Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời nói đầu
ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, pháp luật luôn đóng một vai trò rất
quan trọng. Nó là tiêu chuẩn pháp lý cho mọi hoạt động trong đời sống xã hội.
Trong hệ thống pháp luật đó có pháp luật về hợp đồng kinh tế, nó điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Hiện nay, khi đã chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN thì pháp luật về hợp đồng kinh tế đã và đang là một vấn đề hết sức phức
tạp . Nền kinh tế càng phát triển thì các quan hệ kinh tế càng đa dạng và phức
tạp hơn nhiều, nó không chỉ dừng lại ở các quan hệ kinh tế trong nớc mà còn có
sự tham gia bởi các nhân tô nớc ngoài.
Song cho đến nay, pháp luật hiện hành về chế độ hợp đồng kinh tế của
chúng ta vẫn là pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 cùng với các văn
bản cụ thể hoá và hớng dẫn thi hành pháp lệnh. Thực tế cho thấy pháp lệnh này
còn có nhiều điểm cha phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế hiện nay.
Những hạn chế và thiếu sót đó đã gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh
trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế và đồng thời cũng gây trở
ngại cho h của các cơ quan quản lý về hợp đồng kinh tế.
Bên cạnh đó, trong điều kiện nớc ta hiện nay, Bộ luật dân sự và Luật th-
ơng mại là hai văn bản rất quan trọng đã đợc thông qua và có hiệu lực đã đáp
ứng đợc những đòi hỏi trong đời sống xã hội. Trong khi đó pháp lệnh hợp đồng
kinh tế sau mọt thời gian dài không còn phù hợp, không còn đáp ứng đợc yêu
cầu thực tiễn sôi động của nền kinh tế thị trờng. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra
những điểm hạn chế và đa ra phơng hớng sửa đổi bổ sung là rất cần thiết.
Xuât phát từ những đòi hỏi đó, bằng những kiến thức đã đợc trang bị
cùng với nhận thức về thực tiễn trong quá trình thực tập tại Công ty quan hệ
quốc tế - Đầu t sản xuất (CIRI), tôi chọn đề tài : "Hợp đồng thuê nhà xởng tại
công ty Quan hệ quốc tế - Đầu t sản xuất (CIRT), chế độ pháp lý và thực tiễn
áp dụng" để làm đề tài chuyên đề thực tập cho mình, nhằm nghiên cứu và góp
phần vào công cuộc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.
hợp doanh và t doanh.
Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh là rất coi trọng ý chí tự do, tự
nguyện, bình đẳng, thật thà, cùng có lợi của các đơng sự tham gia hợp đồng
trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan
Nhà nớc nh : hợp đồng phải đăng ký tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền,
quyền huỷ bỏ hợp đồng bị hạn chế.v.v....
2. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ bớc đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung (1960 - 1974)
Là thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân đã căn bản hoàn
thành. Nhà nớc chủ trơng phát triển nền kinh tế theo kế hoạch , chịu sự điều
hành của Nhà nớc. Vì thế, chế độ hợp đồng kinh doanh cũng đợc thay đổi. Điều
lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế do Chính phủ ban hành theo Nghị định
số 004/TTg ngày 4/1/1960 quy định một kiểu hợp đồng mới, hợp đồng đợc ký
kết trên cơ sở kế hoạch Nhà nớc.
Đặc điểm của điều lệ tạm thời là nhằm tăng cờng mối quan hệ kinh tế
giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nớc. Coi ký kết hợp đồng kinh tế
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là kỷ luật Nhà nớc trong quan hệ kinh tế và chỉ đợc ký kết hợp đồng kinh tế
trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc, đồng thời cũng không đợc tự ý thơng
lợng điều chỉnh hợp đồng kinh tế nếu không có sự đồng ý của cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền.... Do đó, chế độ hợp đồng kinh tế đợc chia làm hai loại : hợp
đồng nguyên tắc và hợp đồng cụ thể.
Bên cạnh đó, Điều lệ tạm thời - cũng qui định việc thành lập Hội đồng
trọng tài với t cách là cơ quan tài phán Nhà nớc có chức năng giải quyết các
tranh chấp trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, chế độ hợp đồng kinh tế thờng kỳ này là công cụ pháp lý của
việc thực hiện kế hoạch Nhà nớc, với bản chất mang đậm yếu tố kế hoạch còn
yếu tố tài sản là thứ yếu.
