá cả sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ
hàng nhập khẩu. Sự biến động của nguồn cung và dung lượng thị trường có ảnh
hưởng đến sự biến động của giá cả hàng nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng tới khả năng
tiêu thụ và hoạt động nhập khẩu của công ty.
1.6.2.5.Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa quốc tế
Các yếu tố cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động mua bán trao đổi
hàng hóa quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến nhập khẩu như :
- Hệ thống giao thông vận tải, cảng biển : nếu hệ thống này được trang bị hiện đại
sẽ cho phép giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn
cho hàng hóa được mua bán nhanh chóng, nâng cao tính kịp thời, nhanh gọn trong
quá trình nhập khẩu, tăng vòng quay của vốn.
- Hệ thống Ngân hàng : Hệ thống Ngân hàng càng phát triển thì các dịch vụ của nó càng
thuận tiện cho việc thanh toán quốc tế cũng như trong huy động vốn. Ngân hàng là một nhân
tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bằng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
- Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng : Cho phép các hoạt động mua bán hàng
quốc tế được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt được rủi ro cũng như mức
độ thiệt hại có thể xảy ra cho các nhà kinh doanh trong buôn bán thương mại quốc tế.
1.6.2.6. Các quan hệ kinh tế quốc tế

qua các năm
2005 18300 284900
2006 12200 - 33,3 208000 - 27
2007 28000 129,5 523000 151,4
2008 50400 80 1034000 97,7
2009 76300 51,4 1171000 13,2
( Nguồn : Tổng Cục Thống Kê Việt Nam các năm )
Năm 2005, số lượng xe ô tô nguyên chiếc được nhập khẩu vào Việt Nam là 18300
chiếc, với giá trị là 284900 nghìn USD. Nhưng đến năm 2006, kim ngạch ô tô nguyên
chiếc của Việt Nam đã giảm cả về số lượng và giá trị nhập khẩu. Cụ thể : số lượng ô
tô nguyên chiếc nhập khẩu là 12200 chiếc, giảm 33,3% so với năm 2005, giá trị nhập
khẩu năm 2006 là 208000 nghìn USD, giảm 27%. Điều này có thể lý giải được bởi
năm 2006 là một năm đầy biến động với thị trường ô tô Việt Nam.
Thứ nhất: Giữa tháng 2, Nghị định 12 cho phép nhập khẩu ô tô cũ khiến không ít
người bắt đầu hy vọng về cơ hội sở hữu chiếc xe giá 5000 – 10000 USD. Hiệu quả
ngay lập tức là thị trường gần như đóng băng, phản ứng phổ biến của khách hàng là
ngừng mua xe, chờ ngày nghị định có hiệu lực.
Thứ hai : Sự xuất hiện của hàng loạt các tập đoàn ô tô lớn của Trung Quốc như
Lifan, Thượng Hải Auto tấn công vào thị trường Việt Nam.
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thuế nhập khẩu liên tục giảm, một lớp người giàu có phất lên từ cổ phiếu khiến
nhu cầu ô tô tăng mạnh là một trong những lý do đẩy lượng xe nhập khẩu vả năm
nhập khẩu năm 2007 tăng kỷ lục, số lượng xe nhập khẩu lên tới 28000 chiếc, gấp gần
2,3 lần so với năm 2006; về giá trị nhập khẩu tăng 151,1% lên tới con số 523000
nghìn USD. Theo các nhà phân tích, nguyên nhân dẫn đến sự tăng mạnh mẽ này là :
đối với các loại xe nhập khẩu nguyên chiếc, 2007 là năm Việt Nam bắt đầu thực hiện
một số cam kết thương mại quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là việc mở cửa thị
trường cho các loại xe nhập khẩu và đặc biệt các quyết định giảm thuế nhập khẩu.

mạnh vào tháng 12. Dù kim ngạch nhập khẩu ô tô chỉ chiếm 1,171 tỷ USD trong tổng
số kim ngạch nhập khẩu 68,7 tỷ USD trong năm 2009 nhưng với mục tiêu ổn định
kinh tế vĩ mô là số một, việc hạn chế nhập siêu sẽ ưu tiên hàng đầu và ô tô sẽ luôn là
“tầm ngắm” với nhiều biện pháp hạn chế nhập khẩu.
Chúng ta có thể thấy rằng, tốc độ tăng giá trị kim ngạch nhập khẩu luôn cao hơn tốc
độ tăng về số lượng xe, thể hiện ở đường biểu diễn giá trị kim ngạch có độ dốc lớn
hơn ( biểu đồ 1 ). Điều này phù hợp với sự phát triển chung của thị trường ô tô thế
giới và có thể lý giải được nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà
các hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ thì giá của hàng hóa ngày càng giảm, khuyến
khích nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu tăng lên không chỉ về số lượng mà cả về
chất lượng. Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được
nâng cao, mức thu nhập tăng lên, nhu cầu về những chiếc xe có giá trị cao tăng lên
một cách nhanh chóng. Để đáp ứng được nhu cầu này thì các hãng sản xuất ô tô trên
thế giới cũng như trong nước đã và đang không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm, tung ra hàng loạt mẫu xe có giá rất cao trên thị trường.
Biểu đồ 1 : Kim ngạch NK ô tô nguyên chiếc của Việt Nam
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
90000
2005 2006 2007 2008 2009
0
200000
400000

