!"#$
%&'()*'+,-&./01234*56'2&723&85)*9:+;
1. 1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.3 Các quy định về pháp luật đối với các nguyên tắc ký kết và nguyên
tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1. 4 Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
<':=>?(+@52&:&A/+&BC233D/09(,E(&./01234*56'2&723&85
)*9:+;
2. 1 Tranh chấp do xung đột pháp luật
2. 2 Tranh chấp về điều kiện về tên hàng (COMMODITY)
2. 3 Tranh chấp về phẩm chất hàng hóa (QUALITY)
2.4 Tranh chấp về điều khoản giao – nhận hàng (SHIPMENT/
DELIVERY)
2. 5 Tranh chấp về giá cả (PRICE)
2.6 Tranh chấp về vấn đề thanh toán (settlement payment)
2.7 Tranh chấp về điều kiện bao bì và ký mã hiệu
2.8 Tranh chấp về điều kiện bảo hành (Warranty)
2.9 Tranh chấp về điều khoản khiếu nại
2.10 Tranh chấp do các nguyên nhân khác
FG':/&BH23+&I:3(J()*K;++@52&:&A/09(,E(&./01234*56'2&723
&85)*9:+;
3. 1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên trong tranh chấp
3. 2 Hòa giải giữa các bên trong tranh chấp.
3. 3 Giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài thương mại.
3. 4 Giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế tại Tòa án.
<GLMNOP
!"#$O
fgh
Ngày nay, trong nền kinh tế hội nhập cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Môi
trường kinh tế sôi động đã mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại nhiều thách
thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Trong những năm hoạt động, các công ty Việt Nam luôn không ngừng phát
triển cải thiện công tác quản lý, củng cố quan hệ với các bạn hàng lâu năm và mở
rộng thị trường. Công ty đã có những nỗ lực đổi mới từ lĩnh vực chính là nhập
khẩu ủy thác, hiện nay công ty đã trở thành nhà cung cấp các thiết bị máy móc
thông qua đấu thầu trọn gói, chào hàng cạnh tranh. Một biều hiện của sự phát triển
đó là lượng hợp đồng xuất nhập khẩu của công ty Việt Nam cũng tăng lên nhanh
chóng cả hợp đồng thương mại trong nước và hợp đồng thương mại quốc tế. Đó là
lí do sau mà em chọn đề tài “Chế độ pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật hiện hành)” làm đề án môn học. Đề án
bao gồm 3 phần:
Chương I: Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Chương II: Thực trạng áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
tại một số công ty Việt Nam
Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện hoạt động giao kết và thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong quá trình nghiên cứu, em xin cảm ơn sự giúp đỡ chỉ dẫn của thầy giáo
TS.Nguyễn Hợp Toàn.; Đề án của em còn nhiều hạn chế và thiếu sót, rất hi vọng
nhận được sự đóng góp của thầy giáo.
3
!"#$
%&'()*'+,-&./01234*56'2&723&85)*9:+;
1. 1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những nội dung quan trọng
của pháp luật thương mại quốc tế. Hiện nay quan niệm về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế nhìn chung chưa thực sự có sự thống nhất. Các tài liệu và nghiên cứu có
các nước khác nhau.
Bên cạnh ghi nhận Điều ước quốc tế, pháp luật các nước cũng có các quy định
về hợp đồng MBHHQ Ví dụ: Luật Hợp đồng ngoại thương của Trung Quốc
21/03/1985 – The foreign Economics Contract of The People’s Republic of China
1985 - (đã được thay thế bằng Luật Hợp đồng 1999) quy định bất kì hợp đồng nào
được xác lập giữa các tổ chức kinh tế Trung Quốc với Doanh nghiệp, tổ chức và cá
nhân nước ngoài được coi là hợp đồng ngoại thương. Điều này cho thấy pháp luật
Trung Quốc lấy tiêu chí là quốc tịch để xem xét một hợp đồng có phải là hợp đồng
ngoại thương không.
Pháp luật Việt Nam lại dùng việc hợp đồng có yếu tố nước ngoài để xác định
hợp đồng đó có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo đó, mua bán hàng
hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái
5
xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [3 - Điều 27.1]. Xuất khẩu hàng hóa là việc
hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm
trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp
luật. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước
ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật. Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá
được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam
được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm
thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi
Việt Nam. Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài
hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực
hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt
Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam.
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất ý chí của các
bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết
lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó.[18 -
tr 96].
quan riêng cũng là đối tượng của hợp đồng này. Đồng thời, do tính có thể chuyển
dịch của hàng hóa, thông thường pháp luật các nước và quốc tế ngầm hiểu hàng hóa
là đối tượng của hợp đồng này phải là các động sản.