+ Chủ thể có quyền tự quyết trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh
tế
+ Thể loại hợp đồng kinh tế đợc đa dạng hoá, bên cạnh đó còn qui định
một số hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh áp dụng đối với các doanh
nghiệp Nhà nớc hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nớc giao và chính phủ
cũng có văn bản qui định riêng (Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của
Hội đồng bộ trởng)
Nh vậy, những điểm đổi mới của chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này đã
đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần, bớc đầu xây
dựng nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu chế độ hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
II. Khái quát về hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong các mối quan hệ xã hội có những quan hệ đợc các bên thoả thuận
thiết lập nhằm mục đích làm phát sinh những đổi thay chấm dứt quyền và nghĩa
vụ - giữa các bên với nhau. Những mối quan hệ thuộc loại này đợc gọi chung là
quan hệ hợp đồng. Cũng nh vậy quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế đợc
gọi là quan hệ hợp đồng kinh tế . Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế th-
ờng đợc hiểu theo hai nghĩa. Đó là nghĩa khách quan và chủ quan.
- Theo nghĩa khách quan (tức là dới góc độ ý chí Nhà nớc ) : hợp đồng
kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nớc ban hành để điều chỉnh
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các quan hệ kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các bên
chủ thể kinh doanh với nhau (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế hay pháp luật
về hợp đồng kinh tế). Chế độ hợp đồng kinh tế của nớc ta mang đặc thù của
pháp luật xã hội chủ nghĩa nó bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc
ký kết t cách chủ thể tham gia; trình tự và thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế; các
Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm mục đích kinh doanh. Mục đích này
đợc thể hiện trong nội dung công việc mà các bên thoả thuận trong hợp đồng
nh là : thực hiện hoạt động sản xuất , trao đổi hàng hoá, dịch vụ.... Điều đó có
nghĩa là hợp đồng kinh tế phải gắn với quá trình sản xuất và tái sản xuất của các
chủ thể kinh doanh, trong đó ít nhất một bên ký hợp đồng phải có mục đích
kinh doanh còn bên kia có thể không có mục đích kinh doanh nhng không có
mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt. Đặc điểm này dùng để phân
biệt hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự, hơn nữa mục đích kinh doanh là đặc
trng của các quan hệ kinh tế.
2.2 Đặc điểm về chủ thể hợp đồng kinh tế :
Theo Điều 2 - pháp lệnh hợp đồng kinh tế, thì hợp đồng kinh tế đợc ký
kết giữa các bên : pháp nhân với pháp nhân; pháp nhân với cá nhân có đăng ký
kinh doanh theo qui định của pháp luật. Nh vậy theo qui định này thì chủ thể ký
kết hợp đồng kinh tế phải là chủ thể có điều kiện tổ chức, phải là pháp nhân và
luôn phải là một bên ký kết, còn bên kia có thể là cá nhân có đăng ký kinh
doanh.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh đợc hiểu là cá nhân đợc cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
2.3 Đặc điểm về hình thức hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế có thể ký kết dới hình thức văn bản hợp đồng hoặc tài
liệu giao dịch (nh công văn, điện báo, đơn chào hàng, đặt hàng). Ngoài ra các
bên có thể ký kết các văn bản phụ lục hợp đồng cụ thể hoá các điều kiện trong
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hợp đồng hoặc biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào văn bản
hợp đồng. Phụ lục hợp đồng và biên bản bổ sung có giá trị pháp lý nh hợp đồng
kinh tế.
3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Dựa trên những căn cứ khác nhau mà hợp đồng kinh tế đợc phân thành
gồm hợp đồng năm, nửa năm, quý, tháng để thực hiện kế hoạch năm và những
phần kế hoạch trong năm.
Nh vậy, tuỳ theo đối tợng của hợp đồng, tính chất của mối quan hệ, giá
cả thị trờng.... mà các chủ thể có thể ký kết hợp đồng ngắn hạn hay dài hạn.
