Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA HỌC 2011-2015
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỐNG PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
GVHD: Ths. Thạch Huôn
Bộ môn: Luật Thƣơng Mại
SVTH: Từ Thị Tuyết
MSSV: 5117444
Lớp: HG1163A1
Khóa: 37
Cần Thơ, tháng 12/
2014
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Uỷ ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền phụ nữ và trẻ em
COMMIT
bán người
Kế hoạch hành động tiểu vùng sông Mê Kông về phòng chống buôn
UNIEF
Qũy Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
UNODC
Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hiệp Quốc
IOM Tổ chức di dân quốc tế
UNIAP
Tổ chức Liên Hiệp Quốc về phòng chống buôn bán người
CHXHCN
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
MỤC LỤC
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
2.3 Thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. .................................................................. 41
2.3.1 Pháp luật về chống phân biệt chủng tộc được ghi nhận trong pháp luật Việt
Nam ....................................................................................................................... 41
2.3.2 Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực chống phân biệt chủng tộc .. 45
2.3.3 Việt Nam với việc thực hiện các quy định của Công ước xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc 1965 ...................................................................................... 47
2.3.4 Những khó khăn khi Việt Nam thực thi việc chống phân biệt chủng tộc .... 54
2.3.5 Phương hướng hoàn thiện việc thực hiện chống phân biệt chủng tộc tại Việt
Nam ....................................................................................................................... 55
PHẦN KẾT LUẬN .............................................................................................. 58
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay nhân quyền đã trở thành một vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận
thế giới, một nhân tố quan trọng trong các chương trình nghị sự và trong các văn
kiện của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực cũng như toàn cầu,
các diễn đàn hợp tác song phương và đa phương. Hầu hết các quốc gia ở mọi khu
vực trên thế giới, ở mọi trình độ phát triển, đều khẳng định cam kết về nhân quyền.
Các vụ vi phạm nhân quyền trắng trợn đều bị lên án gay gắt.
Một trong những vấn đề vi phạm về nhân quyền tiêu biểu nhất đó chính là vấn đề về
phân biệt chủng tộc. Phân biệt chủng tộc xâm hại trực tiếp đến quyền cơ bản của
con người và quyền cơ bản của con người chỉ có thể được đảm bảo triệt để khi họ
không bị phân biệt đối xử và kỳ thị.
chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” làm luận
văn tốt nghiệp của mình với mong muốn được góp một phần nhỏ bé vào việc thực
hiện các quy định về việc chống biệt chủng tộc tại Việt Nam.
2. Mục đích chọn đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là giúp người đọc hiểu rõ một số quy định của
pháp luật quốc tế về vấn đề chống phân biệt chủng tộc, hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định về chống phân biệt chủng tộc tại Việt
Nam. Bên cạnh đó người viết còn đưa ra được một số giải pháp nhằm tăng cường
hiệu quả của hoạt động phòng chống, tiến tới xoá bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc
tại Việt nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về chống phân biệt chủng
tộc, các quy định của pháp luật quốc tế và của Việt Nam về chống phân biệt chủng
tộc và thực tiễn thi hành các quy định này tại Việt Nam.
Trong khuôn khổ một luận cử nhân, người viết chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ một
số vấn đề cơ bản nhất về chống phân biệt chủng tộc như khái niệm về chống phân
biệt chủng tộc; các quy định cơ bản nhất của Công ước về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc của Liên hợp quốc năm 1965; các quy định của pháp luật Việt
Nam về vấn đề này; việc thực hiện các quy định về chống phân biệt chủng tộc tại
Việt Nam. Những vấn đề khác liên quan đến đề tài này tác giả sẽ tiếp tục nghiên
cứu sau khi có điều kiện.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ nội dung người viết đã sử dụng
một số phương pháp chính như : phân tích các quy định của pháp luật, sử dụng các
ví dụ chứng minh và phương pháp so sánh để làm rõ vấn đề.
