Pháp luật về đại lý hải quan và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LƢƠNG THỊ HÒA
PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI LÝ HẢI QUAN
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN Lƣơng Thị Hòa LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp. Để có đƣợc
kết quả đó, tôi vô cùng cảm ơn TS. Nguyễn Anh Sơn đã giúp đỡ tôi rất nhiều
trong quá trình xác định hƣớng nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, các cán bộ nhân viên Trung tâm thông tin - thƣ viện, Đại
học Quốc gia Hà Nội và Thƣ viện Quốc gia Việt Nam cùng bạn bè, gia đình
đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
Luận văn là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, khoa học của
bản thân, nhƣng do khả năng có hạn nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết
nhất định. Tôi rất mong sự đóng góp nhiệt tình của các thầy, cô giáo để luận
văn đƣợc hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


2.1.6. Chấm dứt quan hệ đại lý làm thủ tục hải quan: 50
2.2. Thực trạng hoạt động của Đại lý hải quan ở Việt Nam 51
2.2.1. Phƣơng hƣớng phát triển Đại lý hải quan của các nƣớc trên thế giới 51
2.2.2. Phƣơng hƣớng phát triển Đại lý hải quan của Việt Nam 53
2.2.3. Chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc về phát triển Đại lý hải quan 55
2.2.4. Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại về hoạt động của Đại lý
hải quan 56
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ ĐẠI LÝ HẢI QUAN Ở VIỆT NAM 76
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về Đại lý hải quan 76
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đại lý hải quan 79
3.2.1. Giải pháp từ phía cơ quan Hải quan 79
3.2.2. Các giải pháp từ phía Đại lý làm thủ tục hải quan và doanh nghiệp xuất
nhập khẩu 90
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Chữ viết tắt
Diễn giải
1
AEO
Doanh nghiệp ƣu tiên đặc biệt
2
CBFCA
Hiệp hội các hƣớng giao nhận và đại lý hải quan
Australia


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê hoạt động Đại lý hải quan 6 tháng đầu năm 2012 tại 4
Cục Hải quan tỉnh, thành phố 57
- 1 -
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại lý làm thủ tục hải quan, hay còn gọi là đại lý hải quan đƣợc biết
đến nhƣ một hoạt động khai thuê hải quan, là loại hình dịch vụ nằm trong
chuỗi dịch vụ đƣợc cung ứng cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá. Trong
bối cảnh thƣơng mại hoá toàn cầu, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động
dịch vụ này ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lƣợng doanh nghiệp tham gia
cung cấp dịch vụ - tạo ra một nghề mới trong xã hội, góp phần thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá phát triển, minh bạch hoá quy định về thủ tục
hải quan, chuyên nghiệp hoá khai báo hải quan theo hƣớng chính quy, hiện
đại và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ở Việt Nam, khái niệm đại lý hải quan đƣợc xuất hiện lần đầu tiên tại
Luật Hải quan 2001. Mặc dù có hiệu lực từ 01/01/2002 nhƣng mãi đến ngày
16/06/2005 Chính Phủ mới ban hành Nghị định số 79/2005/NĐ-CP (đã đƣợc
thay thế bởi Nghị định số 14/2011/NĐ-CP) quy định về điều kiện đăng ký và
hoạt động của đại lý hải quan, Bộ Tài chính ban hành Thông tƣ 73/2005/TT-
BTC hƣớng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 79/2005/NĐ-CP. Có thể
nói, hệ thống văn bản pháp luật trên bƣớc đầu đã tạo cơ sở pháp lý cho Đại lý
hải quan phát triển, hoạt động có hiệu quả và có tính chuyên nghiệp. Tuy
nhiên, trong một thời gian dài, đã có không ít các nhà kinh doanh, các doanh
nghiệp còn chƣa hiểu đúng và chƣa biết sử dụng các dịch vụ của Đại lý hải
quan, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp Việt Nam đã không thành công hoặc không thu đƣợc