Xe nguyên chiếc (CBU, du
lịch 5 chỗ)
100%
CIF
10% (hay 20%
CIF)
100%(hay
220% CIF)
340%
Linh kiện lắp ráp dạng
CKD2, xe du lịch
20%
CIF
10% (hay
12% CIF)
5% ( hay 6,6%
CIF)
38,6%
CIF
( Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 1999)
Bảng 3 : Biểu thuế và tỷ lệ bảo hộ ở Việt Nam theo mức độ hoàn chỉnh của xe
năm 2007
Mức độ hoàn chỉnh
( từ cao xuống thấp )
Thuế NK VAT
Thuế tiêu thụ
đặc biệt
Tỷ lệ
bảo hộ
Xe nguyên chiếc (CBU,

lại việc được bảo hộ nên chậm chạp trong việc nội địa hóa và nâng cao tính cạnh
tranh. Thuế suất thuế nhập khẩu cao kích giá xe nhập khẩu lên cao nên các công ty
kinh doanh hạn chế nhập khẩu. Chính những điều này khiến cho quy mô thị trường ô
tô rất nhỏ.
Năm 2006, chính sách ưu đãi thuế quan theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản
phẩm, phụ tùng ngành cơ khí – điện – điện tử ( được áp dụng từ năm 1999 ) chính
thức bị bãi bỏ. Biểu thuế nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô sẽ được xây dựng theo 5
mức thuế suất là 30%, 20%, 10%, 5% và 0%; chênh lệch giữa mức thuế suất của cụm
chi tiết và chi tiết rời phần lớn là 5% hoặc 10% tùy theo chủng loại. Cũng trong năm
này, ô tô đã qua sử dụng được loại ra khỏi danh sách mặt hàng cấm nhập khẩu. Cho
phép nhập khẩu tô tô cũa là một yêu cầu bắt buộc khi chúng ta tham gia hội nhập và
thực hiện cam kết gia nhập WTO. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp nhập khẩu ô tô
để họ tham gia nhập xe cũ, bởi xe cũ được phép nhập trong thời gian sử dụng chưa
quá 5 năm nên chất lượng còn tốt, trong khi giá rẻ và nhu cầu trong nước thì rất lớn.
Việc nhập khẩu ô tô cũ là tất yếu nhưng không vì thế mà để các loại ô tô cũ ồ ạt tràn
vào Việt Nam.
2007 là năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thuế quan nhập khẩu chịu tác
động trực tiếp nhất, đi tiên phong trong hội nhập. Ô tô, linh kiện ô tô cũng là một
trong những mặt hàng được điều chỉnh thuế. Thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc
( CBU, 5 chỗ ) giảm từ mức 100% năm 1999 xuống còn 80% năm 2009, cũng trong
năm 2009 thuế tiêu thụ đặc biệt mặt hàng này cũng giảm, mức thuế suất vào khoảng
45 -60%. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 trở lại đây, mặc dù thuế nhập khẩu ô
tô và thuế tiêu thụ đặc biệt giảm xuống kéo theo tỷ lệ bảo hộ giảm, nhưng ô tô trong
nước vẫn được bảo hộ ở tỷ lệ cao ( hơn 200% ). Việc đưa tỷ lệ nội địa hóa mà làm
mục tiêu phát triển của công nghiệp ô tô còn rất nhiều bất cập vì thị trường Việt Nam
chưa thích hợp để phát triển các ngành công nghiệp có kỹ thuật cao như công nghiệp
ô tô, tâm lý ưa chuộng hàng ngoại ăn sâu vào tâm lý người tiêu dùng do đó một chiếc
xe có linh kiện ngoại 100% sẽ hấp dẫn người tiêu dùng Việt Nam nếu cùng một mức
giá. Ngoài ra, nhà sản xuất thì không phân biệt đâu là công nghiệp phụ trợ mà chỉ căn
cứ vào thị trường để sản xuất. Như vậy, vô hình trung chúng ta đã giúp sức cho các

