Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, sự giao lưu kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới theo xu hướng khu
vực hoá, toàn cầu hoá đang đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển
nền kinh tế thế giới. Các nước không chỉ bó hẹp hoạt động kinh tế của mình trong phạm
vi quốc gia mà còn tham gia vào các hoạt động kinh tế toàn cầu hoặc khu vực để tận dụng
mọi lợi thế so sánh. Hoà chung xu thế quốc tế hoá đó, Việt Nam đã thực hiện nhiều
chính sách kinh tế đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực cũng như
trên thế giới trong nhiều năm qua. Một trong những nỗ lực lớn nhất của Việt Nam để hội
nhập kinh tế thế giới là sự kiện ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) - một công cụ thương mại đa biên
quan trọng nhất để điều chỉnh nền thương mại quốc tế. Những bước phát triển mới này
thúc đẩy các quan hệ thương mại quốc tế đã và đang phát triển mạnh mẽ giữa các thương
nhân Việt Nam và các chủ thể thương nhân quốc tế. .
Thương mại quốc tế có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Nó thu
hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư vào Việt Nam, tạo cơ hội hợp tác kinh doanh đối với
các doanh nghiệp trong nước, tạo việc làm với thu nhập cao cho người lao động, và thúc
đẩy một loạt các ngành dịch vụ trong nước phát triển.
Trong hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam những năm qua, các hoạt động
mua bán hàng hoá quốc tế đã có những bước tiến vượt bậc, góp phần tích cực vào sự tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Điều này khiến Nhà nước ta luôn quan tâm sâu
sắc đến việc thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế. Môi trường pháp
lý thuận lợi, thông thoáng được coi là biện pháp tối ưu để tăng cường hiệu quả trong hoạt
động thương mại quốc tế. Trong hoạt động này, mua bán hàng hoá quốc tế đóng vai trò
phổ biến và rất quan trọng. Cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền lợi và ràng buộc trách nhiệm
của các bên tham gia của việc mua bán hàng hoá này chính là hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế.
Trong thời gian thực tập tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Vật tư khoa học kỹ thuật
Đông Dương - Indochina, vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế của Công ty đã thu hút sự quan tâm của tôi. Qua nghiên cứu thực tiễn ký kết và thực
vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận (Điều 3
khoản 8- Luật Thương mại 2005) Mua bán hàng hoá quốc tế là hoạt động mua bán hàng
hoá được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, tạm xuất, tái nhập
và chuyển khẩu. Việc MBHHQT phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản,
hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (Điều 27- Luật Thương mại
2005)
Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hoá chính là hợp đồng. Hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế (MBHHQT) trước hết là một hợp đồng mang đầy đủ đặc trưng của một
hợp đồng mua bán hàng hoá, nhưng có thêm yếu tố quốc tế. Tính quốc tế của hợp đồng
MBHHQT có thể được xác định bằng nhiều cách, được công nhận cả trên phạm vi luật
pháp quốc tế và phạm vi luật pháp quốc gia. Việc xác định yếu tố quốc tế này căn cứ vào
nơi kinh doanh hoặc nơi thường trú của các đối tác, hay những tiêu chuẩn tổng quát hơn
như việc đánh giá hợp đồng “có quan hệ quan trọng tới nhiều quốc gia”, “liên quan đến
sự lựa chọn giữa luật của các nước khác nhau”, hoặc “có ảnh hưởng đến các quyền lợi
trong buôn bán quốc tế”
(1)
. Theo giả định của nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế
( PICC- Principles of International Commercial Contracts) thì quan điểm về các hợp đồng
“quốc tế” nên được giải thích theo nghĩa rộng nhất, để loại trừ những trường hợp không
liên quan đến yếu tố quốc tế, ví dụ khi tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên
quan đến một quốc gia cụ thể.
Điều 1 Công ước La Haye 1964 về mua bán hàng hoá quốc tế những tài sản hữu
hình, hợp đồng MBHHQT được định nghĩa: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp
đồng, trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hoá được
1
“
Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế” Người dịch: Lê Nết-NXB TP HCM 1999.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
giảng viên cao cấp, già giáo ưu tú Đại học Ngoại Thương Hà Nội thì “hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế, còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại
thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau,
theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu
2
Dương Anh Sơn: “Tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương”. Tạp chí KHPL Số 6/2004, phiên
bản html: Ngày truy cập 6/3/2008.