5. Cơ cấu của luận văn
Đề tài được kết cấu từ khái quát đến cụ thể nhằm đem đến cho người đọc có cái
nhìn từ tổng quan đến đi sâu vào từng vấn đề cụ thể. Ngoài các mục của lời nói đầu,
kết luận, tài liệu tham khảo thì nội dung trọng tâm của đề tài được bố cục gồm 2
chương:
mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con
người.1
Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người. Trong tác
phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa
quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi
nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.2
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng
đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá
trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị
xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng
xã hội, tự do...; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải
được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Như
1
OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York
and Geneva, 2006, trang 1.
2
Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc Gia, 2009,
trang 38.
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như
là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng
cho tất cả mọi người. Vấn đề quyền
con người đã có sự phát triển lâu dài đầy thăng trầm trên thế giới, gắn liền với sự
đấu tranh của nhân dân vì tự do, dân chủ, chống lại sự áp bức bóc lột của những kẻ
thống trị.
Đầu tiên là về quyền con người trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, mặc dù quyền lợi
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
bình đẳng và quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi
ích chung” và “Mục đích của mọi tổ chức chính trị là việc bảo toàn các nguồn lợi
thiên nhiên và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là
tự do, tài sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức”. Những tư tưởng
từ cuộc cách mạng Hoa Kỳ và Pháp đã châm ngòi cho nhiều cuộc cách mạng tư sản
ở châu
Âu, gây ra nhiều biến động to lớn ở khu vực này. Trong vòng 35 năm, từ năm 1795
đến năm 1830, hơn 70 bản Hiến pháp mang dấu ấn của Tuyên ngôn về nhân quyền
và dân quyền được ra đời.
Trong thế kỷ XIX, quyền con người trở thành một vấn đề có sức lan tỏa lớn trên thế
giới. Cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra mạnh mẽ.
Chiến thắng của Liên bang miền Bắc trong nội chiến Hoa Kỳ (1861 - 1865) đã xóa bỏ
chế độ nô lệ, đồng thời giải phóng hàng triệu nô lệ trên đất nước này.
Chiến tranh thế giới thứ hai là bước nhảy vọt quyết định với sự ra đời của luật nhân
quyền quốc tế. Chiến tranh trải qua để lại bao đau thương mà mất mát, khiến nhân
dân thế giới nhận thức được sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế bảo
đảm cho nhân dân thế giới không phải chịu những thảm họa về nhân quyền mà phát
xít gây ra. Tổ chức này có nhiệm vụ hết sức quan trọng là bảo vệ quốc tế với các
quyền con người. Ngày 25-4-1945, đại diện của 50 quốc gia trên thế giới đã tập
hợp tại San fransisco, Hoa Kỳ để thành lập một tổ chức quốc tế có tên là Liên hợp
quốc. Ngày 26-6-1945, Bản Hiến chương Liên hợp quốc được ký kết và bắt đầu có
hiệu lực từ ngày 24-10-1945, đánh dấu một cột mốc quan trọng đối với sự phát
triển của luật nhân quyền quốc tế.
Theo Điều 1 của Hiến chương thì một trong bốn mục đích hoạt động cơ bản của
Liên hợp quốc là: “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề
quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo, và trong việc thúc đẩy và khuyến
khích sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả
Ái Quốc đã thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến những
nước tham gia hội nghị Vecsxai bản “yêu sách của nhân dân Việt Nam” gồm 8 điều,
trong đó có 4 điều trực tiếp về quyền con người (tự do báo chí, tự do ngôn luận; tự
do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; Tự do học
tập, thành lập các trường kĩ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ).
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam từ vị thế những
người nô lệ trở thành những người chủ thật sự của đất nước. Mỗi người dân từ đây
được hưởng các quyền con người, quyền công dân; dân tộc từ đây được tự quyết
con đường phát triển của mình.
Bằng Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba
Đình ngày 2-9-1945 không những đã kế thừa tinh hoa trong tư tưởng về quyền con
người trên thế giới mà còn phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới. việc
nhắc lại những luận điểm bất hủ trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và
Tuyên ngôn Dân quyền và nhân quyền của Pháp, người khẳng định về quyền dân
tộc tự quyết: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào
cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đây là một đóng góp vĩ
đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ với dân tộc Việt Nam mà còn với nhân dân
thế giới, đặc biệt là các nước thuộc địa. Điều này cho thấy, Người không chỉ là một
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
nhà hoạt động cách mạng mà còn là một nhà tư tưởng xuất sắc về quyền con người.
