Quy chế đấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty Sông Đà 1 - Pdf 63

Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế kinh tế thị trường xuất hiện cùng với công cuộc cải cách kinh
tếở Việt Nam đãđược trên 15 năm. Nhờđó nền kinh tếđã thu được những
thành tựu quan trọng bước đầu, tốc độ tăng trưởng được duy trìở mức độ
tương đối cao trong một thời gian dài. Cùng với sự phát triển của đất nước,
hoạt động xây dựng trong những năm gần đây đã có sự chuyển mình vàđang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Ngành xây dựng nước ta đã có những bước phát
triển không ngừng về mọi mặt, trưởng thành nhanh chóng trong mọi lĩnh vực
của hoạt động xây dựng, có thể thiết kế, thi công hoàn thiện nhiều công trình
có quy mô lớn, hiện đại và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng các
công trình công nghiệp, công trình dân dụng và hạ tầng kỹ thuật. Đóng góp
một phần không nhỏ vào thành tích này, ta phải kể đến hoạt động đấu thầu.
Đấu thầu xây dựng là công việc tuy mới được áp dụng ở nước ta từ
năm 1994 nhưng đến nay, qua nhiều bước hoàn thiện đã chứng tỏ phù hợp với
nền kinh tế thị trường, thực sự mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm chi
phíđầu tư xây dựng, thúc đẩy sự hoàn thiện của bản thân Nhà thầu về năng
lực và tổ chức đểđảm bảo các yêu cầu về tiến độ thi công và chất lượng các
công trình. Tuy nhiên, công tác đấu thầu là lĩnh vực tương đối mới nên trong
quá trình thực hiện không tránh khỏi những lúng túng, bất cập thậm chí có
những sai lầm gây thất thoát tài lực của đất nước, đòi hỏi Nhà nước phải tập
trung sự nghiên cứu, cập nhật, đổi mới phương thức phù hợp trong quản lý
vàđiều hành công tác đấu thầu nói chung.
Khi đất nước bước sang thiên niên kỷ mới, Đại hội Đảng IX đã thông
qua một số văn kiện quan trọng đề ra mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trong
những năm tới, thực hiện chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng đểđến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên, trong
thời gian qua, Nhà nước đã xây dựng và ban hành các biện pháp, cơ chế,
1

CHƯƠNGI- NHỮNGVẤNĐỀPHÁPLÝCHUNGVỀ
ĐẤUTHẦU, ĐẤUTHẦUXÂYLẮP
I - KHÁIQUÁTCHUNGVỀĐẤUTHẦU
1- Sự cần thiết phải tiến hành đấu thầu trong hoạt động xây dựng
Khi một dựán đãđược phê duyệt, công việc tiếp theo là triển khai thực
hiện dựán. Để triển khai thực hiện dựán có rất nhiều việc phải làm như: tư
vấn, thiết kế kỹ thuật, thi công, mua sắm thiết bị, xây lắp... Có hai cách để
thực hiện các công việc này:
- Chủ dựán tự mình làm tất cả các công việc của dựán
- Thuê các đối tác bên ngoài
Đối với cách thứ nhất, chủ dựán sẽ tự mình thực hiện toàn bộ dựán
bằng các nguồn lực sẵn có, phát triển những công nghệ sẵn có của mình. Nếu
theo cách thứ hai, chủđầu tư sẽ phải tìm kiếm các đối tác cho các công việc cụ
thể, chi tiết của dựán từ một công ty khác bằng cách sử dụng hình thức đấu
thầu( khi đó chủ dựán sẽ là chủđầu tư và các đối tác tham gia là các Nhà thầu)
để lựa chọn Nhà thầu thích hợp nhất hoặc chủ dựán có thể thoả thuận, thuyết
phục trực tiếp bên đối tác nhất định thực hiện dựán cho mình.
Tuy nhiên trong một nền kinh tế phát triển luôn tồn tại rất nhiều các
doanh nghiệp xây dựng( chính là các đối tác của chủ dựán) có các thế mạnh
và nhược điểm khác nhau, giữa các doanh nghiệp này luôn có sự cạnh tranh
gay gắt. Do đó, chủ dựán có rất nhiều cơ hội lựa chọn cho mình một đối tác
tốt nhất, để lựa chọn được thì chủ dựán nên chọn phương thức đấu thầu. Vậy,
đấu thầu là phương thức cần thiết để lựa chọn những Nhà thầu tốt nhất phù
hợp nhất để thực hiện toàn bộ hay từng phần dựán một cách có hiệu quả. Việc
tiến hành đấu thầu đem lại rất nhiều thuận lợi cho cả ba bên: Nhà nước,
chủđầu tư và Nhà thầu.
Đứng trên phương diện Nhà nước, nhờ cóđấu thầu, Nhà nước đã lựa
chọn được các Nhà thầu đáp ứng yêu cầu cơ bản của chủđầu tư; các cơ quan
3
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty

Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
cạnh tranh gay gắt giữa các Nhà thầu để nhận được dựán cung cấp các sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ từ Bên mời thầu. Vậy đứng trên quan niệm Nhà
thầu và chủ thầu, “đấu thầu” là cuộc “thi tuyển” trong hoạt động xây dựng
giữa các Nhà thầu thoả mãn các yêu cầu của chủ thầu từđó lựa chọn được Nhà
thầu thích hợp nhất.
Một số thuật ngữ liên quan theo Quy chếđấu thầu ban hành kèm theo
Nghịđịnh số 88/1999/NĐ- CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ:
“Dựán” là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công
việc đáp ứng mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó. Dựán bao gồm dựán đầu tư và
dựán không có tính chất đầu tư.
“Người có thẩm quyền” là người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền
theo quy định của pháp luật thuộc tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc doanh
nghiệp.
“Cấp có thẩm quyền” là tổ chức, cơ quan được người có thẩm quyền
giao quyền hoặc uỷ quyền theo quy định của pháp luật.
“ Bên mời thầu ” là chủ dựán, chủđầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp
pháp của chủ dựán, chủđầu tưđược giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu
thầu.
“ Nhà thầu” là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài có năng
lực pháp luật dân sự, đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sựđể
ký kết và thực hiện hợp đồng. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây
lắp; là nhà cung cấp hàng hoá trong đấu thầu mua sắm hàng hoá; là nhà tư vấn
trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn; là nhàđầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác
đầu tư.
“Gói thầu” là toàn bộ dựán hoặc một phần công việc của dựán được
phân chia theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dựán, có quy mô hợp
lýđể bảo đảm tính đồng bộ của dựán. Trong trường hợp mua sắm, gói thầu có
thể là một loại đồ dùng trong thiết bị hoặc phương tiện. Gói thầu được thực

đảm bảo tính cạnh tranh thì quy trình đấu thầu đó sẽ không bao giờ tồn tại
được. Thứ hai, chủđầu tư muốn tiến hành đấu thầu chỉ khi đã xác định được
nguồn vốn để thực hiện dựán, điều này đảm bảo tính minh bạch và tiến độ của
6
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
hoạt động đấu thầu. Yêu cầu thứ ba đặt ra đối với đấu thầu là cả bên mời thầu
và Nhà thầu không được kéo dài thời gian thực hiện đấu thầu, phải luôn bảo
đảm tiến độ, hiệu quả của đấu thầu trong hoạt động xây dựng đồng thời bên
dự thầu phải có phương án kỹ thuật tối ưu, công nghệ hiện đại, có giá dự thầu
hợp lý khi tham gia đấu thầu, điều này tạo tính hiệu quả, chất lượng cho dựán.
Bên cạnh đóđể tránh các tiêu cực thường xuất hiện trong hoạt động đấu thầu,
các Nhà thầu không được sử dụng tư cách pháp nhân của tổ chức khác để
tham gia dự thầu; dàn xếp; mua bán thầu; dùng ảnh hưởng của mình làm sai
lệch kết quảđấu thầu hoặc bỏ giá thầu thấp dưới giá thành xây dựng công
trình. Để thúc đẩy hoạt động xây dựng của nước ta phát triển thì khi Nhà thầu
trong nước tham gia đấu thầu quốc tế tại Việt Nam sẽđược hưởng chếđộưu
đãi theo quy định trong Quy chếđấu thầu.
Bất cứ hành vi của Nhà thầu nào vi phạm các yêu cầu trên đều bị xử lý
một cách thích đáng như bị loại bỏ Hồ sơ dự thầu, không công nhận kết
quảđấu thầu...
3- Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đấu thầu
Bất cứ hoạt động nào xuất hiện trong nền kinh tếđều có một quá trình
phát triển vàđấu thầu cũng vậy. Đấu thầu đã manh nha xuất hiện ở nước ta từ
rất lâu nhưng trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, khi mà mọi công trình xây
dựng đều được thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh, Nhà nước chỉđịnh cho các
đơn vị thực hiện xây lắp tuỳ theo kế hoạch mà Nhà nước đề ra hoặc căn cứ
vào mối quan hệ giữa các đơn vịđó với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà
không qua đấu thầu. Với cơ chế này, không tồn tại khái niệm cạnh tranh trong
tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nói chung và trong hoạt động đầu tư