3
Phan Thị Thanh Hồng: “Hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế”. NXB Lao Động 2005.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá;
bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng”
(4)
….
Như vậy, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý
chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó,
thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với
nhau.
Yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng quốc tế được biểu hiện:
- Các bên tham gia giao kết hợp đồng MBHHQT là các thương nhân có quốc tịch
khác nhau (nếu chỉ xác định tính quốc tế bằng cách này thì gặp nhiều khó khăn và đôi khi
không xác định được do pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch của
pháp nhân không giống nhau) và có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau (đây là cách
xác định theo Công ước Viên 1980 được áp dụng rất phổ biến);
- Hàng hóa - đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới quốc gia
hoặc giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác
nhau;
- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển
giao quyền sở hữu của hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau;
- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà
là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết. Phương thức thanh toán thông qua hệ thống
ngân hàng.
- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đa dạng và phức tạp. Không chỉ còn luật quốc
gia mà còn bao gồm các điều ước quốc tế về thương mại, luật nước ngoài và các tập quán
thương mại quốc tế.
- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án, hay trọng tài
thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là
cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể.
2. Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng MBHHQT có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau
như các điều ước về MBHHQT, các tập quán quốc tế về thương mại, pháp luật của các
quốc gia… Việc nguồn luật nào điều chỉnh còn tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.
2.1. Điều ước quốc tế
Theo Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế: “Điều ước quốc tế là tất cả
các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh”. Vậy có thể
nói, điều ước quốc tế về thương mại là sự thoả thuận bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều
quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nhằm ấn định,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ thương mại quốc
tế.
5
Phan Thị Thanh Hồng: “Mộ số vấn đề cần lưu ý nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế”. . Ngày truy cập 6/3/2008.
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
Trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế có một số điều ước quốc tế tiêu biểu:
- Điều kiện chung về giao hàng giữa các tổ chức kinh tế của các nước thành viên
Hội đồng tương trợ kinh tế (ĐKCGHSEV 1968/1988) điều chỉnh quyền lợi và nghĩa vụ
Trang 23.
7
Trần Văn Nam - Trần Thị Hoà Bình (đồng Chủ biên): “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”. Đại học kinh tế
quốc dân. 2005. Trang 100.
8
Bùi Xuân Nhự (Chủ biên): “Giáo trình Tư pháp quốc tế”. ĐH Luật HN. NXB Công an nhân dân.1997. Tr 38-41
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
- Các bên ký hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng.
Việc thoả thuận áp dụng luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng phải được ghi trong
hợp đồng MBHHQT.
- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT được quy định trong
các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc gia đương nhiên trở thành luật
áp dụng cho các hợp đồng đó. Thông thường, luật quốc gia áp dụng sẽ là luật của nước
bên bán, nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật
nơi ký kết hợp đồng, luật của nước mà các bên mang quốc tịch,…
2.3. Án lệ
Án lệ hay tiền lệ pháp về thương mại cũng được các thương nhân tham gia ký kết
hợp đồng thương mại quốc tế coi trọng và lựa chọn, đặc biệt là ở các quốc gia theo hệ
thống thông luật (Common law). Trong thương mại quốc tế, việc công nhận và sử dụng
các phán quyết của toà án cũng như thừa nhận vai trò tích cực của án lệ đang ngày một
gia tăng tại các nước có hệ thống pháp luật khác nhau. Cơ quan xét xử có thể vận dụng án
lệ tương tự để giảm nhẹ những khó khăn phức tạp trong việc tra cứu, mà các tranh chấp
trong hoạt động thương mại quốc tế thường tập trung vào một số vấn đề và có nhiều
trường hợp tương đồng.
