LỜI MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế phát triển thì các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
rơi vào tình trạng.quá tải! Công tác quy hoạch đô thị ngày càng trở nên khó khăn hơn,
trong đó giải phóng mặt bằng là cả một vấn đề. Hơn nữa, để phát triển một đô thị văn
minh, hiện đại trong tương lai càng không phải là chuyện dễ. Hiện nay, tỷ lệ đô thị
hóa ở nước ta đang diễn ra rất nhanh, cụ thể chỉ từ 19,5% của năm 1990 đã tăng lên
gần 27% vào năm 2005. Đô thị phát triển nhanh, kéo theo thị trường bất động sản
biến động lớn. Bên cạnh những khó khăn đặt ra trong quá trình đổi mới trên nhiều
lĩnh vực, thì đô thị ở Việt Nam cũng đang phải đối diện với nhiều thách thức không
nhỏ. Đó là tỷ lệ người dân ở nông thôn nhập cư vào đô thị ngày càng lớn, tạo ra áp
lực về nhà ở và hạ tầng. Theo Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu
đô thị và phát triển hạ tầng thì hiện đô thị cả nước có khoảng 25% nhà ở thuộc diện
chưa đạt tiêu chuẩn. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 300.000 người
sống trong các khu nhà ổ chuột, còn ở Hà Nội có khoảng 30% số dân có diện tích ở
không quá 3m2/người. Tính bình quân trên cả nước, mật độ dân cư ở đô thị tới gần
240 người/ha, tức bình quân mỗi người chỉ có khoảng 42m2, trong khi mức tối thiểu
đạt chuẩn phải là 100m2. Về nước sạch, chỉ có 50% dân cư đô thị có nước máy đạt
chuẩn; chưa có đô thị nào có hệ thống xử lý nước thải, rác thải chất đống trong kênh
rạch, ao hồ ngày càng gây ô nhiễm nặng. Cùng với những bất cập trên là tình trạng
kẹt xe, ô nhiễm không khí do hạ tầng bị quá tải trầm trọng…
Với mục đích tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, Nhà nước đã thực sự
quan tâm đến hoạt động đầu tư xây dựng thông qua việc ban hành hàng loạt các văn
bản nhằm thống nhất quản lý hoạt động đầu tư xây dựng.
Để sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư của xã hội, đáp ứng những đòi hỏi về
tiến độ thi công, cũng như nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm của các
bên trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phát huy tối đa vai trò tự
chủ, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng, trong
lĩnh vực xây dựng cơ bản đã xuất hiện phương thức mới là đấu thầu.
Phương thức đấu thầu đã được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới. Tại Việt
Nam phương thức này chỉ mới xuất hiện nhưng nó đã thể hiện là một phương thức
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ở nước ta, pháp luật về đấu thầu
Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) là Tổng công ty kinh doanh
đa dạng hoá ngành nghề, mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất kinh doanh với cơ cấu
ngành nghề chính là đầu tư, xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp…
2
Ngoài những ngành nghề đã có và đang đầu tư xây dựng như khu đô thị, khu công
nghiệp, đường giao thông, các khu công nghiệp, dân dụng, nhà ở…sẽ tham gia đầu tư
xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật lớn như cầu_hầm_đường bộ quốc gia, công
trình cáp điện trung cao thế…UDIC bao gồm 27 công ty kể cả bộ máy sản xuất của
Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị.Trong đó có 5 công ty thành viên trong
nước và 5 Công ty liên doanh với nước ngoài đã tổng hợp được sức mạnh về vốn,
kinh nghiệm quản lí, thi công cùng đội ngũ cán bộ quản lí, kỹ sư, cử nhân và công
nhân nhiệt huyết, kinh nghiệm, có trình độ tay nghề cao với hoạt động sản xuất kinh
doanh cùng hệ thống chất lượng ISO đã tạo nên những sản phẩm tốt cả lượng và chất
có uy tín trên thị trường đóng góp vào sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững của thủ
đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Qua quá trình thực tập tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, nhận
thức rõ vấn đề quan trọng của Pháp luật về đấu thầu xây lắp trong lĩnh vực xây dựng
nói riêng và trong nền kinh tế của đất nước nói chung, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật
về đấu thầu xây lắp và thực tiễn áp dụng tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ
tầng đô thị”.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lí luận chung về đấu thầu và đấu thầu xây lắp.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu xây lắp tại Tổng Công ty Đầu
tư phát triển hạ tầng đô thị .
Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đấu thầu xây lắp và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về đấu thầu xây lắp tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ
tầng đô thị.
Chương 1
3
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU
- Các nhà thầu có tư cách thương nhân khi thực hiện hoạt động dự thầu;
1
Từ điển Tiếng Việt phổ thông. Viện ngôn ngữ học NXB Hồ Chí Minh 2002, tr 270
2
Từ điển Tiếng Việt, Vĩnh Tịnh, NXB Lao Động 2006, tr 318
4
- Hoạt động đấu thầu được thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận hoặc nhằm thực
hiện các chính sách kinh tế_xã hội;
- Đối tuợng của đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là các loại hàng hoá thương mại được
phép lưu thông và các dịch vụ thương mại được phép thực hiện theo quy định của
pháp luật;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu được xác lập thông qua
những hình thức pháp lí nhất định do pháp luật quy định.
Tuy nhiên, đấu thầu có những đặc điểm đặc thù so với các hoạt động thương mại
khác:
- Thứ nhất, đấu thầu là một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể
Trong quan hệ đấu thầu các chủ thể tham gia đấu thầu có thể bao gồm: chủ đầu tư,
bên mời thầu, nhà thầu, tổ chuyên gia, tổ chức tư vấn. Trong đó:
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu,
người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án đấu thầu.
Bên mời thầu là bên có khả năng cung cấp hàng hoá, dịch vụ nhưng không phải
bất kì chủ thể nào cũng trở thành bên dự thầu. Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ
chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức
đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu.
Nhà thầu là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định của pháp luật về
đấu thầu. Chỉ những chủ thể có năng lực thực hiện và không ở trong diện bị loại trừ
theo các tiêu chuẩn do bên mời thầu đặt ra mới có quyền trở thành bên tham dự thầu.
Tổ chuyên gia đấu thầu: Tuỳ theo tính chất và mức độ phức tạp của gói thầu,
thành phần tổ chuyên gia đấu thầu bao gồm các chuyên gia về lĩnh vực kỹ thuật, tài
chính, thương mại, hành chính, pháp lý và các lĩnh vực có liên quan. Thành viên tổ
Ngoài ra, khi tham gia đấu thầu nhà thầu phải có bảo lãnh dự thầu
Đây là việc nhà thầu đặt một khoản tiền mặt, séc hoặc bảo lãnh của ngân hàng để
đảm bảo trách nhiệm của nhà thầu trong việc dự thầu. Mục đích của bảo lãnh dự thầu
là nhằm bảo đảm nhà thầu không thay đổi và huỷ bỏ việc tham gia đấu thầu giữa
chừng đồng thời loại bỏ những nhà thầu không nghiêm túc. Số tiền bảo lãnh sẽ được
trả lại cho những nhà thầu không trúng thầu trong một thời hạn nhất định. Việc bảo
lãnh thường do một ngân hàng thực hiện và ngân hàng phải lập giấy cam kết bảo lãnh
kèm theo hồ sơ dự thầu.
2. Phân loại đấu thầu
2.1.Theo hình thức lựa chọn nhà thầu
Đấu thầu được chia làm 7 loại
• Đấu thầu rộng rãi
4
Điều 4 khoản 13 Luật đấu thầu 2005
6
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các
phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Hình thức đấu
thầu này có ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực
trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực cạnh
tranh, mang lại hiệu quả cao cho dự án.
• Đấu thầu hạn chế
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối
thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có
thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận. là đấu thầu công khai, phải minh
bạch. Trong trường hợp thực tế chỉ có ít hơn 5, Bên mời thầu phải báo cáo chủ dự án
trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu
hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác. Chủ dự án quyết định danh sách nhà
thầu tham dự trên cơ sở đánh giá của Bên mời thầu về kinh nghiệm và năng lực các
nhà thầu, song phải đảm bảo khách quan, công bằng và đúng đối tượng. Hình thức
Hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị dưới
2 tỷ đồng. Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường
với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá và tương đương nhau về chất lượng.
Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng
đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác. Đối với mỗi gói thầu phải có tối
tiểu ba báo giá từ ba nhà thầu khác nhau.
