LỜI NÓI ĐẦU
Ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, pháp luật luôn đóng một vai trò rất quan
trọng. Nó là tiêu chuẩn pháp lý cho mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Trong hệ
thống pháp luật đó có pháp luật về hợp đồng kinh tế, nó điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Hiện nay, khi đã chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
thì pháp luật về hợp đồng kinh tế đã và đang là một vấn đề hết sức phức tạp . Nền
kinh tế càng phát triển thì các quan hệ kinh tế càng đa dạng và phức tạp hơn nhiều,
nó không chỉ dừng lại ở các quan hệ kinh tế trong nước mà còn có sự tham gia bởi
các nhân tô nước ngoài.
Song cho đến nay, pháp luật hiện hành về chế độ hợp đồng kinh tế của chúng
ta vẫn là pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 cùng với các văn bản cụ thể
hoá và hướng dẫn thi hành pháp lệnh. Thực tế cho thấy pháp lệnh này còn có nhiều
điểm chưa phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế hiện nay. Những hạn chế
và thiếu sót đó đã gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh trong quá trình ký kết
và thực hiện hợp đồng kinh tế và đồng thời cũng gây trở ngại cho h của các cơ quan
quản lý về hợp đồng kinh tế.
Bên cạnh đó, trong điều kiện nước ta hiện nay, Bộ luật dân sự và Luật
thương mại là hai văn bản rất quan trọng đã được thông qua và có hiệu lực đã đáp
ứng được những đòi hỏi trong đời sống xã hội. Trong khi đó pháp lệnh hợp đồng
kinh tế sau mọt thời gian dài không còn phù hợp, không còn đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn sôi động của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những
điểm hạn chế và đưa ra phương hướng sửa đổi bổ sung là rất cần thiết.
Xuât phát từ những đòi hỏi đó, bằng những kiến thức đã được trang bị cùng
với nhận thức về thực tiễn trong quá trình thực tập tại Công ty quan hệ quốc tế -
Đầu tư sản xuất (CIRI), tôi chọn đề tài : "Hợp đồng thuê nhà xưởng tại công ty
Quan hệ quốc tế - Đầu tư sản xuất (CIRT), chế độ pháp lý và thực tiễn áp dụng"
để làm đề tài chuyên đề thực tập cho mình, nhằm nghiên cứu và góp phần vào công
cuộc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.
Đề tài được kết cấu thành 3 chương :
hạn chế.v.v....
2. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung (1960 - 1974)
Là thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân đã căn bản hoàn
thành. Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế theo kế hoạch , chịu sự điều hành
của Nhà nước. Vì thế, chế độ hợp đồng kinh doanh cũng được thay đổi. Điều lệ tạm
thời về chế độ hợp đồng kinh tế do Chính phủ ban hành theo Nghị định số 004/TTg
ngày 4/1/1960 quy định một kiểu hợp đồng mới, hợp đồng được ký kết trên cơ sở kế
hoạch Nhà nước.
Đặc điểm của điều lệ tạm thời là nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa
các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước. Coi ký kết hợp đồng kinh tế là kỷ
luật Nhà nước trong quan hệ kinh tế và chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế trong
phạm vi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, đồng thời cũng không được tự ý thương lượng
Trang 3
điều chỉnh hợp đồng kinh tế nếu không có sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền.... Do đó, chế độ hợp đồng kinh tế được chia làm hai loại : hợp đồng nguyên
tắc và hợp đồng cụ thể.
Bên cạnh đó, Điều lệ tạm thời - cũng qui định việc thành lập Hội đồng trọng
tài với tư cách là cơ quan tài phán Nhà nước có chức năng giải quyết các tranh chấp
trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.
Như vậy, chế độ hợp đồng kinh tế thường kỳ này là công cụ pháp lý của việc
thực hiện kế hoạch Nhà nước, với bản chất mang đậm yếu tố kế hoạch còn yếu tố tài
sản là thứ yếu.
3. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ thực hiện chủ trương cải tiến quản lý
kinh tế (1975 - 1988)
Đây là thời kỳ nền kinh tế thực hiện việc quản lý theo phương thức kinh
doanh xã hội chủ nghĩa. Để tương ứng với nó chính phủ đã ban hành Điều lệ về chế
độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng
Chính phủ, qui định kiểu hợp đồng kinh tế mới, thay thế cho bản điều lệ tạm thời về
chế độ hợp đồng kinh tế trước đó.
Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu chế độ hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
II. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
1. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong các mối quan hệ xã hội có những quan hệ được các bên thoả thuận
thiết lập nhằm mục đích làm phát sinh những đổi thay chấm dứt quyền và nghĩa vụ -
giữa các bên với nhau. Những mối quan hệ thuộc loại này được gọi chung là quan
hệ hợp đồng. Cũng như vậy quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế được gọi là
quan hệ hợp đồng kinh tế . Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế thường được
hiểu theo hai nghĩa. Đó là nghĩa khách quan và chủ quan.
- Theo nghĩa khách quan (tức là dưới góc độ ý chí Nhà nước ) : hợp đồng
kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các
quan hệ kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các bên chủ thể
kinh doanh với nhau (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp đồng
kinh tế). Chế độ hợp đồng kinh tế của nước ta mang đặc thù của pháp luật xã hội
chủ nghĩa nó bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc ký kết tư cách chủ thể
tham gia; trình tự và thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế; các điều kiện có hiệu lực của
Trang 5
hợp đồng cũng như các nguyên tắc và nội dung thực hiện; các điều kiện và cách
thức giải quyết hậu quả của việc thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ và thanh lý hợp đồng
kinh tế; quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế; trách
nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , sự thay đổi của quan hệ kinh tế, chế
độ hợp đồng kinh tế cũng được thay đổi và phát triển.
- Theo nghĩa chủ quan (tức là theo ý chí của các bên ký kết hợp đồng) : "Hợp
đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch giữa các bên ký
kết về thực hiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu , ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với
sự qui định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế
hoạch của mình" (Điều 1 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989). Theo nghĩa
Cá nhân có đăng ký kinh doanh được hiểu là cá nhân được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
2.3 Đặc điểm về hình thức hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế có thể ký kết dưới hình thức văn bản hợp đồng hoặc tài
liệu giao dịch (như công văn, điện báo, đơn chào hàng, đặt hàng). Ngoài ra các bên
có thể ký kết các văn bản phụ lục hợp đồng cụ thể hoá các điều kiện trong hợp đồng
hoặc biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào văn bản hợp đồng. Phụ
lục hợp đồng và biên bản bổ sung có giá trị pháp lý như hợp đồng kinh tế.
Trang 7
3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Dựa trên những căn cứ khác nhau mà hợp đồng kinh tế được phân thành
nhiều loại khác nhau.
3.1 Căn cứ và tính chất của quan hệ hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm các
loại sau:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù :
Là loại hợp đồng mà theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tương xứng
nhau (quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại). Trong quan hệ hợp
đồng, một bên có nghĩa vụ giao hàng hoá, thực hiện dịch vụ hoặc kết quả công việc
đã thoả thuận, bên kia có nghĩa vụ nhận hàng hoá hoặc kết quả đó và thanh toán
tiền. Đây là loại hợp đồng phản ánh quan hệ hàng hoá - tiền tệ với bản chất là quan
hệ ngang giá và được sử dụng trong các lĩnh vực như la trao đổi hàng hoá; vận
chuyển hàng hoá.....
* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức :
Là loại hợp đồng được xác lập trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền, các chủ thể kinh doanh có thể thoả thuận với nhau lập ra một cơ sở
kinh tế - kỹ thuật mới để thực hiện mục đích chung. Hợp đồng này không phản ánh
quan hệ hàng hoá tiền tệ, không mang tính chất đền bù. Các bên chủ thể có thể thoả
thuận góp vật chất, góp sức lao động để lập ra cơ sở kinh doanh mới. Song chủ thể
của loại hợp đồng này phải có tư cách pháp nhân đầy đủ. Tuỳ theo tính chất của tổ
chức, hợp đồng không chỉ có 2 bên chủ thể mà có nhiều bên cùng tham gia.
sở hữu đối với hàng hoá đó cho bên mua theo đúng điều kiện đã thoả thuận trong
hợp đồng, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và thanh toán tiền hàng. Quan hệ
hợp đồng này là quan hệ trao đổi hàng hoá, gọi là quan hệ hàng hoá - tiền tệ
* Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
Là hợp đồng mà theo đó bên vận tải hàng hoá có nghĩa vụ vận chuyển hàng
hoá nhất định đến địa điểm đã ấn định để giao cho bên nhận hàng, còn bên thuê vận
chuyển có nghĩa vụ trả cho bên vận tải một khoản tiền nhất định gọi là cước phí vận
chuyển.
* Hợp đồng xây dựng cơ bản :
Là hợp đồng kinh tế trong đó bên nhận thầu có nghĩa vụ xây dựng và bàn
giao cho bên giao thầu toàn bộ công trình theo đúng đồ án thiết kế và thời hạn như
Trang 9
đã thoả thuận trong hợp đồng, còn ben giao thầu có nghĩa vụ bàn giao mặt bằng xây
dựng , các bản thiết kế và đầu tư xây dựng đúng tiến độ đồng thời có nghĩa vụ
nghiệm thu công trình và thanh toán cho bên nhận thầu. Hợp đồng này mang tính
chất đền bù.
* Hợp đồng dịch vụ :
Là hợp đồng kinh tế theo đó bên cung cáp dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện
hành vi nhất định phù hợp với ngành nghề đã đăng ký để thoả mãn nhu cầu của bên
thuê dịch vụ và được hưởng khoản tiền công nhất định gọi là phí dịch vụ, còn bên
thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả dịch vụ và thanh toán cho bên thuê dịch
vụ phí như đã thoả thuận.
Tóm lại, trên đây là những hợp đồng kinh tế cụ thể được áp dụng phổ biến
trong thực tiễn đời sống kinh tế của nước ta hiện nay.
4. Nguồn văn bản hiện hành của chế độ hợp đồng kinh tế
1- Nghị định số 735/TTg ngày 10/4/1960 ban hành điều lệ về hợp đồng kinh
doanh.
2- Nghị định 04/TTg ngày 04/1/1960 ban hành điều lệ tạm thời về chế độ
hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước.
3- Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng
là quyền của các đơn vị kinh tế. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được áp
đặt ý chí của mình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng. Không một đơn vị nào
được phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật". Đây là một
quy định thể hiện sự đổi mới rõ rệt của chế độ hợp đồng kinh tế , nhằm đảm bảo
thực sự quyền tự chủ, tự do ký kết hợp đồng, đó là "quyền của các chủ thể - chứ
không phải là "nghĩa vụ" của họ như trước đây.
Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp
lệnh của Nhà nước, bởi vì theo loại hợp đồng này bị chỉ tiêu pháp lệnh chi phối rất
cao. Và hiện nay, quyền tự do giao kết hợp đồng kinh tế chỉ bị giới hạn bởi các điều
kiện sau :
- Việc ký kết hợp đồng kinh tế phải phục vụ hoạt động kinh doanh đã đăng
ký, tức là các chủ thể chỉ được hoạt động kinh doanh trong phạm vi chức năng của
mình.
- Các bên không được lợi dụng quyền tự do ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt
động trái pháp luật , có nghĩa các bên không được làm những gì mà pháp luật cấm.
Trang 11
- Việc ký hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là bắt buộc, tức
là các đơn vị kinh tế Nhà nước giao cho chỉ tiêu pháp lệnh thì có nghĩa vụ ký kết
hợp đồng kinh tế để thực hiện chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh đó.