3.3. Căn cứ vào tính kế hoạch của hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm:
* Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh :
Là những hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh
do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền giao cho các doanh nghiệp Nhà nớc. Việc
ký kết hợp đồng kinh tế giữa những đơn vị kinh tế đợc giao nhiệm vụ kế hoạch
là nghĩa vụ, là kỷ luật của Nhà nớc. Hợp đồng này mang tính kế hoạch cao, vì
thế, tính tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể của hợp đồng bị hạn chế. Tuy
nhiên, trong cơ chế mới loại hợp đồng này không còn đợc áp dụng phổ biến nữa
mà chỉ những doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động công ích mới thực hiện nhiệm
vụ kế hoạch Nhà nớc giao.
* Hợp đồng kinh tế thông thờng :
Loại hợp đồng này đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các
bên cùng có lợi . Việc ký kết hợp đồng là quyền tự do ý chí của các đơn vị kinh
tế , không một tổ chức hay cá nhân nào đợc áp đặt ý chí của mình cho các đơn
vị kinh tế khác. Trong cơ chế mới này, loại hợp đồng này đợc áp dụng rất phổ
biến.
3.4 Căn cứ vào nội dung giao dịch của quan hệ hợp đồng gồm:
* Hợp đồng mua bán hàng hoá
Là hợp đồng mà theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá và
quyền sở hữu đối với hàng hoá đó cho bên mua theo đúng điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và thanh toán
tiền hàng. Quan hệ hợp đồng này là quan hệ trao đổi hàng hoá, gọi là quan hệ
hàng hoá - tiền tệ
* Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
9
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
6- Quyết định 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng bộ trởng về việc
ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về chế độ pháp lý về hợp đồng kinh
tế
III. Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
1. Chế độ ký kết về hợp đồng kinh tế
1.1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế
Theo điều 3 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế : "Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ
chính đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, bảo vệ lợi ích của xã hội,
việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc pháp luật quy định, phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định đợc quy định trong chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế"
thì ký kết hợp đồng kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
1.1.1 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc này là quyền tự do ý chí (tự do khế ớc) của các chủ thể kinh
doanh đợc pháp luật cho phép để làm phát sinh quan hệ hợp đồng kinh tế mà
không có sự áp đặt ý chí của các bên với nhau hoặc của tổ chức, cá nhân khác
nhau. Việc tham gia hợp đồng hay không là do các bên toàn quyền định đoạt.
Mọi sự ép buộc ký kết hợp đồng kinh tế giữa bên này đối với bên kia - đều làm
cho hợp đồng kinh tế vô hiệu.Do đó, tự nguyện là nguyên tắc bắt buộc phải có
và cũng là nguyên tắc của hầu hết các loại hợp đồng. Theo nguyên tắc này , việc
ký kết hợp đồng kinh tế phải là mong muốn thực sự của các bên tham gia nhằm
đạt đợc mục đích nhất định. Theo đó, các bên có quyền lựa chọn bạn hàng, lựa
chọn địa chỉ cung ứng vật t, thời điểm ký kết hợp đồng cũng nh nội dung ký
kết.... Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ đợc coi là hình thành và có giá trị pháp lý
nếu có sự thoả thuận giữa các bên đợc thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các
bên.
Tại điều 4 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế qui định : "Ký kết hợp đồng
có địa vị pháp lý khác nhau.
Biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên đ-
ợc thể hiện ngay trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế. Các bên
đều có quyền đa ra yêu cầu của mình và cũng có quyền chấp nhạn hay không
chấp nhận ý kiến của bên kia. Thực hiện nguyên tắc này không phụ thuộc quan
hệ sở hữu và quan hệ quản lý của các chủ thể hợp đồng, bát kể họ thuộc thành
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý, thì khi ký hợp đồng điều bình đẳng với
nhau về quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phải chịu trách
nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết. Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ
đợc coi là hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về tất cả các điều
khoản trong hợp đồng.
Tuy nhiên, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ ở đây phải song hành với t t-
ởng hai bên cùng có lợi nhng không nhất thiết các bên phải lợi ích nh nhau mà
mỗi bên đều có lợi ích riêng theo mục đích của mình, đồng thời, nó đòi hỏi các
bên phải biết tôn trọng lợi ích của nhau, không thể để lợi ích của bạn hàng lấn
át lợi ích của mình và ngợc lại không để lợi ích của mình lấn át lợi ích của bạn
hàng. Vì thế, đây chính là t tởng giúp cho quan hệ đợc làm ăn lâu dài.