• Mua sắm trực tiếp
Được áp dụng khi hợp đồng đôí với gói thầu có nội dung tương tự được kí trước
đó không quá sáu tháng.
Khi thực hiện mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa chọn
thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự.
Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không
được vượt đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã kí hợp
đồng trước đó.
Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một
dự án hoặc thuộc dự án khác.
• Tự thực hiện
Hình thức này chỉ được áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực
và kinh nghiệm để thực hiện gói thàu thuộc dự án do mình quản lý sử dụng.
• Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
8
Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa
chọn nhà thầu khác thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm
mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết
định.
2.2. Theo phương thức đấu thầu
Đấu thầu được chia làm 3 loại
• Đấu thầu một túi hồ sơ
Là phương thức mà nhà thầu khi dự thầu nộp các đề xuất về kĩ thuật và về đề xuất
tài chính trong một túi hồ sơ để bên mời thầu xem xét và đánh giá chung. Phương
cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn.
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình lựa chọn nhà tư vấn có đủ trình độ và kinh
nghiệm để giúp đỡ, tư vấn cho chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị đầu tư và thực
hiện đầu tư.
Dịch vụ tư vấn bao gồm:
- Dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án gồm có lập, đánh giá báo cáo quy hoạch, tổng sơ
đồ phát triển, kiến trúc, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cúu khả thi;
- Dịch vụ tư vấn thực hiện dự án gồm có khảo sát, lập thiết kế, tổng dự toán và dự
toán, lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, giám sát thi công xây dựng và lắp
đặt thiết bị;
- Dịch vụ tư vấn điều hành quản lý dự án, thu xếp tài chính, đào tạo, chuyển giao
công nghệ và các dịch vụ tư vấn khác.
Nhà tư vấn không tham gia đánh giá kết quả công việc do mình thực hiện và không
được tham gia đấu thầu thực hiện các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp do mình làm
tư vấn (trừ các gói thầu thực hiện theo loại hợp đồng chìa khoá trao tay).
• Đấu thầu mua sắm hàng hóa
Đấu thầu mua sắm hàng hoá là quá trình lựa chọn nhà thầu cung ứng hàng hoá đáp
ứng được yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở có sự cạnh tranh giữa các nhà cung
cấp. Hàng hoá ở đây có thể là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng và các dich vụ không phải là dịch vụ tư vấn
• Đấu thầu xây lắp
Đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện những công việc thuộc
quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình. Những
quy định pháp luật cụ thể về đấu thầu xây lắp sẽ được trình bày cụ thể ở những phần
sau.
10
2.4. Theo quốc tịch của nhà thầu
Đấu thầu được chia làm 2 loại
• Đấu thầu trong nước: Là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu
cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu trong nước.
Điều 4, Khoản 18 Luật đấu thầu 2005
6
Điều 4, Khoản 19 Luật đấu thầu 2005
11
vật chất, tiền vốn tiêu hao, số lao động tham gia vào quá trình sản xuất lớn gấp nhiều
lần các loại sản phẩm thuộc lĩnh vực khác, một công trình có nhiều ngành nghề và tổ
chức cùng tham gia.
- Thời gian hoàn thành công trình lại dài, khi đã thực hiện các bước như chuẩn bị
đầu tư, chuẩn bị xây dựng…thì không thể dễ dàng thay đổi, đình hoãn. Điều đó
chứng tỏ xây dựng cơ bản là một quá trình sản xuất phức tạp, đa dạng có tác dụng
cũng như hậu quả lâu dài về sau. Quy mô của công trình càng lớn thì mối quan hệ với
các ngành, lĩnh vực càng phức tạp và có tác động lớn đến việc phân bố lại lực lượng
sản xuất và dân cư, tác động đến môi sinh, môi trường và cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật
khác. Vì thế việc áp dụng đấu thầu trong xây dựng cơ bản không những phải đạt
được tiêu chuẩn một công trình với giá thành rẻ, chất lượng cao mà còn phải đặt
trong tổng thể phát triển của nền kinh tế xã hội.
1.2. Quá trình phát triển của pháp luật về đấu thầu xây lắp
Pháp luật về đấu thầu xây lắp là tổng hợp các Quy phạm pháp luật điều chỉnh
những quan hệ hình thành trong hoạt động đấu thầu xây lắp của tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước tham gia hoạt động đấu thầu xây lắp.