7
Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa thường có hình thức là văn bản. Điều
27. 2 Luật Thương mại Việt Nam quy định “Mua bán hàng hoá quốc tế phải được
thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp
lý tương đương”. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới và
một số điều ước về mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
không nhất thiết phải có hình thức bằng văn bản
Thứ sáu, loại hợp đồng này có nội dung là quyền và nghĩa vụ của các bên liên
quan trong hợp đồng. Trong đó, hợp đồng này quy định chủ yếu về quyền và nghĩa
vụ của người bán và người mua liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa và
thanh toán tiền hàng.
Thứ bảy, Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán quốc tế có thể là đồng
nội tệ của một quốc gia hoặc là đồng ngoại tệ đối với ít nhất một trong các bên liên
quan với hợp đồng. Việc thanh toán có thể được tiến hành bằng nhiều cách khác nhau
nhưng phổ biến nhất là thanh toán qua hệ thống ngân hàng.
Tiếp đó, nguồn luật để điều chỉnh các quan hệ trong hợp đồng này cũng hết
sức đa dạng và phức tạp. Nguồn luật có thể bao gồm luật quốc gia của nước có liên
quan đến hợp đồng, luật quốc tế, cả các tập quán thương mại quốc tế.
Do nguồn luật rất phức tạp, nên cơ quan giải quyết các tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng cũng đa dạng thường chủ yếu là tòa án của các nước có liên quan hoặc
trọng tài, trong một số trường hợp là cơ quan giải quyết khác như cơ quan giải quyết
tranh chấp của WTO,
Những đặc điểm trên của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khiến cho các
tranh chấp của loại hợp đồng này rất phong phú và đa dạng.
8
1.3 Các quy định về pháp luật đối với các nguyên tắc ký kết và nguyên tắc
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Chủ thể phải hợp pháp, nghĩa là phải tuân thủ các điều kiện do pháp luật Việt
Nam quy định. Chủ thể phía Việt Nam của loại hợp đồng này phải có đăng kí kinh
doanh theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 và đáp ứng một số điều kiện nhất
định nữa mới có thể tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Quy định cụ thể
này về chủ thể vừa đảm bảo cho các bên có thông tin chính xác về đối tác của mình,
vừa góp phần tạo niềm tin cho các đối tác nước ngoài khi làm ăn với doanh nghiệp
Việt Nam. Từ đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong con mắt các nhà kinh
doanh quốc tế.
- Hình thức của hợp đồng phải hợp pháp: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
phải được kí kết bằng hình thức văn bản thì mới có hiệu lực. Mọi sửa đổi, bổ sung
trong hợp đồng cũng phải được làm bằng văn bản. Quy định đó của pháp luật Việt
Nam chặt chẽ hơn so với quy định về vấn đề hình thức của loại hợp đồng này trong
công ước Viên 1980 (CISG) các chủ thể chịu sự điều chỉnh của công ước Viên có thể
kí hợp đồng dưới bất kì hình thức nào, kể cả lời khai của nhân chứng (Điều 11). Tuy
nhiên, Công ước cũng quy định trong trường hợp hợp đồng bằng văn bản có quy định
yêu cầu bất kì thoả thuận về việc sửa đổi hợc huỷ bỏ nào cũng phải lập thành bằng
10
văn bản, điều 29 quy định rằng hợp đồng đó không thể được sửa đổi hoặc chấm dứt
bởi các thoả thuận bằng hình thức khác. Theo đó, cách quy định của pháp luật Việt
Nam tuy chặt chẽ nhưng là cần thiết để phòng ngừa tranh chấp và giải quyết tranh
chấp có hiệu quả cao, nhất là nguy cơ xảy ra tranh chấp với loại hợp đồng này là rất
lớn. Nếu Việt Nam là thành viên của CISG, Việt Nam có thể khiến cho hệ thống
pháp luật của mình tương thích với công ước này nếu áp dụng điều 96 của Công ước
cho phép quốc gia thành viên không phải áp dụng điều 11 và loại trừ điều 29.
- Đối tượng của hợp đồng phải là các hàng hóa mà pháp luật cho phép mua bán
qua biên giới. Một số hàng hóa có thể được pháp luật nước một nước cho phép tư
nhân tự do mua bán qua biên giới nhưng pháp luật Việt Nam không cho phép như
hoạt động xuất khẩu cổ vật quý của Việt Nam ra nước ngoài. Theo CISG và Công
ước liên hiệp quốc về sử dụng giao dịch điện tử trong hợp đồng quốc tế (United
Nations Convention on the Use of Electronic Communnication in International
quy định về bồi thường thiệt hại.