trở thành đại lý khai thuê và chƣa xây dựng đƣợc một cơ chế thực sự ƣu tiên, tạo
- 3 -
thuận lợi cho hoạt động của đại lý hải quan phát triển. Việc nghiên cứu về pháp
luật về đại lý hải quan một cách thấu đáo sẽ tạo hành lang pháp lý đầy đủ, phù
hợp với thông lệ quốc tế một cách đúng đắn và đem lại hiệu quả thiết thực cho
việc triển khai hoạt động đại lý hải quan.
Thứ ba là thông qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng những quy định
pháp luật về đại lý hải quan mà các nƣớc trên thế giới đang sử dụng và so
sánh với tình hình áp dụng pháp luật về đại lý hải quan ở Việt Nam để đƣa ra
những nhận xét và đề xuất phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật Việt Nam
trong việc điều chỉnh lĩnh vực này.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đại lý hải quan là một trong những vấn đề quan trọng của Pháp luật hải
quan. Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề này chƣa đƣợc chú trọng quan tâm đúng
mức. Hầu hết chỉ có một số bài báo nghiên cứu về đại lý hải quan, ví dụ nhƣ:
Tác giả Trƣờng Sơn (2008), “Đại lý làm thủ tục hải quan: cần hành
lang pháp lý phù hợp để nhân rộng”, Báo điện tử Thời báo kinh tế Việt Nam,
Hà Nội.
Tác giả Đỗ Thanh Quang (2010),“Suy nghĩ về mô hình dịch vụ môi giới
khai thuê hải quan của hiệp hội môi giới hải quan quốc tế (IFCBA); Báo điện
tử Hải quan Việt Nam, Hà Nội.
Tác giả Song Linh (2010), “Tiếp sức để đại lý làm thủ tục hải quan
phát huy hiệu quả, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, Hà Nội.
Tác giả Nguyễn Hà (2012), “Phát triển đại lý hải quan - một nhu cầu
cấp thiết”, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, Hà Nội
Tác giả Phan Công Sơn (2014), chuyên đề về “Đại lý hải quan”, Báo
Hải quan, Hà Nội.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều tập trung phân tích, làm rõ
một số khía cạnh của vấn đề đại lý hải quan, chƣa có công trình nghiên cứu
- 4 -

- Làm rõ các đặc điểm, ý nghĩa, nội dung của đại lý hải quan và cơ sở
của việc quy định hoạt động này
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật về đại
lý hải quan và thực tiễn áp dụng
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện những
quy định của pháp luật về đại lý hải quan
6. Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 03 chƣơng với bố cục nhƣ sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về đại lý hải quan
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về đại lý hải quan ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại lý
hải quan ở Việt Nam.

- 6 -
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI LÝ HẢI QUAN

1.1. Những vấn đề lý luận chung
1.1.1. Khái niệm về đại lý hải quan
- Khái niệm về Đại lý
Trong quá trình phát triển kinh tế, các hoạt động thƣơng mại diễn ra ngày