Như vậy, có thể thấy rằng hiện nay Nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ
hợp đồng kinh tế bằng pháp luật chứ không dùng mệnh lệnh hành chính như trước
đây nữa.
1.1.2 Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi
Theo nguyên tắc này, khi ký kết hợp đồng kinh tế , các chủ thể hợp đồng có
quyền và nghĩa vụ ngang nhau mà pháp luật qui định để thoả thuận những vấn đề
mà các bênquan tâm nhằm đạt được mục đích cuối cùng là thiết lập quan hệ hợp
đồng kinh tế, hay nói cách khác , các chủ thể có vai trò như nhau dù họ có địa vị
pháp lý khác nhau.
Biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên được
thể hiện ngay trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế. Các bên đều có
đó trở thành vô hiệu và có thể gây ra thiệt hại về mặt vật chất cho các bên và cho cả
Nhà nước. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ trật tự kỷ
cương pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực hợp đồng
kinh tế. Các bên được tự do thoả thuận ý chí nhưng điều đó không có nghĩa các bên
muốn thoả thuận với nhau về điều gì cũng được. í chí đó phải phù hợp với pháp luật
1.2 Chủ thể hợp đồng kinh tế
Những tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tham gia hợp đồng kinh
tế có quyền và nghĩa vụ đối với nhau gọi là chủ thể hợp đồng kinh tế. Theo điều 2
pháp lệnh hợp đồng kinh tế , chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế phải là pháp nhân với
pháp nhân hoặc pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật. Như vậy, trong quan hệ hợp đồng kinh tế pháp nhân là một bên chủ thể
ký kết hợp đồng, còn ben kia có thể là cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Pháp nhân phải là tổ chức có các điều kiện sau :
+ Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập hoặc
công nhận.
+ Có cơ cấu tổ chức thống nhất.
+ Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật môt cách độc lập (điều 94,
Bộ luật dân sự)
Trang 13
Cá nhân có đăng ký kinh doanh được hiểu là cá nhân được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đó là các hộ kinh doanh
cá thẻ được qui định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của Chính
phủ, hoặc các doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh theo quy định của luật
doanh nghiệp 12/6/1999.
Như vậy, những hợp đồng được ký kết giữa các cá nhân với nhau không
được gọi là hợp đồng kinh tế và nếu tranh chấp xẩy ra sẽ được giải quyết theo thủ
tục tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, theo qui định tại điều 42 , 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và thông
tư số 11/TT/PL ngày 25/5/1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn ký kết và
Để tuân thủ pháp luật, đảm bảo sự quảnlý của Nhà nước, đảm bảo lợi ích của
các bên ký kết hợp đồng, theo Điều 10 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì việc ký kết
hợp đồng kinh tế phải dựa vào các căn cứ sau :
1.3.1 Định hướng kế hoạch Nhà nước, các chính sách , chế độ, các chuẩn
mực kinh tế kỹ thuật hiện hành.
Đây là những mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân
hoặc từng ngành kinh tế kỹ thuật hoặc cho từng địa phương xác định cho từng thời
kỳ, và cũng là căn cứ để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Hay nói cách khác đây là căn cứ mang tính pháp lý thể hiện sự tuân thủ
pháp luật của hợp đồng kinh tế.
1.3.2. Nhu cầu thị trường, đơn chào hàng, đơn đặt hàng của bạn hàng
Các hoạt động kinh tế , quan hệ kinh tế trong nền kinh tế bị quy luật giá trị,
quy luật cung cầu chi phối. Điều đó đòi hỏi hợp đồng kinh tế phải luôn luôn phù
hợp với thị trường thì mới phát huy được vai trò của nó. Là cái cầu nối giữa sản
xuất với thị trường; giúp cho sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường tức là giúp cho
cung cầu gặp nhau. Vì vậy, đòi hỏi các chủ thể hợp đồng kinh tế khi ký kết hợp
đồng kinh tế phải lấy nhu cầu thị trường để làm căn cứ nội dung hợp đồng cũng như
quyền và nghĩa vụ của các bên. Đây là căn cứ mang tính thực tiễn thể hiện nhu cầu
thực sự của việc ký kết hợp đồng kinh tế, bảo đảm tính khả thi của hợp đồng.