- Năm 1996, Chính phủ ban hành Quy chếđấu thầu kèm theo Nghịđịnh
số 43/CP ngày 16/7/1996. Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và
phạm vi điều chỉnh rộng hơn, theo đó, “gói thầu” lần đầu tiên đã trở
thành đối tượng quản lý của công tác đấu thầu.
Nghịđịnh 43/CP của Chính phủđãđược thay thế bằng Nghịđịnh số
88/CP ngày 1/9/1999 và Nghịđịnh này đãđược bổ sung, sửa đổi bởi
8
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
Nghịđịnh số 14/CP ngày 5/5/2000. Từ năm 1999 đến năm 2003, công
tác đấu thầu được điều chỉnh chủ yếu bằng Nghịđịnh số 88/CP và
Nghịđịnh số 14/CP, so với cơ chế cũ thì nhiều vấn đềđã sáng tỏ hơn,
phương pháp đánh giáđểđấu thầu đã khoa học hơn, chuẩn mực hơn...
- Nền kinh tế ngày càng phát triển, yêu cầu đặt ra với đấu thầu ngày càng
cao. Đểđáp ứng các yêu cầu đó, năm 2003, Chính phủđã ban hành
Nghịđịnh số 66/CP ngày 12/6/2003 sửa đổi bổ sung Quy chếđấu thầu
kèm theo Nghịđịnh số 88/CP và Nghịđịnh số 14/CP. Với 45% sốđiều
bổ sung Nghịđịnh 88/CP và 13% sốđiều sửa đổi bổ sung Nghịđịnh 14/
CP đã tăng cường tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong đấu
thầu, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dựán, tăng cường một bước công
tác thanh tra quản lý hoạt động đấu thầu và thực hiện hợp đồng, nâng
cao công tác quản lý thông tin vềđấu thầu và Nhà thầu... Đặc biệt là
việc ban hành Luật Xây dựng với chương VI về lựa chọn Nhà thầu và
hợp đồng xây dựng đã thực sự là bước tiến cơ bản trong công tác quản
lý nhà nước vềđấu thầu, tạo cho hoạt động đấu thầu ngày càng phù hợp
với xu thế hội nhập hiện nay.
4- Phạm vi, đối tượng áp dụng đấu thầu
Nhà nước ta chỉ quy định một số dựán bắt buộc phải tiến hành đấu thầu,
còn các dựán khác chỉ khuyến khích áp dụng. Trong đó các dựán bắt buộc
phải áp dụng phương thức đấu thầu:

chính quy định chi tiết phạm vi mua sắm, trách nhiệm, quyền hạn của
đơn vị mua sắm theo Luật Ngân sách nhà nước.
Với các dựán trên, các quy định của Nhà nước đang ngày càng mở rộng
đối tượng áp dụng phương thức đấu thầu.
5- Phân loại đấu thầu trong xây dựng
Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại đấu thầu khác nhau nhưng có
một số cách phân loại phổ biến như sau:
10
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
5.1- Phân loại theo phạm vi gói thầu đối với các Nhà thầu:
Dựa theo các lĩnh vực hoạt động khác nhau của dựán đem đấu thầu,
người ta có thể nhóm thành các loại đấu thầu như sau:
Đấu thầu trong nước: Đây là phương thức đấu thầu chỉ có các Nhà thầu
trong nước tham dự.
Đấu thầu quốc tế: Đây là phương thức đấu thầu có sự tham gia của Nhà
thầu trong nước và Nhà thầu ngoài nước tham dự. Đối với đấu thầu quốc tế
chỉđược áp dụng trong một số dựán nhất định.
5.2- Phân loại theo nội dung chung của công việc gọi thầu( đối tượng
của đấu thầu)
Dựa theo các lĩnh vực hoạt động khác nhau của dựán đem đấu thầu,
người ta có thể nhóm thành các loại đấu thầu như sau:
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình đấu thầu nhằm tuyển chọn một
công ty hoặc một cá nhân tư vấn có kinh nghiệm chuyên môn để thực hiện
các công việc có liên quan trong quá trình chuẩn bịđầu tư và thực hiện đầu tư.
Đấu thầu mua sắm hàng hoálà phương thức đấu thầu nhằm tuyển chọn
nhà cung cấp hàng hoá, thiết bị, công nghệ( gồm cả việc cung cấp thiết bị
công nghệ cho việc thi công dựán) phù hợp đáp ứng các yêu cầu của dựán đầu
tư.
Đấu thầu xây lắp là phương thức đấu thầu mà sau khi giai đoạn chuẩn

trường hợp đặc biệt có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, cấp bách do thiên tai
địch hoạ, hay có liên quan đến bí mật quốc gia. Một số dựán trong loại này
thường do Thủ tướng Chính phủ quyết định và cho phép. Các dựán được
chỉđịnh thầu hay gói thầu thường có giá trị nhỏ. Đối với các gói thầu lớn phải
thông qua Thủ tướng Chính phủ xét duyệt.
Chào hàng cạnh tranh là hình thức áp dụng cho những gói thầu mua
sắm hàng hoá có giá trị dưới 2 tỷđồng. Mỗi gói thầu phải cóít nhất 3 chào
hàng của 3 Nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của Bên mời
thầu.
12
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
Mua sắm trực tiếp là hình thức được áp dụng trong trường hợp bổ sung
hợp đồng cũđã thực hiện xong( dưới 1 năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện
với điều kiện chủđầu tư có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hoá hoặc khối
lượng công việc mà trước đóđãđược tiến hành đấu thầu nhưng phải đảm bảo
không được vượt mức giá hoặc đơn giá trong hợp đồng đã ký trước đó.
Tự thực hiện là hình thức chỉđược áp dụng đối với các gói thầu mà
chủđầu tư cóđủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp
luật, khi đó chủđầu tư sẽ thực hiện toàn bộ các công việc của một dựán.
Mua sắm đặc biệt: hình thức này được áp dụng đối với các ngành hết
sức đặc biệt mà nếu không có những quy định riêng thì không thểđấu thầu
được. Khi đó cơ quan quản lý ngành phải xây dựng quy trình thực hiện đảm
bảo các mục tiêu của Quy chếđấu thầu và cóý kiến thoả thuận của Bộ Kế
hoạch vàĐầu tưđể trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
5.4- Phân loại theo phương thức đấu thầu
Căn cứ vào phương thức đấu thầu người ta chia thành các loại như:
Đấu thầu một túi hồ sơlà phương thức mà Nhà thầu nộp tất cả các hồ sơ
dự thầu, đề xuất các phương án kỹ thuật, tài chính trong một túi hồ sơ.
Phương thức này được áp dụng đối với đấu thầu mua sắm hàng hoá và xây