về bất cứ hành vi vi phạm nào” [Chuẩn mực 8.2].
Theo định nghĩa của Công ƣớc Kyoto thì bên thứ ba là bất cứ ngƣời
nào giao dịch trực tiếp với cơ quan hải quan, vì lợi ích và thay mặt cho một
ngƣời khác, liên quan đến việc nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển hay lƣu kho
hàng hoá. Nhƣ vậy, bên thứ ba có thể là đại lý hải quan, ngƣời giao nhận
hàng, ngƣời vận chuyển đa phƣơng thức và họ có thể thay mặt chủ hàng
thực hiện một hoặc một số giao dịch với cơ quan hải quan.
- Khái niệm về đại lý hải quan
Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, các hoạt động thƣơng mại phát triển
phong phú, đa dạng và đan xen lẫn nhau. Việc một thƣơng nhân, chỉ bằng
năng lực của mình, thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình giao lƣu
thƣơng mại ngày càng trở nên hạn hữu. Các thƣơng nhân có thể tự mình thực
hiện tất cả các công đoạn trên nhƣng do không có năng lực chuyên môn mà
việc tự tiến hành các hoạt động phụ trợ làm phát sinh nhiều chi phí cho họ. Để
giảm chi phí sản xuất, các thƣơng nhân này có nhu cầu sử dụng những dịch
vụ khác nhau, vì vậy, dịch vụ Logistics ra đời và ngày càng khẳng định đƣợc
vai trò quan trọng của mình trong lƣu thông hàng hoá. Dịch vụ này là một
hoạt động thƣơng mại có nội dung rất đa dạng bao gồm các công việc nhƣ
- 8 -
nhận hàng từ ngƣời gửi để tổ chức việc vận chuyển, đóng gói bao bì, ghi kí
mã hiệu, làm thủ tục hải quan, làm thủ tục gửi giữ hàng hoá
Là một nội dung trong chuỗi dịch vụ Logistics, đại lý hải quan là một
loại hình dịch vụ tuy rất mới mẻ nhƣng cũng đóng vai trò rất quan trọng đối
với các doanh nghiệp, ngành Hải quan nói riêng và với nền kinh tế nói chung.
Đối với nhiều quốc gia cũng nhƣ với Việt Nam thì đại lý hải quan là một bộ
phận quan trọng không thể thiếu trong quá trình làm thủ tục hải quan, nó
chính là cầu nối giữa cơ quan Hải quan và Doanh nghiệp. Khi đại lý hải quan
hoạt động một cách chuyên nghiệp sẽ giúp cho cơ quan Hải quan nâng cao
đƣợc hiệu quả quản lý đồng thời giúp cho các doanh nghiệp thông quan nhanh
hàng hoá.

đối với chủ hàng cũng yên tâm khi ký hợp đồng với đại lý hải quan, từ đó có
thể giảm thời gian thông quan và giảm thiểu chi phí.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của đại lý hải quan
Dƣới góc độ là một hoạt động thƣơng mại, đại lý hải quan có những
đặc điểm sau:
- Đại lý hải quan là hoạt động thương mại phát sinh giữa người có
hàng hoá xuất nhập khẩu (chủ hàng) và bên đại lý làm thủ tục hải quan.
Hoạt động đại lý hải quan là một loại hình dịch vụ đặc thù, gắn liền với
hoạt động xuất nhập khẩu. Vì vậy, quan hệ đại lý hải quan cũng chỉ phát sinh trực
tiếp hoặc liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. Và chủ thể của quan hệ này
chính là ngƣời có hàng hóa xuất nhập khẩu (chủ hàng) và bên đại lý hải quan.
Theo Nghị định số 14/2011/NĐ-CP thì đại lý hải quan là thƣơng nhân
và Luật Thƣơng mại năm 2005 quy định: “Thương nhân bao gồm tổ chức
- 10 -
kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [Điều 6].
Chủ hàng là bên có hàng hóa XNK có nhu cầu thuê đại lý hải quan thực
hiện việc khai hải quan và một số công việc liên quan đến thủ tục hải quan
theo hợp đồng. Việc thực hiện này phải thông qua hợp đồng giữa doanh
nghiệp và bên đại lý; Các doanh nghiệp này không những phải cung cấp cho
đại lý hải quan đầy đủ, chính xác các chứng từ, thông tin cần thiết cho việc
làm thủ tục hải quan đối với lô hàng XNK mà còn phải chịu trách nhiệm trƣớc
pháp luật đối với trƣờng hợp cung cấp không chính xác, không đầy đủ các
thông tin, các chứng từ liên quan đến lô hàng, cung cấp các chứng từ không
hợp pháp, hợp lệ cho đại lý hải quan dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật.
- Đại lý hải quan mang đậm đặc trưng của một hình thức đại lý cung
ứng dịch vụ
Đây là sự khác biệt của đại lý làm thủ tục hải quan với việc ủy quyền
cho các doanh nghiệp giao nhận làm thủ tục hải quan cho hàng hóa XNK
trƣớc đây. Nếu ngƣời đƣợc doanh nghiệp XNK ủy quyền làm thủ tục hải quan