tùng ô tô, đây là những sản phẩm của những hãng nổi tiếng trên thế giới sản xuất như
Toyota, Ford, Daewoo,…vì vậy, nghiên cứu thị trường là một hoạt động quan trọng mà
từ đó ta có thể biết được giá, chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, qua đó có
chiến lược kinh doanh phù hợp. Vì vậy, công ty đã và đang đẩy mạnh công tác nghiên
cứu thị trường cũng như các nghiệp vụ kinh doanh khác để tạo được vị trí trên thị
trường, tăng năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế của công ty.
Công tác nghiên cứu thị trường nhập khẩu được tiến hành bởi nhân viên của
phòng kinh doanh. Công ty chia thị trường thành hai nhóm chính : thị trường truyền
thống và thị trường tiềm năng. Mục tiêu của nghiên cứu thị trường truyền thống là
củng cố, phát triển mối quan hệ với bạn hàng đã có và bạn hàng tiềm năng trong thị
trường đó. Mục tiêu của nghiên cứu thị trường tiềm năng là mở rộng đa dạng hóa
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạt động nhập khẩu. Nhân viên phòng kinh doanh tìm hiểu các thông tin về sản
phẩm trên các website các hãng, nghiên cứu biến động giá cả sản phẩm của các hãng,
lấy đó làm cơ sở cho các quyết định nhập khẩu mặt hàng nào, nhập với mức giá là
bao nhiêu và nhập từ thị trường nào… Ngoài ra, các nhân viên kinh doanh cũng chủ
động nghiên cứu, áp dụng các văn bản pháp quy khác của Nhà nước liên quan đến
lĩnh vực hàng hóa xuất nhập khẩu để đảm bảo hoạt động nhập khẩu của công ty luôn
tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
2.2.2.Công tác nhà cung cấp.
Từ khi thành lập, thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm nhằm hướng tới
mọi đối tượng khách hàng. Ngoài các thị trường từ những bạn hàng nhập khẩu truyền
thống như: Nhật Bản, Hàn Quốc,...công ty còn mở rộng ra các thị trường mới để tìm
đến những nguồn cung cấp mới như: Anh, Mỹ, Đức,...Việc giao dịch với các thị
trường này không những giúp công ty tăng doanh số, kim ngạch xuất nhập khẩu, mà
còn giúp công ty nhập khẩu được những mặt hàng kỹ thuật cao.
Công tác nhà cung cấp đóng một vai trò hết sức quan trọng, việc kinh doanh có
được thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào mức độ cam kết của nhà

môn cao. Hơn nữa các hãng còn hỗ trợ nhà phân phối trong việc triển khai các
chương trình marketing, các chương trình xúc tiến bán hàng. Các nhà cung cấp vẫn
áp dụng thanh toán bằng L/C hơn cả do hình thức này nhanh gọn và đảm bảo an toàn.
Như vậy mối quan hệ giữa các hãng và Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội rất bền
chặt, đôi bên cùng hợp tác giúp đỡ nhau để cùng phát triển.
Hiện nay công ty không ngừng khai thác, tìm nguồn hàng, có chất lượng tốt giá
cả phù hợp ở thị trường nước ngoài để đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển
của thị trường nội địa.
2.2.3.Ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Giao dịch và đàm phán về hoạt động nhập khẩu thường được công ty tiến hành
qua hình thức thư tín, Fax, điện thoại hoặc gặp gỡ trực tiếp đối với các thương vụ
lớn, phức tạp.
Công ty chủ yếu ký kết hợp đồng nhập khẩu bằng hình thức văn bản, mà nội dung
gồm các điều khoản chủ yếu : tên hàng ( Commodity ), số lượng (Quatity), chất
lượng ( Quanlity ), giao hàng ( Shipment, Delivery ), giá cả ( Price ), thanh toán
(Payment, Settlement ), bao bì, ký mã hiệu ( Packing and Marking ), bảo hành
(Warranty ), phạt và bồi thường thiệt hại ( Penalty ), bảo hiểm (Insurance), bất khả
kháng ( Forse Majeuce), khuyến mại ( Clain ), trọng tài ( Arbitratian )...
Loại hợp đồng này thường ký kết giữa bên mua và bên bán. Trên thực tế, nhiều hợp
đồng còn có cả bên vận chuyển tham gia ký kết.
Việc ký kết hợp đồng nhập khẩu thường do ban giám đốc ký kết, trường hợp giám
đốc ủy quyền cho người khác ký kết thì phải có văn bản ( giấy ủy quyền ).
Đối với các mối giao dịch thân thiết hoạt động đàm phán ký kết hợp đồng được
giao dịch bằng thư tín. Phòng kinh doanh gửi cho các hãng đơn đặt hàng. Sau đó các
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hãng kiểm tra lại lượng hàng hóa trong kho và thông báo lại cho công ty. Hai bên trao
đổi thông tin qua email và fax, khi đôi bên thỏa thuận được các điều khoản về mặt
hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, thanh toán,…hai bên mua và