nhau, nhất thiết không có sự phân biệt đối xử, phải bình đẳng để tạo ra sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các Nhà thầu, đảm bảo cho các Nhà thầu khi tham
dự thấy mình bình đẳng như các Nhà thầu khác.
6.2- Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ
Các Nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu đấu thầu từ Bên mời thầu
với các thông tin chi tiết, rõ ràng và có hệ thống về quy mô, khối lượng, quy
cách, yêu cầu chất lượng của công trình hay hàng hoá dịch vụ cần cung ứng,
về tiến độ vàđiều kiện thực hiện( có nghĩa là chủ công trình phải nghiên cứu,
tính toán, cân nhắc thấu đáo để tiên liệu rất kỹ và rất chắc về mọi yếu tố có
liên quan, phải cố tránh tình trạng chuẩn bị sơ sài, tắc trách). Khi cóđầy đủ dữ
14
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
liệu, các Nhà thầu tham dự mới thấy được hết các tiêu chuẩn dựán đề ra, từđó
xem xét mình cóđáp ứng các yêu cầu của dựán hay không.
6.3- Nguyên tắc đánh giá công bằng
Các hồ sơđấu thầu phải được đánh giá một cách không thiên vị theo
cùng một chuẩn mực đãđược xây dựng sẵn vàđược đánh giá bởi một Hội
đồng xét thầu cóđủ năng lực và phẩm chất. Lý do để “ được chọn” hay “ bị
loại” phải được giải thích đầy đủ mạch lạc để tránh sự ngờ vực, điều này cũng
đảm bảo cho nguyên tắc cạnh tranh được thực hiện.
6.4- Nguyên tắc trách nhiệm phân minh
Không chỉ các nghĩa vụ, quyền, quyền lợi của các bên liên quan được
đề cập và chi tiết hoá trong Hợp đồng mà phạm vi trách nhiệm của mỗi bên ở
từng phần việc đều được phân định rạch ròi để không một sai sót nào không
có người chịu trách nhiệm. Mỗi bên có liên quan đều biết rõ mình phải gánh
chịu những hậu quả gì nếu có lỗi vôý hay cốý kể cả do sơ suất và do đó mỗi
bên đều phải nỗ lực tối đa trong việc kiểm soát bất trắc và phòng ngừa rủi ro.
6.5- Nguyên tắc ba chủ thể
Thực hiện dựán theo thể thức đấu thầu luôn có sự hiện diện đồng thời

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ:
- Lập Hồ sơ mời thầu, kế hoạch đấu thầu phù hợp với nội dung của dựán
đầu tư xây dựng công trình đãđược phê duyệt.
- Kiểm tra việc kê khai năng lực hoạt động xây dựng, giấy phép hành
nghề xây dựng và tình trạng tài chính của bên dự thầu được lựa chọn.
- Đáp ứng đầy đủ, kịp thời nguồn vốn để thực hiện công việc theo tiến
độ;
- Thông báo những yêu cầu cần thiết cho các bên dự thầu và thực hiện
đúng các nội dung đã thông báo;
- Công bố công khai các đơn vị trúng thầu và giá trúng thầu đối với các
công trình xây dựng thuộc nguồn vốn nhà nước sau khi có kết quả lựa
chọn Nhà thầu;
16
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
- Mua bảo hiểm công trình;
- Bồi thường thiệt hại cho các Nhà thầu tham gia dự thầu trong trường
hợp do lỗi của mình gây ra;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi dàn xếp thầu, mua,
bán thầu, tiết lộ thông tin khi xét thầu hoặc thông đồng với Nhà thầu và
những hành vi vi phạm pháp luật vềđấu thầu;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
7.2- Quyền và nghĩa vụ của Bên dự thầu
Quyền:
- Tham gia dự thầu độc lập hoặc liên danh với các Nhà thầu khác để dự
thầu
- Yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin, khảo sát hiện trường để lập Hồ sơ
dự thầu
- Khiếu nại, tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm các quy định về lựa