1.1.3 Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất và không trái pháp
luật
- Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là nếu có vi phạm hợp đồng
kinh tế, thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi th-
ờng thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bằng chính tài sản của
mình mà không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân có lỗi đã gây ra vi
phạm đó, trừ các trờng hợp miễm giảm trách nhiệm vật chất. Có nghĩa là, khi
hợp đồng kinh tế đợc ký kết thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những
điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Nguyên tắc này đợc qui định trong Điều
29 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 21 Nghị định 17/HĐBT đã dẫn. Đây là
(điều 94, Bộ luật dân sự)
Cá nhân có đăng ký kinh doanh đợc hiểu là cá nhân đợc cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đó là các hộ kinh
doanh cá thẻ đợc qui định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của
Chính phủ, hoặc các doanh nghiệp t nhân, công ty hợp doanh theo quy định của
luật doanh nghiệp 12/6/1999.
Nh vậy, những hợp đồng đợc ký kết giữa các cá nhân với nhau không đợc
gọi là hợp đồng kinh tế và nếu tranh chấp xẩy ra sẽ đợc giải quyết theo thủ tục
tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, theo qui định tại điều 42 , 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và
thông t số 11/TT/PL ngày 25/5/1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nớc hớng dẫn ký
kết và thực hiện hợp đồng kinh tế mở rộng điều kiện cho phép pháp nhân có thể
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xác lập hợp đồng kinh tế với tổ chức, cá nhân nớc ngoài có vốn đầu t ở Việt
Nam, các doanh nghiệp không có t cách pháp nhân (doanh nghiệp t nhân, công
ty hợp doanh) , hộ kinh doanh cá thể, ngời làm công tác khoa học kỹ thuật,
nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ng dân ca thể nếu nội dung của hợp đồng
không nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng, thuê lao động.
Để hình thành quan hệ hợp đồng kinh tế thì phải có sự tham gia ký kết
của các bên chủ thể hợp đồng kinh tế . Thay mặt cho các bên chủ thể hợp đồng
kinh tế đó cần phải có một ngời đại diện để ký kết hợp đồng kinh tế. Theo điều
9 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì đại diện ký kết hợp đồng kinh tế có hai loại :
* Đại diện thơng nhân :
Đó là ngời đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc ngời đứng tên đăng ký
kinh doanh . Đối với pháp nhân, đại diện hợp pháp của pháp nhân là ngời đợc
bổ nhiệm hay đợc bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và hiện đang giữ
chức vụ gì đó (Điều 52 Nghị định 17/HĐBT ) . Đối với doanh nghiệp t nhân là
chủ doanh nghiệp hoặc ngời đợc doanh nghiệp thuê làm giám đốc. Đối với cá
phù hợp với thị trờng thì mới phát huy đợc vai trò của nó. Là cái cầu nối giữa
sản xuất với thị trờng; giúp cho sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trờng tức là giúp
cho cung cầu gặp nhau. Vì vậy, đòi hỏi các chủ thể hợp đồng kinh tế khi ký kết
hợp đồng kinh tế phải lấy nhu cầu thị trờng để làm căn cứ nội dung hợp đồng
cũng nh quyền và nghĩa vụ của các bên. Đây là căn cứ mang tính thực tiễn thể
hiện nhu cầu thực sự của việc ký kết hợp đồng kinh tế, bảo đảm tính khả thi của
hợp đồng.
1.3.3 Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động
kinh tế của mình.
Nhà nớc qui định căn cứ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh để
tránh tình trạng các chủ thể kinh doanh ký kết hợp đồng kinh tế chỉ vì lợi ích
riêng mà bất chấp pháp luật, bất chấp khả năng và thực lực của mình . Đây cũng
là căn cứ vào khả năng về vốn, vật t, năng suất lao động hiệu quả sản xuất kinh
doanh của họ để làm cơ sở quyết định cho những cam kết trong hợp đồng đợc
thực hiện.
Căn cứ vào chức năng hoạt động kinh tế tức là căn cứ vào nội dung hoạt
động trong các ngành nghề , lĩnh vực mà doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh.
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Nh vậy, đây là căn cứ để chứng minh địa vị pháp lý hợp pháp của các tổ
chức kinh tế, đồng thời khẳng định tính thực tiễn bảo đảm của hợp đồng.
1.3.4. Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng
đảm bảo tài sản của cac bên cùng ký kết.