1.3.3 Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế
của mình.
Nhà nước qui định căn cứ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh để tránh
tình trạng các chủ thể kinh doanh ký kết hợp đồng kinh tế chỉ vì lợi ích riêng mà bất
Trang 15
chấp pháp luật, bất chấp khả năng và thực lực của mình . Đây cũng là căn cứ vào
khả năng về vốn, vật tư, năng suất lao động hiệu quả sản xuất kinh doanh của họ để
làm cơ sở quyết định cho những cam kết trong hợp đồng được thực hiện.
Căn cứ vào chức năng hoạt động kinh tế tức là căn cứ vào nội dung hoạt
động trong các ngành nghề , lĩnh vực mà doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh.
- Như vậy, đây là căn cứ để chứng minh địa vị pháp lý hợp pháp của các tổ
yếu mà thiếu nó thì văn bản hợp đồng không có giá trị pháp lý, mà vấn đề pháp lý
nổi bật nhằm đảm bảo cho hợp đồng các bên ký kết tuân theo chế độ hợp đồng kinh
tế đó là điều kiện về địa vị pháp lý của các bên tham gia hợp đồng kinh tế.
- Đối tượng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lượng, khối lượng hoặc giá trị
quy ước đã thoả thuận: Điều khoản này nhằm trả lời câu hỏi cái gì? và bao nhiêu?
khi các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế.
- Chất lượng, chủng loại, qui cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá
hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc, theo các quy định về quản lý chất lượng sản
phẩm thì chất lượng sản phẩm bao gồm các mặt như phẩm chất, qui cách , chủng
loại, bao bì đóng gói kể cả màu sắc. Như vậy, các hàng hoá, công việc trong hợp
đồng đã được xác định bởi các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, qui cách
và chủng loại của Nhà nước thì các bên tham gia phải lấy đó làm cơ sở của việc ký
kết, nếu thấy khác thì cần phải lấy đó làm cơ sở của việc ký kết, nếu thấy khác thì
cần phải sửa đổi còn đối với các sản phẩm, hàng hoá, công việc trong hợp đồng mà
chưa có tiêu chuẩn chất lượng cụ thể thì nhất thiết phải ghi rõ trong hợp đồng việc
thoả thuận về chất lượng hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật công việc.
- Giá cả: Điều khoản này là điều khoản mà các bên thoả thuận về đơn giá,
các phụ phí, tỷ lệ phần trăm hoa hồng. Khi thoả thuận điều khoản này các bên có thể
thoả thuận cả khả năng điều chỉnh giá khi đó biến động giá cả của thị trường.
Trừ trường hợp, sản phẩm, hàng hoá đó do cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước đã quy định giá hoặc khung giá thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
- Phương thức thanh toán :
Đây là điều khoản các b ên cần thoả thuận về các hình thức và thể thức thanh
toán cũng như thời hạn thanh toán trong hợp đồng kinh tế.
Ngoài ra, các điều khoản khác liên quan trực tiếp đến đặc điểm của từng loại
hợp đồng kinh tế cũng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế đó.
Trang 17
Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế, đặc biệt là điều khoản về chất
lượng sản phẩm, hàng hoá, công việc và về giá cả phải được ghi rõ ràng, cụ thể theo
quy định của pháp luật.
thể là ký kết biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào bản hợp đồng.
Phụl ục hợp đồng và văn bản bổ sung có giá trị kinh tế chính.
Theo quy định tại Điều 7 khoản ghi trong Nghị định số 17/HĐBT ngày
16/1/1990 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì những loại hợp
đồng mà pháp luật qui định phải đăng ký hoặc công chứng thì các bên phải thực
hiện những quy định đó. Khi đó các bên sẽ được cấp chứng thư hợp đồng kinh tế, là
sự xác nhận các bên đã ký kết hợp đồng kinh tế tại một cơ quan công chứng Nhà
nước (nếu không có cơ quan công chứng thì làm chứng thư cơ quan có đăng ký kinh
doanh). Hợp đồng kinh tế được ký kết mà pháp luật đòi hỏi phải có đăng ký thì
không được ký kết theo sự uỷ quyền.