- Bộ Kế hoạch vàĐầu tư là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện
quản lý công tác đấu thầu.
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
quản lý nhà nước vềđấu thầu trong phạm vi và trách nhiệm của mình,
đồng thời cử một Thứ trưởng hoặc các cấp phó tương ứng( ở cơ quan
ngang Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) trực tiếp
chỉđạo công tác đấu thầu.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
phường, xã, thị trấn quản lý nhà nước vềđấu thầu đối với các gói thầu
thuộc quyền quản lý của mình, đồng thời cử một cấp phó trực tiếp
chỉđạo công tác đấu thầu.
Các cơ quan trên sẽ quản lý hoạt động đấu thầu trên một số nội dung:
♦ Soạn thảo, ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật vềđấu thầu.
18
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
♦ Tổ chức hướng dẫn thực hiện.
♦ Tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu của dựán và thẩm định kết
quảđấu thầu.
♦ Phê duyệt kế hoạch đấu thầu của dựán và kết quảđấu thầu.
♦ Tổ chức kiểm tra công tác đấu thầu.
♦ Tổng kết, đánh giá, báo các tình hình đấu thầu và thực hiện Quy
chếĐấu thầu.
♦ Giải quyết các vướng mắc, khiếu nại vềđấu thầu.
♦ Quản lý hệ thống thông tin vềđấu thầu.
♦ Quản lý hệ thống dữ liệu thông tin về Nhà thầu.
♦ Thực hiện kiểm tra, thanh tra vềđấu thầu và việc thực hiện hợp
đồng( đã ký giữa chủđầu tư và Nhà thầu).

- Chọn được Nhà thầu cóđủđiệu kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng
lực ngành nghề xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý;
- Khách quan, công bằng, công khai, minh bạch;
- Trong việc lựa chọn Nhà thầu, người quyết định đầu tư, chủđầu tư xây
dựng công trình có quyền quyết định hình thức lựa chọn Nhà thầu.
2- Điều kiện thực hiện đấu thầu xây lắp
Việc thực hiện đấu thầu nói chung vàđấu thầu xây lắp nói riêng luôn đi
kèm các điều kiện mà các bên chủ thể của đấu thầu phải đáp ứng thìđấu thầu
mới được tổ chức. Các điều kiện được đặt ra đối với dựán, bản thân các Nhà
thầu và bên mời thầu.
2.1- Điều kiện tổ chức đấu thầu
Điều kiện đối với dựán, bắt buộc trước khi tổ chức đấu thầu phải
cóđược văn bản quyết định đầu tư hoặc giấy phép của người có thẩm quyền
phê duyệt, đồng thời kế hoạch đấu thầu, các thiết kế cho dựán và Hồ sơ mời
thầu cũng phải được người có thẩm quyền phê duyệt. Nếu không cóđầy đủ
20
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
các điều kiện trên mà các chủ thể vẫn tiến hành đấu thầu thì sẽ vi phạm vào
Quy chế quản lý hoạt động đầu tư xây dựng.
2.2- Điều kiện đối với các Nhà thầu
Nhà thầu khi muốn tham dựđấu thầu hoặc các hình thức lựa chọn Nhà
thầu( trong đấu thầu xây lắp, Nhà thầu chỉ có thể là tổ chức) tại Việt Nam
phải đáp ứng các điều kiện:
Thứ nhất phải cóđầy đủ năng lực pháp luật dân sự( đối với tổ chức).
Năng lực pháp luật dân sựđối với Nhà thầu trong nước được căn cứ theo quy
định của Bộ Luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, còn đối
với Nhà thầu nước ngoài được căn cứ theo pháp luật của nước Nhà thầu mang
quốc tịch.
Thứ hai là sựđộc lập về tài chính: Nhà thầu được coi làđộc lập về tài