+ Ngày hiệu lực của hợp đồng và ngày hết hạn.
+ Tên hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện.
+ Địa điểm thực hiện
+ Bên ủy thác và bên có liên quan trong hợp đồng.
+ Quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác.
+ Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý làm thủ tục hải quan.
+ Thù lao và chi phí hoạt động.
+ Thanh toán (tổng số tiền thanh toán và phƣơng thức thanh toán).
+ Thanh lý hợp đồng đại lý làm thủ tục hải quan.
- 12 -
+ Chữ ký của các bên ủy thác và đại lý làm thủ tục hải quan.
Đại lý hải quan cũng giống nhƣ các hoạt động dịch vụ thƣơng mại
khác. Vì vậy, quá trình phát sinh, thay đổi và chấm dứt hợp đồng đại lý hải
quan đƣợc áp dụng theo pháp luật Thƣơng mại.
- Trong hoạt động đại lý hải quan, bên Đại lý chịu sự giám sát, quản lý
trực tiếp từ cơ quan Hải quan.
Pháp luật và thực tiễn hoạt động quản lý đại lý hải quan ở các nƣớc
trên thế giới cũng nhƣ tại nƣớc ta cho thấy, cơ quan Hải quan là đơn vị giám
sát, quản lý hoạt động của các đại lý hải quan. Cơ quan Hải quan quản lý hoạt
động của các đại lý thông qua việc đăng ký đại lý làm thủ tục hải quan, cấp
thẻ nhân viên đại lý, tổ chức thi chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan nghiệp vụ
khai hải quan, khen thƣởng đối với các đại lý chấp hành, có thành tích tốt
trong việc thực hiện pháp luật hải quan và xử phạt đối với các đại lý hải quan
có hành vi vi phạm pháp luật hải quan.
1.1.3. Phân loại đại lý làm thủ tục hải quan
Theo tiêu chí nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng hóa, có thể phân đại lý
hải quan thành các loại nhƣ sau:
- Đại lý hải quan xuất khẩu hàng hóa:
Là thƣơng nhân thay mặt ngƣời có hàng hóa xuất khẩu tiến hành các
thủ tục hải quan tại nƣớc xuất khẩu để đƣa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ của nƣớc

Thông thƣờng trong trƣờng hợp này, đại lý hải quan có thể làm thủ tục
hải quan cho riêng lô hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu tƣơng tự nhƣ đại lý hải
quan xuất khẩu hàng hóa và đại lý hải quan nhập khẩu hàng hóa, tuy nhiên,
cùng có nhiều trƣờng hợp hợp đồng mua bán có điều kiện giao hàng tại một
địa điểm do ngƣời mua chỉ định tại nƣớc xuất khẩu hoặc giao đến tận nhà
- 14 -
máy, chân công trình hoặc một địa điểm cụ thể do ngƣời mua chỉ định tại
nƣớc nhập khẩu và đại lý hải quan sẽ phải thay mặt chủ hàng để làm thủ tục
hải quan xuất khẩu tại nƣớc xuất khẩu và sau đó phải làm thủ tục nhập khẩu
hàng hóa tại nƣớc nhập khẩu.
- Đại lý hải quan đối với hàng hóa XNK và giao nhận hàng hóa hàng
hóa XNK:
Nhƣ đúng tên gọi của loại này, thì thƣơng nhân này vừa thực hiện công
việc thủ tục hải quan đối với cả hàng hóa XK, hàng hóa NK và làm dịch vụ
giao nhận hàng hóa XNK.
Trong các loại thƣơng nhân làm đại lý hải quan nêu trên thì loại hình
này là phổ biến nhất, đƣợc nhiều doanh nghiệp XNK sử dụng, ký kết hợp
đồng thực hiện. Bởi vì khi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XNK hàng
hóa, ký hợp đồng với đại lý hải quan, đều có yêu cầu doanh nghiệp đại lý thay
họ tiến hành các việc để NK hoặc XK hàng hóa và đƣa hàng hóa đó đến nơi
theo yêu cầu của mình.
Trong hoạt động thƣơng mại, đại lý hải quan là ngƣời có thể đứng tên
trong hợp đồng. Tuỳ theo mối quan hệ mà đại lý hải quan có thể đƣợc nhà
xuất khẩu/nhập khẩu uỷ thác có thể đứng tên trong hợp đồng mua bán hàng
hoá và nhƣ vậy đại lý hải quan đã trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Về mối quan hệ giữa đại lý hải quan và ngƣời ủy thác là mối quan hệ
hợp đồng dài hạn và chỉ đƣợc chấm dứt khi có thỏa thuận trong hợp đồng, hay
đƣợc một hoặc cả hai bên có ý muốn chấm dứt bằng việc thông báo cho phía
bên kia bằng văn bản, hoặc đã đƣợc nêu rõ trong hợp đồng giữa hai bên.