Vào cuối những năm 30 và đầu những năm 40 cùng với sự phát triển của thị
trường kinh tế tư bản trên nhiều lĩnh vực, đòi hỏi chế độ bán đấu giá cũng phải được
áp dụng rộng rãi. Nhưng bán đấu giá chưa có đủ cơ sở để thực hiện trong lĩnh vực
đặc thù riêng như: chuyển giao công nghệ, xây dựng cơ bản…do vậy đấu thầu ra đời.
Việc ra đời của pháp luật về đấu thầu nói chung cũng như đấu thầu xây lắp nói riêng
là một tất yếu khách quan. Có thể khái quát quá trình phát triển của pháp luật về đấu
thầu xây lắp qua các giai đoạn sau:
• Giai đoạn trước khi có Quy chế đấu thầu ban hành kèm Nghị định 43/CP của
Chính phủ ban hành ngày 16/07/1996
Ở Việt nam từ 1988 trở về trước, quá trình đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện
Nói chung Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-
VKT còn mang nặng tính quản lý về mặt hành chính Nhà nước. Bốn năm sau ngày
ban hành Quy chế này, thực hiện cải tiến công tác đơn giá, dự toán nhằm chống lãng
phí, thất thoát và tiêu cực trong đầu tư và xây dựng theo Quyết định số 92-TTg ngày
7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ xây dựng đã ban hành Quy chế đấu thầu
trong xây lắp kèm theo Quyết định số 60-BXD/VKT ngày 30/3/1994. Quy chế này
thay thế Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT
ngày 12/2/1990. Đây là một bước tiến rõ rệt của việc điều chỉnh công tác đấu thầu
13
trong xây dựng ở Việt Nam giai đoạn này. Quy chế gồm 32 điều, quy định một cách
rõ ràng, chi tiết đấu thầu trong xây dựng. Các quy định của quy chế mở rộng hơn
hình thức đấu thầu, phạm vi các công trình cần đấu thầu và quy định cụ thể quyền và
nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu. Tuy vậy, trình tự đấu thầu chưa được quy định
cụ thể. Việc quản lý hồ sơ được quy định ở mức độ chưa cao, chưa đảm bảo được
nguyên tắc bảo mật của đấu thầu. Quy chế chỉ quy định hai hình thức đấu thầu rộng
rãi và đấu thầu hạn chế mà chưa có chỉ định thầu.
Có thể nói hai quy chế đấu thầu ra đời trong điều kiện nền kinh tế vừa thoát khỏi
cơ chế quản lý cũ nên khó có thể thoát khỏi các dấu ấn của quản lý hành chính. Các
quy định chưa bao quát được hết tình hình thực tế, chưa theo kịp sự phát tiển của nền
kinh tế. Do đó, chỉ hai năm sau Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/1996/NĐ-CP
ngày 17/07/96 về thủ tục đấu thầu, trong đó dành hẳn một chương cho đấu thầu trong
xây dựng.
Nghị định số 43/1996/NĐ-CP ra đời đã đánh dấu một bước tiến lớn với nhiều
điểm tiến bộ hơn hẳn so với các văn bản ra đời trước đây quy định về đấu thầu trong
xây dựng. Nghị định này đã quy định một cách tương đối đầy đủ trình tự, thủ tục, các
bước tiến hành cho một cuộc đấu thầu, hình thức chỉ định thầu được pháp luật quy
định đã có sự tương quan, liên hệ với các nguyên tắc của đấu thầu quốc tế. Tuy
nhiên, Nghị định số 43/CP vẫn chưa quy định đầy đủ quá trình mở thầu trong khi đó
lại có nhiều điều khoản về các đặc quyền của doanh nghiệp nhà nước khi tham gia
đấu thầu. Một năm sau ngày Nghị định ra đời, kết quả khảo sát về ảnh hưởng của
42/2000/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 nhằm sửa đổi, bổ sung 8 điều của Nghị
định số 88/1999/NĐ-CP, trong đó nội dung chính là nhằm quy định rõ các trường
hợp mà bên chủ đầu tư có thể chọn phương thức chỉ định thầu. So với các nghị định
trước đó, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP có những điểm mới dành cho đấu thầu xây
lắp đáng lưu ý là phương pháp “gía đánh giá” phù hợp với các quy định về đấu thầu
trên thế giới; quy định mốc tối đa và tối thiểu đối với một số khâu chủ yếu của quá
trình đấu thầu; cho phép tổ chức đấu thầu quốc tế khi không có nhà thầu Việt Nam
nào đáp ứng yêu cầu gói thầu, nhà thầu quốc tế cam kết sử dụng nhà thầu phụ Việt
Nam; điều kiện dự thầu phải có trụ sở chi nhánh ở địa phương tham gia đấu thầu,
hình thức chỉ định thầu được mở rộng hơn.