2.4. Tập quán thương mại quốc tế
Các tập quán thương mại quốc tế hình thành từ rất lâu đời. Các tập quán này sẽ trở
thành nguồn luật đìều chỉnh các hợp đồng MBHHQT nếu các chủ thể tham gia ký kết hợp
đồng chấp nhận các tập quán thương mại quốc tế sẽ là nguồn luật điều chỉnh.
khoản nào đó của Công ước trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng
(9)
.
2. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
2.2. Giao kết hợp đồng MBHHQT
2.2.1. Chào hàng (Offer order)
Chào hàng là “đề nghị về việc giao kết hợp đồng được gửi đích danh cho một hoặc
một vài người” (Điều 14). Có hai loại: chào hàng cố định –Firmed (người đề nghị bày tỏ
ý chí rằng buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận); chào hàng tự do –Free (đề
nghị được gửi cho một hoặc nhiều người không xác định). Hiệu lực chào hàng chỉ phát
sinh khi chào hàng tới nơi người được chào hàng (Điều 15 khoản 1). Chào hàng cũng có
thể bị huỷ nếu thông báo của người chào hàng về việc huỷ chào hàng gửi đến tới nơi
người được chào trước hoặc cùng lúc với chào hàng (Điều 15 khoản 2). Một chào hàng sẽ
mất hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều
17).
9
Trần Văn Nam - Trần Thị Hoà Bình (đồng Chủ biên): “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”. Đại học kinh tế
quốc dân. 2005. Trang 104 – 205
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
2.2.2. Chấp nhận chào hàng (Accept order)
Chấp nhận chào hàng là “một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được
chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng” (Điều 14.khoản 1). Sự im lặng hoặc không
hành động của người nhận được chào hàng không được coi là chấp nhận chào hàng. Một
chấp nhận chào hàng có hiệu lực pháp lý từ khi người chào hàng nhận được chấp thuận
chào hàng, và được gửi tới trong thời hạn mà người chào hàng đã quy định trong chào
hàng. (Điều 18 khoản 2).
Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm sự chấp nhận chào hàng có hiệu
lực (Điều 23), và từ thời điểm này các bên có những quyền và nghĩa vụ được quy định
bán vi phạm nghĩa vụ của họ. Một số biện pháp được quy định trong Công ước là:
- Yêu cầu bên bán phải thực hiện nghĩa vụ của họ theo thoả thuận trong hợp đồng.
Ở đây có thể là yêu cầu bên bán cung cấp hàng hoá đúng thoả thuận trong trường hợp
hàng hoá chưa phù hợp; hoặc yêu cầu tiếp tục bổ sung hàng hoá nếu không đảm bảo đủ
số lượng; hoặc sửa chữa…
- Bên mua có thể cho phép bên bán thêm một thời hạn nhất định để thực hiện hợp
đồng nếu bên bán không đảm bảo được đúng thời hạn giao hàng (Điều 47).
- Bên mua cũng có quyền tuyên bố huỷ hợp đồng trong các trường hợp bên bán
không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tạo thành một vi phạm cơ bản hợp đồng hay khi
bên bán không giao hàng trong thời hạn bên mua gia hạn thêm hoặc bên bán tuyên bố sẽ
không giao hàng trong thời bạn bổ sung đó (Điều 49).
3.2.2. Nghĩa vụ của bên mua
Điều 53 Công ước Viên quy định: người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và
nhận hàng theo quy định của hợp đồng.
- Về thanh toán tiền hàng: bên mua phải trả tiền vào ngày thanh toán đã quy định
hoặc có thể được xác định theo hợp đồng và theo Công ước, mà không cần phải có một
lời yêu cầu hay việc thực hiện một tục nào khác về phía người bán (Điều 59). Nghĩa vụ
thanh toán tiền hàng bao gồm việc áp dụng các biện pháp và tuân thủ các biện pháp mà
hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán.
- Về việc nhận hàng: Bên mua có các nghĩa vụ theo quy định của Công ước Viên
tại Điều 60. Theo đó, bên mua phải thực hiện mọi hành vi tạo điều kiện cho bên bán giao
hàng và tiếp nhận hàng hoá.
4. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi
phạm hợp đồng phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã cam kết. Theo Công
ước Viên, có các hình thức trách nhiệm pháp lý sau:
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
4.1. Tiếp tục thực hiện hợp đồng
chủ yếu đối với hợp đồng như: Giao hàng không đúng chủng loại đã quy định trong hợp
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
đồng; Hàng kém phẩm chất, hàng giao thiếu bộ phận nào đó mà việc giao thiếu này dẫn
đến việc không thể khai thác, sử dụng được hàng đã giao…
- Bên bán không giao hàng trong thời hạn gia hạn thêm của bên mua, hoặc bên bán
tuyên bố không giao hàng trong thời gian gia hạn thêm đó.
- Bên mua không trả tiền, hay không nhận hàng; hoặc tuyên bố không trả tiền, hay
không nhận hàng trong thời gian gia hạn thêm mà bên bán quy định.
III. CÁC ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG INCOTERMS VỚI HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ
Điều kiện cơ sở giao hàng quy định những cơ sở có tính nguyên tắc của việc giao
nhận hàng hoá giữa bên bán với bên mua như: Sự phân chia bên bán với bên mua các
trách nhiệm tiến hành việc giao nhận hàng như các trách nhiệm: Thuê mướn công cụ vận
tải (thuê mướn tàu lưu cước…) bốc hàng, dỡ hàng, mua bảo hiểm, khai hải quan, nộp
thuế xuất khẩu, nộp thuế nhập khẩu v.v…; Sự phân chia giữa bên bán và bên mua các chi
phí về giao hàng như các chi phí chuyên chở hàng, chi phí bốc hàng, chi phí dỡ hàng, chi
phí lưu kho, chi phí mua bảo hiểm… Sự di chuyển từ người bán sang người mua những
rủi ro về tổn thất hàng hoá
(10)
.
Những nội dung trên là cơ sở nảy sinh các thuật ngữ nhất định trong buôn bán
quốc tế như: Giao tại xưởng (ex work), giao hàng trên tàu (free on board), tiền hàng + phí
bảo hiểm và cước phí (cost insurance and freight)..v.v.. Nội dung của các điều kiện giao
hàng này khá rộng và mỗi nước, mỗi khu vực có cách giải thích không hoàn toàn giống
nhau. Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã tổng hợp, xuất bản bộ Incoterm (International
Commercial Terms- các điều kiện thương mại quốc tế) nhằm xây dựng các nguyên tắc
giải thích các điều kiện thương mại quốc tế để các bên có thể thoả thuận áp dụng cho một
hợp đồng mua bán. Mỗi điều kiện của Incoterms được chọn sẽ trở thành một điều khoản
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
3. Nhóm điều kiện C
Là nhóm điều kiện mà người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình tại nơi
gửi hàng, có thêm nghĩa vụ tổ chức vận tải hàng hoá và chịu chi phí vận tải cho
chặng vận chuyển quốc tế. Người bán chỉ chịu rủi ro đến khi họ hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng, tức là thời điểm hàng hoá được gửi đi. Người bán cần quan tâm đến
ngày giao hàng cho người vận chuyển chứ không cần quan tâm thoả thuận ngày
hàng đến nước của người mua. Nhóm điều kiện này có hai nhóm nhỏ theo phương
thức vận tải: vận chuyển bằng đường biển:Tiền hàng và cước phí CFR – Cost and
Freight; và Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí CIF – Cost, Insurance and
Freight; vận chuyển bằng mọi phương tiện vận tải kể cả đường biển và vận tải đa
phương thức: Cước phí trả tới CPT – Carriage Paid To; và Cước phí và bảo hiểm
trả tới CIP – Cost, Insurance Paid to.