Để thực hiện đúng hợp đồng các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
mình sau đây:
5i*K-2,723&j5,k:l56R26'2Q
12
Thông thường các nghĩa vụ chung của người bán hàng là giao hàng, chuyển
giao các tài liệu liên quan đến hàng hoá và chuyển quyền sở hữu hàng hoá, theo thoả
thuận
Trước tiên, bên bán phải giao hàng phù hợp với hợp đồng. Hàng hoá được coi
là phù hợp với hợp đồng nếu không thuộc các trường hợp quy định tại điều 39 Luật
Thương mại 2005 và Điều 35. 2 của Công ước Viên 1980 (CISG). Theo các điều
này, trường hợp các bên không có thỏa thuận về hàng hoá được coi là phù hợp với
hợp đồng, thì hàng hóa được coi là không phù hợp khi hàng hoá đó thuộc một trong
các trường hợp sau:
- Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng
chủng loại;
- Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán
biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;
- Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hóa mà bên bán đã
giao cho bên mua;
- Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại
hàng hoá đó theo cách thức thích hợp, trong trường hợp không có cách thức bảo quản
thông thường.
- Bên bán phải chịu trách nhiệm về khuyết điểm của hàng hoá phát sinh sau
thời điểm chuyển rủi ro nếu khuyết điểm đó do bên bán vi phạm hợp đồng.
Luật Thương mại 2005 cũng đưa ra một điều khoản quy định việc khắc phục
trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng để các
13
bên trong hợp đồng có thể vận dụng.
Trong trường hợp các bên trong hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng
hàng hoá cho bên mua, bên bán có trách nhiệm giao chứng từ trong thời hạn và tại
địa điểm hợp lý để bên mua có thể nhận hàng;
- Bên bán đã giao chứng từ liên quan đến hàng hoá trước thời hạn thoả thuận,
bên bán vẫn có thể khắc phục những thiếu sót của các chứng từ này trong thời hạn
còn lại. Khi bên bán thực hiện khắc phục những thiếu sót của các chứng từ mà gây
bất lợi hoặc phát sinh những chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền
yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.
*Tiếp đó, bên bán phải thực hiện đúng nghĩa vụ bảo hành của mình. Theo Luật
Thương mại 2005, trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu
trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Để đảm
bảo lợi ích của bên mua, bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian
ngắn nhất mà hoàn cảnh cho phép khi hàng hoá có sự hư hỏng, khiếm khuyết không
như các bên thoả thuận. Luật Thương mại không đưa ra các quy định về quyền yêu
cầu bảo hành, phương thức thực hiện nghĩa vụ bảo hành, bồi thường thiệt hại trong
thời gian bảo hành , như vậy trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì các
quy định của Bộ luật Dân sự 2005 sẽ được áp dụng (từ Điều 446 đến Điều 448). Luật
15
Việt Nam quy định tương đối cụ thể vấn đề này nhưng CISG không có quy định về
trách nhiệm bảo hành đối với hàng hoá. Sự khác biệt về này cho thấy ưu thế của pháp
luật quốc gia, vì luật quốc gia thường chỉ áp dụng trên phạm vi một lãnh thổ nên
pháp luật quốc gia có thể quy định cụ thể chi tiết hơn nhều vấn đề so với các công
ước.
Thêm nữa, bên bán phải bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ. theo quy định tại khoản
1 Điều 46 Luật Thương mại 2005, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền
sở hữu trí tuệ. Bên bán phải chịu trách nhiệm trong trường hợp có tranh chấp liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa đã bán. Trường hợp bên bán thực
hiện theo yêu cầu của bên mua về bản vẽ kỹ thuật, thiết kế, công thức hoặc những số
liệu chi tiết do bên mua cung cấp thì bên bán không phải chịu trách nhiệm về các
khiếu nại liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ việc bên bán
đã tuân thủ những yêu cầu của bên mua. Quy định về bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ
thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khuyết điểm
đó), bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khuyết điểm nào của hàng hoá đã có
trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả khuyết điểm đó được phát hiện sau
thời điểm chuyển rủi ro;
*Thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng
17
mua bán hàng hóa. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo
thỏa thuận. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá
mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ
trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.
Điều 51 Luật Thương mại 2005 đã quy định quyền ngừng thanh toán tiền mua
hàng của bên mua (cho đến khi tình trạng được khắc phục) nhằm bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của bên mua trong các trường hợp cụ thể sau:
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc
thanh toán;
- Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì
có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với
hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự
không phù hợp đó;
- Trường hợp tạm ngừng thanh toán vì hàng hóa là đối tượng tranh chấp hoặc
hàng hóa giao không đúng với hợp đồng mà bằng chứng do bên mua đưa ra không
xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu
các chế tài khác theo quy định của Luật này.
Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể thì bên mua
phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địa điểm sau đây:
- Địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp
đồng, nếu không có địa điểm kinh doanh thì tại nơi cư trú của bên bán;
18
- Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán được tiến hành
– Luật Thương mại 2005)
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
- Phạt vi phạm.
- Buộc bồi thường thiệt hại.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
- Huỷ bỏ hợp đồng.
- Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
o#*X:+&V:&([20p23&./0123q
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Buộc thực hiện đúng hợp đồng không
phải áp dụng trong tất cả các trường hợp vi phạm hợp đồng mà chỉ được áp dụng
20
trong các trường hợp sau đây:
- Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng không đúng hợp đồng thì phải giao
đủ hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng.
- Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá kém chất lượng thì phải loại trừ
khuyết tật của hàng hoá hoặc giao hàng khác thay thế theo đúng hợp đồng. Bên vi
phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại khác để thay thế nếu không
được sự chấp thuận của bên bị vi phạm.
Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế
tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
o&?+,(/&?4q
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền
phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp
miễn trách nhiệm.
22
Bên đình chỉ thực hiện hợp đồng có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên kia
biết về việc đình chỉ hợp đồng, nếu không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên
kia thì bên đình chỉ thực hiện hợp đồng phải bồi thường thiệt hại.
Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một
bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực
hiện nghĩa vụ đối ứng.
Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
o*s6t&./0123Q
Huỷ bỏ hình thức là hình thức chế tài theo đó một bên chấm dứt thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng và làm cho hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.
Huỷ bỏ hợp đồng có thể là huỷ bỏ một phần hợp đồng hoặc toàn bộ hợp đồng. Khi
hợp đồng bị huỷ bỏ một phần thì chỉ có phần nghĩa vụ bị huỷ bỏ là không có hiệu
lực, các phần khác trong hợp đồng vẫn có hiệu lực. Khi hợp đồng bị huỷ bỏ toàn
phần thì hợp đồng được coi như là không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Các
bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ
thoả thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh
chấp.
o':+@BC23&./4(W2+@':&2&([409(,E(&72&,(,(/&?4&./0123Q
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá là việc bên vi phạm
nghĩa vụ theo hợp đồng không phải chịu các hình thức chế tài. Các bên trong hợp
đồng có quyền thoả thuận về giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm trong những
trường hợp cụ thể. Luật pháp quốc tế và các quốc gia thường quy định việc một bên
23
không phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kì nghĩa vụ nào đó của họ
nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do trở ngại goài sự kiểm soát
của họ và người đó đã thực hiện các biện pháp ngăn chặn thiệt hại xảy ra cũng như
đã thông báo cho các bên liên quan trong thời gian hợp lý, hoặc rơi vào các trường
hợp miễn trách nhiệm theo quy định của hợp đồng. Theo quy định tại Điều 294 Luật
thống luật khác nhau để áp dụng cho những phần khác nhau của hợp đồng, các bên
cũng có thể chọn các nguyên tắc được thừa nhận chung trong thương mại và tập quán
thương mại quốc tế để áp dụng cho hợp đồng.
Thực tiễn hoạt động thương mại đã cho thấy khi soạn thảo hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế, các chủ thể đôi khi còn nhiều thiếu sót liên quan đến việc chọn luật
áp dụng. Chẳng hạn trong hợp đồng mà các bên thương lượng có điều khoản quy
định về việc áp dụng các điều kiện giao hàng quốc tế Incoterms. Tuy nhiên, trong đó
lại không ghi rõ áp dụng theo phiên bản nào của Incoterms
(phiên bản mới nhất là
Incoterms 2000). Vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra sẽ không có căn cứ để giải quyết vì
không biết áp dụng phiên bản nào của Incoterms để giải quyết các tranh chấp đó.
Hoặc cũng có trường hợp các bên tham gia kí kết hợp đồng thỏa thuận áp dụng luật
quốc gia nhưng không nêu rõ áp dụng luật của nước nào (luật của nước bên mua hay
luật của nước bên bán, hay luật của nước thứ ba có liên quan…). Khi có tranh chấp
xảy ra sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết, cho việc lựa chọn nguồn luật áp dụng để
giải quyết tranh chấp.
Một ví dụ khác là các quy định khác nhau của các hệ thống luật khác nhau dẫn
25