2.3- Điều kiện đấu thầu quốc tế
2.3.1- Điều kiện tiến hành đấu thầu quốc tế
Đấu thầu quốc tế là một hình thức vô cùng quan trọng trong nền kinh tế
hiện nay nhưng do đểđảm bảo quyền lợi cho sự phát triển của ngành Xây
dựng trong nước thì chỉđược tổ chức đấu thầu quốc tế trong các trường hợp:
Thứ nhất là gói thầu mà không có Nhà thầu nào trong nước có khả năng
đáp ứng yêu cầu của gói thầu về kỹ thuật cũng như về tài chính;
Thứ hai là các dựán sử dụng nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế
hoặc của nước ngoài có quy định trong Điều ước là phải đấu thầu quốc tế.
Ngoài các trường hợp trên thì bắt buộc phải tổ chức đấu thầu trong
nước.
2.3.2- Điều kiện đối với Nhà thầu nước ngoài tham dựđấu thầu quốc tế
tại Việt Nam
Nhà thầu nước ngoài tham dựđấu thầu quốc tế tại Việt Nam về xây
dựng phải liên danh với Nhà thầu Việt Nam hoặc phải cam kết sử dụng thầu
phụ Việt Nam, trong đó nêu rõ sự phân chia giữa các bên về phạm vi công
việc, khối lượng và giá trị tương ứng.
Mặt khác khi trúng thầu, Nhà thầu trúng thầu phải thực hiện cam kết về
tỷ lệ % khối lượng công việc cùng với đơn giá tương ứng dành cho phía Việt
22
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
Nam là liên danh hoặc thầu phụ nhưđã nêu trong Hồ sơ dự thầu. Trong khi
thương thảo hoàn thiện hợp đồng, nếu Nhà thầu nước ngoài trúng thầu không
thực hiện các cam kết nêu trong Hồ sơ dự thầu thì kết quảđấu thầu sẽ bị huỷ
bỏ.
Các Nhà thầu nước ngoài tham gia đấu thầu ở Việt Nam phải cam kết
mua sắm và sử dụng các vật tư thiết bị phù hợp về chất lượng và giá cả, đang
sản xuất, gia công hoặc hiện có tại Việt Nam.
Nếu không đảm bảo được các yêu cầu trên thì các Nhà thầu nước ngoài

Kế hoạch đấu thầu do Bên mời thầu lập và người có thẩm quyền quyết
định đầu tư phê duyệt. Trường hợp chưa đủđiều kiện để lập kế hoạch đấu thầu
toàn bộ dựán thì Bên mời thầu có thể lập kế hoạch đấu thầu từng phần của
dựán theo các giai đoạn đầu tư khác nhau.
Phân chia dựán thành các gói thầu: Việc phân chia gói thầu phải phù
hợp với công nghệ, tính chất hoặc trình tự thực hiện dựán, có quy mô hợp lý
vàđảm bảo tính đồng bộ của dựán, chủđầu tư không được chia dựán thành các
gói thầu quá lớn ( trừ một số trường hợp đặc biệt) làm giảm tính hợp lý của
dựán, hạn chế sự tham gia của các Nhà thầu trong nước.
Giá của các gói thầu: được xác định trên cơ sở phù hợp với cơ cấu tổng
mức đầu tư trong Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tổng dự toán được người
có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mỗi gói thầu phải được
xác định nguồn gốc tài chính đầu tư cho gói thầu đó. Việc ước tính giá của
từng gói thầu trong đấu thầu xây lắp được quyết định sau thời điểm hết hạn
nộp thầu và trước thời điểm mở thầu. Giá xét thầu phải nằm trong phạm vi
của tổng dự toán hoặc dự toán và không làm vượt tổng mức đầu tư của dựán
được phê duyệt.
Thời gian tổ chức đấu thầu cho từng gói thầu: thời gian này được tính
từ khi phát hành Hồ sơ mời thầu cho đến khi công bố kết quảđấu thầu.
24
Luận văn : “ Quy chếđấu thầu cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Tổng công ty
Sông Đà”
Xác định hình thức lựa chọn Nhà thầu và phương thức áp dụng: tuỳ theo
từng loại dựán khác nhau Bên mời thầu sẽ chọn các hình thức lựa chọn Nhà
thầu và các phương thức áp dụng cho phù hợp nhất
Xác định phương thức thực hiện đấu thầu: căn cứ vào các loại dựán
khác nhau thì Bên mời thầu sẽ chọn phương thức hợp đồng cho phù hợp nhất.
Việc ký kết hợp đồng giữa Bên mời thầu và Nhà thầu trúng thầu là bắt buộc.
4.1.2- Sơ tuyển Nhà thầu (nếu có)
Việc sơ tuyển Nhà thầu phải được tiến hành đối với các gói thầu xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status