thường ở mức tối thiểu. Nhập khẩu theo điều kiện FOB thì quyền mua bảo hiểm
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuộc về bên nhập khẩu. Công ty thường mua bảo hiểm hàng hóa điều kiện A, mua
bảo hiểm cho từng chuyến hàng. Để đề phòng bất trắc có thể xảy ra, công ty khi mua
bảo hiểm luôn nộp phí và lệ phí bảo hiểm đầy đủ và thường mua bảo hiểm một cách
sớm nhất. Trên thực tế hàng nhập khẩu của công ty chưa gặp rủi ro, đạt được điều
này là do công tác bảo hiểm có hiệu quả.
- Làm thủ tục hải quan nhập khẩu : Công ty tiến hành làm thủ tục hải quan ở cảng
Hải Phòng và cảng TP.HCM. Công ty phải xuất trình bộ chứng từ hải quan bao gồm :
giấy phép nhập khẩu, tờ khai, hợp đồng, hóa đơn thương mại,… cho chi cục hải quan
cửa khẩu cảng Hải Phòng và cảng TP.HCM. Cơ quan hải quan sẽ tiến hành kiểm tra
hàng hóa. Các quyết định của hải quan đưa ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đến trình tự thời
gian nhận hàng.
- Nhận hàng từ người vận tải : Sau khi làm thủ tục thông quan hàng hóa, công tu có
đủ bộ chứng từ chứng minh được mình là chủ sở hữu của lô hàng hóa, khi đó có thể
nhận hàng nhập khẩu.
- Kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu: Sau khi nhận hàng sẽ tiến hành kiểm tra
hàng nhập khẩu, công ty có đại diện là cơ quan giám định để giám định mọi tổn thất
hư hỏng của hàng hóa khi hàng hóa đến cảng. Chứng chỉ giám định sẽ được lưu lại
và là bằng chứng để khiếu nại người bán bảo hiểm hoặc đại diện sẽ được công ty
thông báo để tham dự việc giám định.
- Thanh toán tiền hàng nhập khẩu : Phòng kinh doanh kết hợp với phòng kế toán
tiến hành làm các thủ tục thanh toán tiền hàng cho bạn hàng, tùy thuộc hình thức
thanh toán mà công ty thực hiện theo đúng quy trình thanh toán.
- Khiếu nại trọng tài : Khi các bên không thực hiện đúng các điều khoản ghi trong
hợp đồng, công ty tiến hành khiếu nại lên trọng tài. Tuy vậy, các bên tham gia hợp
đồng có thể thỏa thuận trước để giải quyết vi phạm hợp đồng. Nếu không giải quyết
được thì mới khiếu nại lên trọng tài kinh tế. Đa số hàng nhập khẩu về của công ty đều

- Bảo hành bảo dưỡng là một hoạt động hết sức quan trọng đối với tất cả các công ty
kinh doanh ô tô và Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội cũng không là ngoại lệ. Vì ô tô
là sản phẩm có giá trị thông số kỹ thuật cao, được cấu thành bởi nhiều chi tiết khác
nhau, tuổi thọ của chúng cũng khác nhau nên chế độ bảo hành bảo dưỡng sau bán
hàng không chỉ có ý nghĩa tạo lòng tin, giữ khách hàng mà còn giúp công ty tăng khả
năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Những hoạt động trên của công ty đã mang lại hiệu quả trong công tác bán hàng,
mở rộng và phát triển thị trường, và giúp cạnh tranh được với các đối thủ khác.
2.2.6. Đối thủ cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ ngành nghề
hay lĩnh vực nào đều phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Do đó Công ty cổ phần
XNK ô tô Hà Nội cũng không thoát khỏi việc phải đối mặt với các đối thủ cạnh
tranh, nhất là khi mặt hàng kinh doanh của công ty là mặt hàng ô tô. Công ty từ khi
mới gia nhập thị trường ôtô, không những chịu sự cạnh tranh gay gắt của các liên
SV: Nguyễn Thanh Hương Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
25

Trích đoạn Đối thủ cạnh tranh. Thực trạng nhập khẩu của Công ty cổ phần XNK ôtô Hà Nội 1 Kim ngạch nhập khẩu của Công ty. Phương hướng của Công ty. Triển vọng và xu hướng nhập khẩu ôtô trong thời gian tới. Một số kiến nghị.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status