4. Nhóm đìều kiện D
Là nhóm điều kiện “nơi đến”. Tức là người bán sẽ hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
của mình tại địa điểm đích được quy định trong hợp đồng. Nhóm D bao gồm 5 điều kiện:
Giao tại biên giới (DAF – Delivered At Frontier); Giao tại tàu (DES – Delivered Ex
Ship); Giao tại cầu cảng (DEQ – Delivered Ex Quay); Giao tại đích chưa nộp thuế
(DDU – Delivered Duty Unpaid); Giao tại dích dã nộp thuế (DDP – Delivered Duty
Paid)
IV. HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. Thời kỳ trước năm 1997
Trong thời kỳ bao cấp với đặc thù là nền kinh tế tế kế hoặch hoá, nguyên tắc “Nhà
nước độc quyền về ngoại thương (hay thương mại quốc tế)” là cơ sở pháp lý chủ yếu của
hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến Pháp
năm 1946, năm 1959, và năm 1980 tại Điều 21 “Nhà nước độc quyền về quản lý hoạt
động ngoại thương và các quan hệ kinh tế quốc tế khác”.
công ty xuất nhập khẩu trên cơ sở các điều kiện chung giao hàng đã tiết kiệm được thời
gian đàm phán, loại bỏ những điểm bất đồng do có sự quy định khác nhau trong hệ thống
luật của mỗi quốc gia
(12)
.
2. Thời kỳ từ năm 1997 đến năm 2005
Nếu như trong thời kỳ bao cấp với cơ chế “Nhà nước độc quyền về ngoại thương”
làm cho nền kinh tế đối ngoại chậm phát triển, thậm chí suy giảm trong một thời gian dài
thì khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với cơ chế “Nhà nước thống nhất quản lý và
11
Trần Văn Nam, Trần Thị Hoà Bình (đồng chủ biên): “Giáo trình luật thương mại quốc tế”. Đại học Kinh tế
Quốc dân. NXB: Lao động xã hội 2005. Trang: 28-30.
12
Trần Văn Nam, Trần Thị Hoà Bình (đồng Chủ biên): “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”. Đại học Kinh tế
Quốc dân. 2005. Trang 30.
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
mở rộng kinh tế đối ngoại…” (Điều 24- Hiến pháp 1992) đã thúc đẩy hoạt động ngoại
thương phát triển mạnh mẽ sôi động hơn.
Để phù hợp vơi quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường với những đặc điểm cơ
bản của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Việt Nam đã luật hoá các hoạt
động thương mại. Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 ngày 19/5/1997 đã thông qua Luật
Thương mại 1997 (Sau đây gọi là Luật Thương mại 1997), bắt đầu có hiệu lực từ ngày
01/01/1998. Luật Thương mại 1997 ra đời đã thể chế hoá các đường lối, chính sách của
Đảng, cơ chế quản lý thương mại của Nhà nước, trong đó có chính sách về kinh tế đối
ngoại. Riêng về hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài, Luật dành mục
2 Chương II gồm 37 điều, Điều 82 cũng xác định hợp đồng mua bán hàng hoá với thương
nhân nước ngoài phải tuân theo các quy định về mua bán hàng hoá của Luật. Các hành vi
mua bán hàng hoá có nhân tố nước ngoài cũng chịu sự điều chỉnh của các quy định về
nghiệp. Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Cục
Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh doanh xuất nhập khẩu, không còn phải xin phép Bộ
thương mại. Và cũng không còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp được quyền và doanh
nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu nữa. Nghị định 44/2001/NĐ-CP đã
tiếp tục mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu cho doanh nghiệp khi quy định thương
nhân có thể xuất khẩu tất cả các loại hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề được ghi
trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trừ những hàng hoá thuộc danh mục cấm
xuất khẩu. Tuy nhiên, quyền kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp vẫn còn bị hạn chế.
Cụ thể, thương nhân chỉ được nhập khẩu những hàng hoá theo ngành nghề, ngành hàng
ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…
3. Thời kỳ từ năm 2005 đến nay
Hoạt động thương mại nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng
không ngừng phát triển cùng với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế. Về
hoạt động thương mại quốc tế, trong 10 năm trở lại đây, hoạt động này ngày càng mở
rộng thêm nhiều lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, đầu tư, dịch vụ… Ngày càng nhiều các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu được hình thành, mặt hàng kinh doanh ngày
càng đa dạng…
Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 thay thế cho Luật Thương mại
1997 đã góp phần tích cực trong khung pháp lý điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.