Mặc dù Nghị định số 14/2000/NĐ-CP đã có nhiều sửa đổi quan trọng nhưng vẫn
chưa theo kịp sự phát triển của nề kinh tế. Vì vậy, ngày 12 tháng 6 năm 2003 Chính
phủ ban hành Nghị định số 66/2003/NĐ-CP trong đó quy chế đấu thầu lại một lần
15
nữa được sửa đổi, bổ sung. Nghị định này đã chi tiết, cụ thể hoá hơn nữa các quy
định của pháp luật về đấu thầu xây lắp.
• Giai đoạn áp dụng Luật đấu thầu ngày 29.11.2005 và Nghị định số
58/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/5/2008. (Giai đoạn hiện hành)
Cùng một lúc, Nghị định 111/2006/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu
và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng và Nghị định 112/2006/NĐ-CP
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình đã được ban hành, tạo nên một hệ thống các quy phạm pháp
luật thống nhất áp dụng chung cho hoạt động đấu thầu. Điều đáng nói là Nghị định số
111/2006/NĐ-CP đã tạo được bước đột phá đáng kể trong việc hài hoà các quy định
khác nhau trong Luật Đấu thầu và Luật Xây dựng. Hơn thế, với những kế thừa các
nội dung tiên tiến trong Quy chế Đấu thầu trước đây, đồng thời đưa ra được những
cải cách đáng kể, sự thống nhất trong quy định về đấu thầu đang được trông đợi sẽ
đưa các hoạt động đấu thầu vào vận hành một cách nhẹ nhàng, trơn tru và hiệu quả
hơn. Tuy nhiên việc áp dụng Nghị định này cho đến nay vẫn còn nhiều bất cập gây
khó khăn cho các nhà thầu tham gia đấu thầu .
định này được thực hiện từ ngày 01/4/2009. Các nhà thầu được coi là độc lập với
nhau nếu đáp ứng 2 điều kiện: không cùng thuộc một cơ quan nhà nước, đơn vị lực
lượng vũ trang nhân dân ra quyết định thành lập, trừ các nhà thầu là doanh nghiệp đã
chuyển đổi và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005; Không có cổ phần hoặc
vốn góp trên 30% của nhau. Quy định này cũng được thực hiện từ ngày 01/4/2009.
Việc xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu cũng được quy định chi tiết, theo đó,
mức phạt tiền từ 5-50 triệu đồng. Hành vi đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất,
thẩm định, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu không căn cứ vào các yêu cầu của hồ
sơ mời thầu; các hành vi vi phạm dẫn đến phải tổ chức đấu thầu lại… có mức phạt
tiền từ 5 đến 30 triệu đồng.
Mức phạt từ 20 đến 50 triệu đồng nếu thực hiện các hành vi sau: dàn xếp, thông
đồng giữa tất cả nhà thầu, giữa nhà thầu với chủ đầu tư…; người phê duyệt kết quả
lựa chọn nhà thầu làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu dẫn đến phải huỷ đấu thầu
hoặc lựa chọn nhà thầu không đủ năng lực…; Nhà thầu thực hiện hợp đồng xây lắp,
cung cấp hàng hoá thông đồng với nhà thầu tư vấn giám sát, cơ quan, tổ chứ nghiệm
thu để xác nhận sai về chất lượng, khối lượng của công trình, hàng hoá…
2. Các nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu xây lắp
Hoạt động đấu thầu cũng đòi hỏi phải có những nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc
trong đấu thầu là những tư tưởng chỉ đạo được rút ra từ những quy định của pháp luật
17
về đấu thầu do tổ chức có thẩm quyền ban hành buộc các bên tham gia quan hệ đấu
thầu phải tuân theo. Đấu thầu xây lắp là một lĩnh vực quan trọng trong nề kinh tế thị
trường. Về cơ bản mọi hoạt động đấu thầu xây lắp cũng phải tuân theo những nguyên
tắc sau:
2.1. Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau
Bản chất của đấu thầu xây lắp cũng là một hoạt động mua bán do đó nó cũng có
yếu tố cạnh tranh cao. Tuy nhiên tính cạnh tranh phải tuân theo nguyên tắc nhất định.