Hiện nay, đất nước ta đã có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, hầu như
các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội đều được điều chỉnh bởi luật. Các đạo luật
đã cụ thể hóa, chi tiết hóa các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến
pháp để công dân có thể dễ dàng thực hiện trong cuộc sống. Trên cơ sở đó, quyền
con người ở Việt Nam ngày càng được tôn trọng và bảo đảm.
Ở đây người viết của luận văn trình bày về quyền của con người nhằm thể hiện mối
quan hệ giữa nhân quyền và vấn đề chống phân biệt chủng tộc, đây là hai lĩnh vực
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
hóa hay làm giảm giá trị sự thừa nhận, sự hưởng thụ hoặc thực hành, trên một địa vị
bình đẳng, các quyền con người và tự do cơ bản trong đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội, văn hóa hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác”. Định nghĩa này được sử dụng như là
cơ sở cho nhiều định nghĩa và các văn kiện liên quan đến phân biệt chủng tộc.
Như vậy ta thấy rằng phân biệt chủng tộc diễn ra trên nhiều phương diện. Tạo nên
một sự phân biệt hết sức hà khắc hết sức nghiêm trọng và bất bình đẳng trong xã
hội.
Căn cứ vào định nghĩa tại khoản 1 Điều 1 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc năm 1965 có thể thấy có 3 yếu tố cấu thành phân biệt chủng tộc. Đó
là:
- Thứ nhất, những hành động phân biệt chủng tộc
Hành động này có thể là phân biệt, loại trừ, hạn chế, xua đuổi, thiên vị,…;
- Thứ hai, các căn cứ phân biệt chủng tộc
Căn cứ để thực hiện hành động phân biệt, loại trừ, hạn chế,… là các đặc điểm cá
nhân như chủng tộc, sắc tộc, dòng dõi, nguồn gốc dân tộc chủng tộc, giới tính, tuổi
tác, sự toàn vẹn về thể chất...;
- Thứ ba, mục đích và hậu quả của sự phân biệt chủng tộc
Mục đích của sự phân biệt đối xử là ngăn chặn, hạn chế nạn nhân, hoặc ảnh hưởng
đến việc ngăn ngừa nạn nhân thực hiện và hưởng thụ địa vị bình đẳng, các quyền
và tự do cơ bản của con người...
Ta có thể hiểu rằng phân biệt chủng tộc là sự kỳ thị, một niềm tin cho rằng một
nhóm người nào đó sẽ có tính ưu việt hơn các nhóm khác. Nó có thể biểu hiện dưới
hình thức công khai như các lời nói giễu cợt, những lời gièm pha, có thể là cố ý hay
vô ý gây tác động đến một nhóm người mà họ muốn áp đảo.
Có thể lấy một vài ví dụ điển hình để phần nào hiểu rõ hơn về vấn đề này lấy ví dụ
như: một người dân bình thường từ một quốc gia nào đó ở Châu Phi hay Châu Á (vì
biện pháp này trong mọi trường hợp không được dẫn tới việc duy trì sự bất bình
đẳng hoặc các đặc quyền riêng cho những nhóm chủng tộc khác nhau sau khi mục
tiêu đề ra đã thực hiện”. Ta thấy rằng ở một số nước trên thế giới ví dụ như Việt
Nam, Lào đã dùng những chính sách ưu tiên cho người dân tộc thiểu số ở vùng sâu,
vùng xa nhằm tạo sự công bằng đối với các vùng khác, hay theo quy định của Điều
4 công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ 1979:
“1. Việc các quốc gia thành viên Công ước thông qua những biện pháp đặc biệt tạm
thời nhằm thúc đẩy nhanh sự bình đẳng trên thực tế giữa phụ nữ và nam giới sẽ
không bị coi là phân biệt đối xử như đã định nghĩa trong Công ước này, nhưng với
điều kiện là không vì thế mà đưa đến việc duy trì những tiêu chuẩn bất bình đẳng
hoặc khác nhau giữa nam giới và phụ nữ; và những biện pháp này phải được chấm
dứt khi các mục tiêu bình đẳng về cơ hội và đối xử giữa nam giới và phụ nữ đó đạt
được.” Vấn đề về bình đẳng giới không còn là vấn đề mới lạ trong giai đoạn hiện
nay, xét về nhiều phương diện thì người phụ nữ luôn thua thiệt so với nam giới nên
cần có những biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy nhanh sự bình đẳng giữa nam và
nữ.