Như vậy, đây cũng là một điểm khác so với hợp đồng dân sự (không bắt
buộc phải ký bằng văn bản)
Trang 19
1.6. Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế :
Trình tự , thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế được hiểu là cách thức các bước
mà các bên tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thiết lập quan hệ hợp đồng
kinh tế. Các bên có thể lựa chọn một trong hai cách ký kết sau:
* Cách ký kết trực tiếp : là cánh mà theo đó người đại diện có thẩm quyền
của các bên trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí về xác định nội
dung của hợp đồng là cùng ký tên các văn bản hợp đồng. Hợp đồng kinh tế được coi
là hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản, trừ
trường hợp hợp đồng kinh tế phải đăng ký thì mới có hiệu lực. Hợp đồng được ký
theo cách này được hình thành một cách nhanh chóng và có hiệu quả hơn.
* Cách ký kết gián tiếp : là cách mà theo đó các bên thoả thuận với nhau
những vấn đề về nội dung hợp đồng bằng cách gửi cho nhau dự thảo hợp đồng hoặc
tài liệu giao dịch có chứa đựng nội dung cần giao dịch. Theo cách này việc ký kết
hợp đồng thông thường phải theo hai bước sau :
Bước 1 : Đề nghị lập hợp đồng : Bên đề nghị đưa ra những điều khoản chủ
yếu của hợp đồng (hàng hoá, hoặc dịch vụ, số lượng , chất lượng, thời gian, giá
cả....), thời hạn trả lời và ký trước vào bản dự thảo hợp đồng sau đó gửi cho bên kia
Là nguyên tắc đòi hỏi các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế
phải hợp tác chặt chẽ, thường xuyên theo dõi , giúp đỡ lẫn nhau để khắc phcụ các
khó khăn nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết. Ngay cả khi có
tranh chấp xẩy ra các bên đều phải chủ động gặp gỡ để bàn bạc, cùng nhau tìm ra
phương án giải quyết tối ưu . Các bên tôn trọng lợi ích của nhau, lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
2.2. Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng kinh tế
Trong trường hợp , hợp đồng đã ký kết mà một bên (ben có nghĩa vụ) không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng sẽ ảnh ưhởng trực tiếp tới quyền lợi của bên
kia (bên có quyền). Do vậy yêu cầu đặt ra cần phải có những biện pháp bảo đảm
quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế. Theo điều 324 Bộ
luật dân sự và điều 5 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các biện pháp đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng bao gồm : cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh...
2.2.1 Cầm cố tài sản :
Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc quyền
sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng kinh tế;
Trang 21
nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì có thể thoả thuận để bên cầm cố vẫn
giữ tài sản hoặc giao cho người thứ ba giữ. Việc cầm cố tài sản được lập thành văn
bản, có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Văn bản cầm cố phải có chứng
nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm
quyền. Đối với tài sản mà pháp luật qui định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc
cầm cố tài sản đó cũng phải được đăng ký.
Người giữ vật cầm cố bảo đảm nguyên giá trị của hiện vật cầm cố; không
được chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho người khác trong thời gian văn bản có hiệu
lực.
Khi nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đã thực hiện xong, việc cầm cố tài sản chấm
dứt thì tài sản cầm cố, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu được hoàn trả cho bên cầm
cố.