giới cũng mang tính đặc thù, phát triển đa dạng và chuyên nghiệp. Có thể nói,
- 16 -
hoạt động kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan không chỉ phát triển trên bình
diện quốc gia mà còn đƣợc phát triển trên toàn thế giới.
Nhìn chung, đại lý hải quan ở các nƣớc có một số đặc điểm giống nhau,
đó là: (1) Đƣợc luật quy định tƣơng đối chặt chẽ trong các văn bản pháp luật; (2)
Đáp ứng đủ những điều kiện cần thiết, đặc biệt là điều kiện về trình độ nghiệp vụ
của nhân viên làm đại lý với quy trình đào tạo và sát hạch bắt buộc; (3) Phải có
hệ thống sổ sách và tài liệu lƣu trữ bắt buộc rõ ràng, đúng quy định.
1.2.2. Sự hình thành và phát triển đại lý hải quan ở Việt Nam
- Giai đoạn mở đầu (trước năm 2005)
Trong thời kỳ nhà nƣớc thực hiện chính sách độc quyền ngoại thƣơng,
đại lý hải quan không có điều kiện để hoạt động. Từ khi đất nƣớc thực hiện
công cuộc đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Luật Hải quan sửa đổi, hoạt động
thƣơng mại ở Việt Nam ngày càng đƣợc mở rộng, hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá tăng nhanh, thì hoạt động của đại lý hải quan mới bắt đầu có
điều kiện để phát triển. Luật Thƣơng mại ra đời ngày 23-5-1997 và có hiệu
lực từ ngày 1-1-1998, đã luật hóa phạm vi điều chỉnh các hoạt động mua bán
và các hoạt động dịch vụ thƣơng mại. Để hƣớng dẫn thực hiện Luật Thƣơng
mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31-7-1998, quy
định rõ hoạt động của ngƣời trung gian trong lĩnh vực thƣơng mại. Để đáp
ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tháng 6-2005 Luật Thƣơng mại
mới đã đƣợc Quốc hội thông qua, mở rộng hơn phạm vi điều chỉnh sang cả
các lĩnh vực khác nhƣ vận tải, bảo hiểm, thủ tục hải quan.
Trong giai đoạn này hoạt động đại lý hải quan ở Việt Nam không ổn
định. Pháp lệnh Hải quan ngày 20 tháng 2 năm 1990 và Nghị định 171/HĐBT
ngày 27 tháng 5 năm 1991 đã cho phép ngƣời thứ ba thay mặt chủ hàng khai
báo hải quan; Ngày 8/4/1999 Tổng cục Hải quan đã ban hành Quy chế tạm
thời về dịch vụ thủ tục hải quan và đƣợc luật hoá trong Luật Hải quan ngày
- 17 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status