1.1.2.2 Định nghĩa về chống phân biệt chủng tộc
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
Phân biệt chủng tộc là một hành vi, một nhận thức và là một suy nghĩ hết sức sai
lầm và gây ảnh hưởng hết sức to lớn cho mỗi quốc gia nói chung và cả thế giới nói
riêng. Do nhận thức được sự nguy hiểm cho xã hội, các quốc gia thành viên của Tổ
Chức Liên Hợp Quốc đã cùng nhau tìm ra cách để ngăn chặn và trừng phạt những
hành vi phân biệt đối xử giữa các dân tộc. Ngoài các điều ước quốc tế về nhân
quyền có những quy định về chống phân biệt chủng tộc, năm 1965, Liên hợp quốc
đã thông qua một văn kiện pháp lý chuyên biệt đầu tiên nhằm xóa bỏ, trừng phạt, và
lên án các hành vi phân biệt chủng tộc đó là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc.
bất cứ cá nhân, tổ chức hoặc nhóm người nào bằng mọi biện pháp thích hợp, bao
gồm cả bằng pháp chế nếu thấy cần thiết;
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
e)
Mỗi nước thành viên sẽ khuyến khích, nơi nào thấy phù hợp, các biện pháp
khác nhằm xóa bỏ hàng rào giữa các chủng tộc và hạn chế bất cứ điều gì có thể
làm tăng sự phân chia chủng tộc.
Có thể thấy các biện pháp chống phân biệt chủng tộc mà các quốc gia thành viên
của Công ước năm 1965 cam kết rất đa dạng.
1.1.3 Đặc điểm về chống phân biệt chủng tộc
Thứ nhất hoạt động chống phân biệt chủng tộc là hoạt động mang tính toàn cầu và
có sự hợp tác quốc tế. Vấn đề phân biệt chủng tộc không chỉ diễn ra bó hẹp ở một
khu vực hay là ở một quốc gia mà phạm vi của nó là ở bất kì nơi nào trên thế giới.
Vì thế hoạt động chống phân biệt chủng tộc phải diễn ra sâu rộng và cần có sự hợp
tác tích cực của nhiều quốc gia trên thế giới. Như chúng ta biết hợp tác quốc tế là
một trong những yếu tố rất quan trọng góp phần ổn định và phát triển kinh tế, chính
trị, văn hóa và xã hội của các nước. Thực hiện không tốt hay không quan tâm không
đúng mức đến yếu tố này sẽ ảnh hưởng to đến quốc gia trên nhiều phương diện. Vì
vậy, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chống phân biệt chủng tộc là một trong những
yếu tố rất quan trọng không thể thiếu được trong việc bảo vệ và tôn trọng các quyền
cơ bản của con người. Hiện nay hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chống phân biệt
chủng tộc là hoạt động rất cần được quan tâm nên Nhiều nước trên thế giới hay
trong một khu vực đã cùng nhau xây dựng các thiết chế quốc tế nhằm ngăn chặn
các hành vi xâm phạm đến quyền con người.
Ví dụ các nước đã thành lập các ủy ban về nhân quyền như Ủy ban nhân quyền của
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Ủy ban nhân quyền thuộc Hội đồng châu
Âu, Ủy ban nhân quyền của châu Phi,… Ở phạm vi toàn cầu có Hội đồng nhân
quan tâm của cộng đồng thế giới, cũng như khi tìm hiểu về quyền con người ở phần
này ta cũng tìm hiểu về quá trình phát triển của vấn đề về chống phân biệt chủng
tộc được quy định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế có giá trị pháp lý. Văn
kiện quốc tế được nhắc đến đầu tiên là Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, năm
1948 được thông qua theo Nghị quyết số 217 A (III) ngày 10-12-1948 của Đại hội
đồng Liên hợp quốc.