Luật Thương mại 2005 không tách rời hẳn một mục cho hoạt động mua bán hàng hoá
quốc tế như Luật Thương mại 1997, mà quy định cùng với hoạt động thương mại trong
nước thành “các quy định chung đối với hoạt động mua bán hàng hoá”. Hợp đồng thương
mại quốc tế cũng được đề cập trong Bộ Luật Dân sự 2005 phần quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài. Theo quy định của Luật Thương mại 2005, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế không chỉ dừng lại ở trường hợp các bên giao kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau mà
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
còn bao gồm những trường hợp khác như một bên có trụ sở kinh doanh ở nước ngoài, hay
mua bán hàng hoá ở khu chế xuất…
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá cả, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm,
phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; các nội dung khác (Điều 402). Rõ ràng, quy định mới
về nội dung của hợp đồng là nhằm giúp các bên xác định được thoả thuận cụ thể giữa họ
chứ không phải để ràng buộc hay hạn chế quyền tự do hợp đồng của họ.
4. Giao kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT theo quy định của Luật Thương
mại 2005
4.1. Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Làm thế nào để hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (MBHHQT) có hiệu lực pháp
lý là vấn đề được các bên giao kết hợp đồng đặc biệt quan tâm. Vì chỉ khi hợp đồng giao
kết giữa các bên có hiệu lực pháp lý thì quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên mới được bảo
đảm và thực hiện theo hợp đồng đã thoả thuận, và nếu có tranh chấp xảy ra thì mới đảm
bảo việc khiếu nại hay tố tụng được giải quyết trước Toà án hay Trọng tài. Các vấn đề
cần quan tâm để hợp đồng MBHHQT có hiệu lực:
4.1.1. Giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện thoả thuận ý chí giữa các bên
Cơ sở tự nguyện thoả thuận ý chí giữa các bên ở đây chính là sự thuận mua vừa
bán. Người bán nhất chí giao hàng mà người mua muốn mua; người mua nhận hàng và
trả tiền theo cam kết. Hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp lý nếu việc giao kết không vi phạm
các trường hợp ngăn cấm như: có sự cưỡng bức, đe doạ; có sự lừa dối; có sự nhầm lẫn.
4.1.2. Điều kiện về chủ thể
Chủ thể của hợp đồng là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia
khác nhau và có đủ tư cách pháp lý. Trong đó, tư cách pháp lý của các thương nhân được
xác định căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó có trụ sở. Theo quy định của
Luật thương mại 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp,
các nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh (Điều 6 Khoản 1). Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài
công nhận (Điều 16 Khoản 1)
Nội dung của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng. Nguồn luật
điều chỉnh hợp đồng có thể được các bên thoả thuận quy định trong hợp đồng. Nếu không
quy định trong hợp đồng thì việc xác định nguồn luật điều chỉnh hợp đồng sẽ áp dụng
quy tắc xung đột pháp luật: “luật nước người bán”; “luật nơi xảy ra tranh chấp”; “luật nơi
ký kết hợp đồng”; “luật nơi thực hiện nghĩa vụ”.
Để phù hợp với pháp luật quốc tế và nguyên tắc tự do thoả thuận hợp đồng của các
chủ thể, Bộ luật Dân sự 2005 quy định khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
những nội dung: Đối tượng hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá cả, phương thức thanh
toán; Thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các
bên; Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng; Các nội dung khác (Điều 402). Quy định
giúp các bên xác định được thoả thuận cụ thể giữa họ chứ không phải để ràng buộc hay
hạn chế quyền tự do hợp đồng của họ.
4.1.6. Điều kiện về hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng. Luật
Thương mại 2005 quy đinh rõ: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” (Điều
27 Khoản 2). Các hình thức có gía trị pháp lý tương đương văn bản như: điện báo, telex,
fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15 Điều 3)
4.2. Giao kết hợp đồng MBHHQT
4.2.1. Cách thức giao kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể được giao kết bằng các phương thức
trực tiếp hoặc gián tiếp.