2.2.2. Thế chấp tài sản:
trong hợp đồng. Nội dung thực hiện hợp đồng kinh tế bao gồm :
2.3.1. Thực hiện đúng điều khoản về đối tượng của hợp đồng
Thực hiện đúng điều khoản về đối tượng của hợp đồng kinh tế là một trong
những điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Bên có nghĩa vụ giao đầy đủ số lượng,
trọng lượng, khối lượng hàng hoá hoặc khối lượng công việc cho bên có quyền theo
thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
Nếu sản phẩm là hàng hoá giao không đúng số lượng, công việc không thực
hiện đúng khối lượng thì bên nhận chỉ nhận và thanh toán theo số lượng thực nhận,
số còn lại sẽ yêu cầu bên có nghĩa vụ giao tiếp sau đó, ngoài ra có quyền đòi phạt
phần thiếu và đòi đền bù thiệt hại (nếu có)
Đối với trường hợp sản phẩm được giao không đồng bộ và không sử dụng
được thì bên nhận có quyền từ chối tiếp nhận và từ chối thanh toán cho tới khi hoàn
thành đồng bộ. Trường hợp giao hàng hoá không đồng bộ , bên nhận có quyền lựa
chọn một trong hai cách xử lý sau :
- Yêu cầu bên vi phạm phải hoàn thành đồng bộ rồi mới tiếp nhận. Bên vi
phạm phải bị phạt giao hàng chậm.
- Nhận sản phẩm hàng hoá, công việc chưa đồng bộ với điều kiện bên vi
phạm chịu phạt vi phạm hợp đồng vì không hoàn thành đồng bộ và trả các chi phí
cần thiết để hoàn thành đồng bộ.
Trang 23
Trong khi giao nhận hàng hoá, các bên phải kiểm tra về mặt khối lượng, số
lượng và phải nộp biên bản, chứng từ bàn giao để làm cơ sở cho việc giải quyết
tranh chấp xảy ra (nếu có)
2.3.2. Thực hiện đúng điều khoản về chất lượng
Điều khoản về chất lượng cũng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế.
Bên có nghĩa vụ giao hàng phải giao hàng đúng chất lượng , có nghĩa là hàng hoá
được giao phải đảm bảo khả năng sử dụng theo tiêu chuẩn chất lượng, bảo đảm
đúng phẩm chất, bao bì, đóng gói, quy cách, chủng loại theo quy định của Nhà
nước. Của ngành, của đơn vị cơ sở hoặc theo sự thoả thuận của hai bên. Khi giao
nhận các bên phải tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá , công việc.
hoặc theo quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng cụ thể.
Việc xác định địa điểm giao nhận có vai trò rất quan trọng vì nó liên quan
đến chi phí vận chuyển và rủi ro khi vận chuyển.
Phương thức giao nhận là cách để các bên tiến hành giao nhận hàng hoá.
Địa điểm và phương thức giao nhận do các bên thoả thuận sao cho có lợi cho
các bên. Nếu một trong các bên thực hiện không đúng điều khoản này thì coi như vi
phạm hợp đồng kinh tế và phải chịu trách nhiệm tài sản đối với bên còn lại
2.3.5. Thực hiện đúng điều khoản về giá cả thanh toán
Giá cả hàng hoá, dịch vụ do hai bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng. Vì
thế, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những gì đã thoả thuận. Đối với những
sản phẩm, hàng hoá do cơ quan Nhà nước có từng quy định giá trị giá thoả thuận
trong hợp đồng kinh tế phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Thanh toán là nghĩa vụ trả tiền theo phương thức và thời hạn đã thoả thuận
trong hợp đồng. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc séc, uỷ nhiệm
thu...
Về thời hạn thanh toán, nếu không ghi trong hợp đồng thì thời hạn đó là 15
ngày kể từ ngày nhận được hoá đơn, giấy đòi tiền.
Nghĩa vụ trả tiền được coi là hoàn thành từ khi chuyển đủ tiền lên tai khoản
của mình tại ngân hàng cho bên đòi hoặc khi bên đòi trực tiếp nhận đủ số tiền mặt
theo hoá đơn hoặc bên đòi tiền chấp nhận trả bằng hiện vật, hoặc tài sản thế chấp,
cấm cố, bảo lãnh có giá trị tương đương với số tiền phải trả. Và việc trả đó đã được
thực hiện xong.
Trang 25