Đây là một trong những văn kiện quan trọng và cơ bản nhất của vấn đề nhân
quyền. Văn kiện này là sự tổng kết, khái quát các giá trị nhân quyền trong lịch sử
nhân loại, đồng thời đã phản ánh những đòi hỏi bức xúc nhất trong việc bảo vệ
quyền con người của các dân tộc ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuyên ngôn
đã xác định các nguyên tắc và chuẩn mực của quyền con người. Đó là nguyên tắc
không phân biệt đối xử; các quyền dân sự và chính trị; các quyền kinh tế, xã hội
văn hóa và thủ tục giám sát quốc tế. Trong 30 điều khoản của văn kiện này, trừ điều
29 và 30 quy định về giải thích Tuyên ngôn, đã quy định khá đầy đủ các quyền tự
do cơ bản của con người và những hạn chế phải chấp nhận vì quyền, lợi ích của
người khác và của cộng đồng.
Những quy định trong Tuyên ngôn là nền tảng để hình thành và phát triển các công
ước quốc tế khác về nhân quyền. Ví dụ như: Điều 1 về quyền bình đẳng, không phân
biệt đối xử, Điều 3 về quyền sống, Điều 5 quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
Điều 10, 11 về các quyền trong tố tụng hình sự (như được xét xử công bằng, công
khai trước tòa án, quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
tội), Điều 18, 19 về các quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo và tự do ngôn
luận...6
Sau năm 1945, Hiến chương Liên hợp quốc ra đời là một trong những văn kiện
pháp lý quan trọng của Luật quốc tế trong đó vấn đề nhân quyền cũng có một số
điều khoản quy định liên quan đến chống phân biệt chủng tộc. Tuyên ngôn thế giới
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
quốc tế, do đó, mỗi quốc gia cần thực hiện các biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa và
xóa bỏ mọi hành vi phân biệt chủng tộc.
Tuyên bố năm 1963 nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của nhiều quốc gia, đặc
biệt là quốc gia mới giành độc lập ở châu Phi và châu Á. Bởi vậy, chỉ trong vòng
hai năm sau đó, ngày 21-12-1965, Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc đã chính thức được Đại hội đồng Liên hợp quốc bỏ phiếu thông qua
bằng Nghị quyết 2106A (XX), để cung cấp cho các quốc gia một công cụ pháp lý
hữu hiệu hơn trong hoạt động chống phân biệt đối xử về chủng tộc và những hình
thức biểu hiện của nó. Công ước này là một trong những điều ước quốc tế có giá trị
pháp lý đầu tiên về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, và nó đã thể hiện
quyết tâm cao cả của các nước thành viên Liên hợp quốc trong vấn đề chống và xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử (ra đời trước Công ước về quyền dân sự, chính
trị và Công ước về kinh tế, xã hội và văn hóa).
Ngoài Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Công
ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 vấn đề chống
phân biệt chủng tộc còn được quy định trong nhiều điều ước quốc tế khác về quyền
con người như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công
ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước quốc tế về
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979; Công ước về quyền trẻ
em năm 1989; Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn
bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục năm 1984.
Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam non trẻ mới ra đời sau thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định nguyên tắc "tất cả công dân Việt
Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa" (Điều 6).
Vấn đề hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã được xác định tại Hiến pháp
"Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi
da đen ở Hoa Kỳ, việc phân biệt đối xử đối với thổ dân da đỏ ở châu Úc, hành động
của các nhóm phát xít mới, của lực lượng “đầu trọc” ở Đức nhằm vào những người
nhập cư, nhất là những người Châu á...vẫn đang xảy ra hàng ngày, hàng giờ.
Trong giai đoạn 1975-1979 tại Campuchia chế độ Pol Pot đã giết hại từ 1,5 tới 2,3
triệu người trong tổng dân số gần 8 triệu. Mục tiêu của chế độ này là các nhà sư
Phật giáo, những tri thức có ảnh hưởng phương tây, những người tàn tật, các dân
tộc thiểu số như Lào và Việt Nam. Lãnh đạo Khmer Đỏ tuyên bố rằng: chỉ một hay
hai triệu người là cần thiết để xây dựng một xã hội điền địa cộng sản không tưởng.