Giao kết hợp đồng MBHHQT bằng phương thức trực tiếp: Các bên tham gia
giao kết hợp đồng cử người đại diện để trực tiếp gặp nhau, cùng bàn bạc, thương lượng
và thoả thuận thống nhất về các nội dung của hợp đồng và cùng ký tên vào văn bản hợp
đồng. Kể từ thơi điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng, hợp đồng được xác lập và phát
sinh hiệu lực pháp lý. Trường hợp có quy định điều kiện khác trong hợp đồng như có
những tranh chấp trong hoạt động MBHH đặc biệt là hoạt động MBHHQT
(13)
.
4.3. Thực hiện hợp đồng MBHHQT
Các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ mà mình đã cam kết trong hợp đồng sau khi
hợp đồng được xác lập và có hiệu lực pháp lý. Cùng với các nguyên tắc cơ bản trong hoạt
động thương mại (Mục 2 Điều 10-15 Luật Thương mại 2005), nguyên tắc thực hiện hợp
đồng dân sự (Điều 412 Bộ Luật Dân sự 2005), hợp đồng MBHH nói riêng phải được thực
hiện một cách trung thực, trên tinh thần họp tác cùng có lợi.
Với hợp đồng MBHHQT thường có những thủ tục là điều kiện để hợp đồng có giá
trị pháp lý mà các bên phải hoàn thành trước khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng như: Xin
giấy phép xuất nhập khẩu hoặc quota (với trường hợp giấy phép phải có hạn ngạch); Mở
thư tín dụng nếu hợp đồng có thoả thuận phương thức thanh toán này.
Sau các điều kiện trên, các bên thực hiện những nghĩa vụ cụ thể khác đã thoả
thuận trong hợp đồng như: Thuê tàu lưu cước, mua bảo hiểm hàng hoá; Giao/ nhận hàng;
13
Giáo trình Luật Thương mại II. Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân. 2006. Trang 23-24.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SVTH:Phạm Thị Hải Ninh-K46
==================================================================
Làm thủ tục hải quan; Kiểm tra hàng hoá; Thanh toán... Các nghĩa vụ khác khi có yêu
cầu. Luật Thương mại 2005 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
mua bán hàng hoá (áp dụng chung cho cả mua bán hàng hoá trong nước và mua bán hàng
hoá quốc tế) tại Mục 2 của Luật.
4.3.1. Quyền và nghĩa vụ của người bán
Nghĩa vụ của người bán: Giao hàng đúng thoả thuận trong hợp đồng về số lượng,
chất lượng, quy cách… thời hạn và địa địa điểm giao hàng. Đảm bảo quyền sở hữu cho
người mua đối với hàng hoá đã bán. Các nghĩa vụ này ngoài quy định trong Luật Thương
mại còn phải tuân theo những điều kiện thương mại quốc tế mà các bên đã thoả thuận lựa
chọn.
pháp luật của bên vi phạm hợp đồng.
5.2. Các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng MBHHQT
Các loại chế tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm trong thương mại nói chung
được quy định trong Điều 292 Luật Thương mại 2005: Buộc thực hiện đúng hợp đồng;
Phạt vi phạm hợp đồng; Bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ
thực hiện hợp đồng; Huỷ bỏ hợp đồng. Các bên cũng có thể thoả thuận các biện pháp
khác không trái với luật được áp dụng trong hợp đồng, các điều ước quốc tế, tập quán
thương mại mà các bên thoả thuận áp dụng…
5.2.1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng (Điều 297 Luật Thương mại 2005)
Nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng
(như giao hàng không đúng đối tượng, quy cách phẩm chất… quy định trong hợp đồng)
thì bên có quyền được yêu cầu họ phải thực hiện., nếu không phải thanh toán theo giá trị
thị trường (các bên thoả thuận áp dụng giá thị trường) của hàng hoá. Nếu bên có nghĩa vụ
gây ra thiệt hại cho bên có quyền thì phải bồi thường cả thiệt hại sau khi đã thanh toán giá
trị hàng hoá cho bên có quyền.
5.2.2. Phạt vi phạm hợp đồng (Điều 300 Luật Thương mại 2005)
Là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm
hợp đồng nếu hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách. Mức phạt vi phạm
do các bên thoả thuận, nhưng tổng mức phạt không 8% gía trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị
vi phạm.
25