Cụ thể: Mỗi gói thầu phải có sự tham dự của một số lượng nhà thầu nhất định có đủ
năng lực, đủ để đảm bảo sự cạnh tranh giữa các nhà thầu. Những điều kiện mà bên
mời thầu đưa ra và những thông tin cung cấp cho các nhà thầu phải ngang nhau,
2.5. Nguyên tắc bảo đảm dự thầu
Trong quá trình đấu thầu vì một lí do nào đó mà các nhà thầu có thể gây cản trở
cho quá trình đấu thầu như: Rút lại hồ sơ dự thầu, khi trúng thầu không thực hiện hợp
đồng…Do đó phải có nguyên tắc bảo đảm dự thầu. Bảo đảm dự thầu được thực hiện
dưới hình thức đặt cọc, kí quỹ hoặc bảo lãnh dự thầu. Các bên dự thầu đều phải thực
hiện việc bảo đảm dự thầu theo yêu cầu của bên mời thầu để bảo đảm tư cách, năng
lực của bên dự thầu trong những trường hợp cần thiết.
3. Phạm vi và đối tượng áp dụng đấu thầu xây lắp
3.1. Phạm vi áp dụng
Theo quy định tại Điều 1 Luật đấu thầu 2005 thì đấu thầu xây lắp được áp dụng để
lựa chọn nhà thầu cho các dự án đầu tư tại Việt nam và phải được tổ chức đấu thầu,
thực hiện tại Việt Nam. Đó là các dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho
mục tiêu đầu tư phát triển bao gồm các dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở
rộng các dự án đầu tư xây dựng.
3.2. Đối tượng áp dụng
Theo quy định tại Điều 2 Luật đấu thầu 2005 đấu thầu xây lắp áp dụng với các chủ
thể sau:
1. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động đấu thầu các gói
thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 Luật đấu thầu 2005
2. Tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đấu thầu các gói thầu thuộc các dự án
quy định tại Điều 1 Luật đấu thầu 2005
3. Tổ chức, cá nhân có dự án không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu
áp dụng lựa chọn Luật đấu thầu.
4. Phương thức, hình thức, điều kiện thực hiện đấu thầu xây lắp
19
4.1.Phương thức thực hiện đấu thầu xây lắp
Theo quy định tại điều 26_Luật đấu thầu 2005 đấu thầu nói chung sẽ gồm 3
phương thức:
- Đấu thầu một túi hồ sơ;
- Đấu thầu hai túi hồ sơ;
Điều 97 Luật xây dựng 2005
8
Điều 9 khoản 1 Luật đấu thầu 2005
20
- Có kiến thức về quản lý dự án;
- Có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của gói thầu theo các lĩnh vực kỹ
thuật, tài chính, thương mại, hành chính và pháp lý;
- Có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu đôí với gói thầu được tổ chức đấu thầu
quốc tế, gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA.
• Đối với Bên dự thầu
Nhà thầu tham gia đấu thầu đối với một gói thầu phải có đủ các điều kiện:
- Có tư cách hợp lệ:
+ Nhà thầu là tổ chức có tư cách hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau
9
:
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư được cấp theo quy
định của pháp luật hoặc có quyết định thành lập đối với các tổ chức không có đăng kí
kinh doanh trong trường hợp là nhà thầu trong nước; có đăng kí hoạt động do cơ
quan có thẩm quyền của nước mà nhà thầu mang quốc tịch cấp trong trường hợp là
nhà thầu nước ngoài;
Hạch toán kinh tế độc lập;
Không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành mạnh,
đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả; đang trong
quá trình giải thể.