Đối với những người khác thì “ sống cũng chẳng được gì; chết cũng chẳng mất gì”.
Họ bãi bỏ mọi tôn giáo và giải tán các nhóm người thiểu số, cấm họ nói những
ngôn ngữ của họ cũng như thực hiện các nghi lễ nghi thức theo phong tục.9
Hay ta nhắc đến câu chuyện đầy thương tâm của Emmett Till Louis (25/7/194128/8/1955) là cậu bé người Mỹ gốc Phi, chỉ vì vô tình huýt sáo với một người phụ
nữ da trắng mà cậu bé bị đánh đập, móc mắt, siết cổ bằng dây thép gai và vứt
xuống sông. Phẫn nộ trước hành động đầy thú tính của những kẻ da trắng, mẹ của
cậu bé đã công khai đấu tranh, cô để con trai mình trong chiếc quan tài mở và cho
phép tất cả mọi người tới xem, cô nói rằng: “tôi muốn thế giới đến xem những gì
mà sự phân biệt chủng tộc đã làm”.10
Qua một vài ví dụ trên ta thấy rằng tình hình phân biệt chủng tộc trong giai đoạn
trước đây diễn ra hết sức phổ biến và gây gắt, gây ra đau thương và mất mát cho
những người được xem là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc.
1.2.2 Giai đoạn hiện nay
Xã hội ngày càng phát triển, ý thức của con người cũng ngày được nâng cao, tuy
không thể nói rằng nạn phân biệt chủng tộc không còn nữa nhưng có thể khẳng
định rằng tình hình phân biệt chủng tộc trong giai đoạn hiện nay đã giảm một cách
đáng để. Nhận thức được sự cần thiết của việc chống phân biệt chủng tộc và bảo vệ
quyền con người các nước trên thế giới đã tích cực thực hiện và cho ra đời các
công ước về bảo vệ quyền con người như:
- Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc
1965;
9
nước nguy hiểm nhất đối với các nhóm thiểu số, trong khi các nước Đông Nam Á
trong đó có Campuchia, Thái Lan và Malaysia được xếp vào số các nước gia tăng
tình trạng căng thẳng chủng tộc.11
Báo cáo thường niên về Tình trạng Người thiểu số và bản địa trên thế giới của Tổ
chức Quốc tế về quyền người thiểu số phát hành hôm 3/7/2014, trình bày các cuộc
nghiên cứu trường hợp tại 70 quốc gia trên toàn cầu và xếp hạng các nước này dựa
trên mức độ nguy hiểm mà các nhóm thiểu số trong nước đó đối mặt.
Myanmar là quốc gia Đông Nam Á duy nhất nằm trong mức đe dọa, đứng thứ 8
trong nhóm 10 quốc gia, trong đó Somalia xếp thứ nhất, Afghanistan xếp thứ 5 và
Pakistan xếp thứ 7. Báo cáo lưu ý mặc dù chính quyền Myanmar “đang từng bước
cởi mở hơn”, “thái độ thù địch chống người Hồi giáo thiểu số” vẫn cứ tăng.
11
Ucanews.com, Tội ác do thù hận và phân biệt chủng tộc gia tăng tại Đông Nam Á,
[ truy cập
ngày 1/11/2014]
Một số vấn đề về chống phân biệt chủng tộc trong pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam
Tháng 2-2012, vụ Trayvon Martin - một thiếu niên da đen 17 tuổi bị bắn chết trong
cuộc xô xát tại Sanford, Florida đã làm dấy lên làn sóng phản đối nạn phân biệt
chủng tộc lớn chưa từng có trong lòng nước Mỹ. Nghiêm trọng hơn, khi tòa án ra
phán quyết tha bổng người đã bắn chết Trayvon Martin, phong trào biểu tình "Công
lý cho Trayvon" đã diễn ra tại hơn 100 TP trên toàn nước Mỹ. Nhằm xoa dịu tình
hình, trong một cuộc họp báo bất thường hồi cuối tháng 7/2013, Tổng thống Barack
Obama đã thừa nhận, nhiều người da đen ở Mỹ đã phải trải qua sự phân biệt đối xử
vì
chủng