+ Nhà thầu là cá nhân có tư cách hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau đây
10
:
Năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật của nước mà cá nhân đó
là công dân;
Đăng kí hoạt động hợp pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ quan có
về điều kiện năng lực đối với từng loại, cấp công trình xây dựng theo quy định của Luật
Xây dựng
Trình tự thực hiện sơ tuyển bao gồm
+ Lập hồ sơ mời sơ tuyển
+ Thông báo mời sơ tuyển;
+ Tiếp nhận và quản lí hồ sơ dự sơ tuyển;
+ Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển;
+ Trình và phê duyệt kết quả sơ tuyển;
+ Thông báo kết quả sơ tuyển;
Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển phải được nêu trong hồ sơ mời sơ tuyển
theo mẫu hồ sơ mời sơ tuyển do Chính phủ quy định bao gồm tiêu chuẩn về năng lực
kỹ thuật, tiêu chuẩn về năng lực tài chính, tiêu chuẩn về kinh nghiệm.
- Lập hồ sơ mời thầu
Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu do Bên mời thầu lập theo mẫu do Chính phủ quy
định
• Căn cứ lập hồ sơ mời thầu
12
:
11
Điều 32 Luật đấu thầu 2005.
12
Điều 23.2 Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008
22
+ Quyết định đầu tư và các tài liệu là cơ sở để quyết định đầu tư; Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư;
+ Kế hoạch đấu thầu được duyệt;
+ Tài liệu về thiết kế kèm theo tổng dự toán, dự toán được duyệt (đối với gói thầu
xây lắp);
+ Các quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật có liên
quan; Điều ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận quốc tế (nếu có) đối với các dự án
+ Không có bảo đảm dự thầu hoặc có bảo đảm dự thầu nhưng không hợp lệ: có
giá trị thấp hơn, không đúng đồng tiền quy định, thời gian hiệu lực ngắn hơn, không
nộp theo địa chỉ và thời gian quy định trong hồ sơ mời thầu, không đúng tên nhà thầu
(trường hợp đối với nhà thầu liên danh theo quy định tại Điều 32 Nghị định
58/2008/NĐ-CP), không phải là bản gốc và không có chữ ký hợp lệ (đối với thư bảo
lãnh của ngân hàng, tổ chức tài chính);
+ Không có bản gốc hồ sơ dự thầu;
+ Đơn dự thầu không hợp lệ;
+ Hiệu lực của hồ sơ dự thầu không bảo đảm yêu cầu theo quy định trong hồ
sơ mời thầu;
+ Hồ sơ dự thầu có tổng giá dự thầu không cố định, chào thầu theo nhiều mức
giá hoặc giá có kèm điều kiện gây bất lợi cho chủ đầu tư;
+ Nhà thầu có tên trong hai hoặc nhiều hồ sơ dự thầu với tư cách là nhà thầu
chính (nhà thầu độc lập hoặc thành viên trong liên danh);
+ Không đáp ứng điều kiện về năng lực theo Điều 7 của Luật Xây dựng;
+ Nhà thầu vi phạm một trong các hành vi bị cấm trong đấu thầu theo quy định
tại Điều 12 của Luật Đấu thầu;
+ Các yêu cầu quan trọng khác có tính đặc thù của gói thầu.
Nhà thầu vi phạm một trong các điều kiện tiên quyết quy định trong hồ sơ mời thầu sẽ
bị loại và hồ sơ dự thầu không được xem xét tiếp
+ Yêu cầu về mặt kĩ thuật:
Đối với gói thầu xây lắp bao gồm yêu cầu theo hồ sơ thiết kế kĩ thuật kèm theo
bảng tiên lượng, chỉ dẫn kĩ thuật và các yêu cầu cần thiết khác;
+ Yêu cầu về mặt tài chính, thương mại, bao gồm các chi phí để thực hiện gói
thầu, giá chào và biểu giá chi tiết, điều kiện giao hàng, phương thức giao hàng và
điều kiện thanh toán, nguồn tài chính, đồng tiền dự thầu và các điều khoản nêu trong
điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng.
+ Tiêu chuẩn đánh giá, yêu cầu quan trọng, điều kiện ưu đãi (nếu có), thuế, bảo
hiểm và các yêu cầu khác.
24
ứng cơ bản các yêu cầu của hồ sơ dự thầu so với hồ sơ mời thầu. Loại bỏ hồ sơ dự
thầu không bảo đảm yêu cầu quan trọng của hồ sơ mời thầu
Ở giai đoạn đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu được thực hiện theo quy định sau đây:
14
Điều 33 Luật đấu thầu 2005
15
Điều 35 Luật đấu thầu 2005
25