Căn cứ này chứng minh hoạt động của các bên chủ thể tiến hành không
trái với quy định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc trực tiếp, chịu trách
nhiệm tài sản theo qui định của pháp luật. Đây là căn cứ rất quan trọng đối với
việc đảm bảo hiệu lực của hợp đồng kinh tế , tránh tình trạng vi phạm hợp đồng,
chiếm dụng vốn của nhau.
1.4. Nội dung của hợp đồng kinh tế
quy ớc đã thoả thuận: Điều khoản này nhằm trả lời câu hỏi cái gì? và bao
nhiêu? khi các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế.
- Chất lợng, chủng loại, qui cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá
hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc, theo các quy định về quản lý chất lợng sản
phẩm thì chất lợng sản phẩm bao gồm các mặt nh phẩm chất, qui cách , chủng
loại, bao bì đóng gói kể cả màu sắc. Nh vậy, các hàng hoá, công việc trong hợp
đồng đã đợc xác định bởi các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lợng sản phẩm, qui cách
và chủng loại của Nhà nớc thì các bên tham gia phải lấy đó làm cơ sở của việc
ký kết, nếu thấy khác thì cần phải lấy đó làm cơ sở của việc ký kết, nếu thấy
khác thì cần phải sửa đổi còn đối với các sản phẩm, hàng hoá, công việc trong
hợp đồng mà cha có tiêu chuẩn chất lợng cụ thể thì nhất thiết phải ghi rõ trong
hợp đồng việc thoả thuận về chất lợng hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật công
việc.
- Giá cả: Điều khoản này là điều khoản mà các bên thoả thuận về đơn
giá, các phụ phí, tỷ lệ phần trăm hoa hồng. Khi thoả thuận điều khoản này các
bên có thể thoả thuận cả khả năng điều chỉnh giá khi đó biến động giá cả của
thị trờng.
Trừ trờng hợp, sản phẩm, hàng hoá đó do cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nớc đã quy định giá hoặc khung giá thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
- Phơng thức thanh toán :
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đây là điều khoản các b ên cần thoả thuận về các hình thức và thể thức
thanh toán cũng nh thời hạn thanh toán trong hợp đồng kinh tế.
Ngoài ra, các điều khoản khác liên quan trực tiếp đến đặc điểm của từng
loại hợp đồng kinh tế cũng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế đó.
Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế, đặc biệt là điều khoản về
chất lợng sản phẩm, hàng hoá, công việc và về giá cả phải đợc ghi rõ ràng, cụ
thể theo quy định của pháp luật.
các cam két trong hợp đồng. Cũng đồng thời để các cơ quan có thẩm quyền
kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng , giải quyết các tranh chấp , xử lý các vi
phạm nếu có.
Cùng với văn bản chính là hợp đồng, các bên còn có thể ký kết các văn
bản phụ lục hợp đồng để cụ thể hoá các điều khoản của hợp đồng kinh tế ký kết
hoặc có thể là ký kết biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào
bản hợp đồng. Phụl ục hợp đồng và văn bản bổ sung có giá trị kinh tế chính.
Theo quy định tại Điều 7 khoản ghi trong Nghị định số 17/HĐBT ngày
16/1/1990 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì những loại
hợp đồng mà pháp luật qui định phải đăng ký hoặc công chứng thì các bên phải
thực hiện những quy định đó. Khi đó các bên sẽ đợc cấp chứng th hợp đồng
kinh tế, là sự xác nhận các bên đã ký kết hợp đồng kinh tế tại một cơ quan công
chứng Nhà nớc (nếu không có cơ quan công chứng thì làm chứng th cơ quan có
đăng ký kinh doanh). Hợp đồng kinh tế đợc ký kết mà pháp luật đòi hỏi phải có
đăng ký thì không đợc ký kết theo sự uỷ quyền.
Nh vậy, đây cũng là một điểm khác so với hợp đồng dân sự (không bắt
buộc phải ký bằng văn bản)
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.6. Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế :
Trình tự , thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế đợc hiểu là cách thức các bớc
mà các bên tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thiết lập quan hệ hợp
đồng kinh tế. Các bên có thể lựa chọn một trong hai cách ký kết sau:
* Cách ký kết trực tiếp : là cánh mà theo đó ngời đại diện có thẩm quyền
của các bên trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí về xác định
nội dung của hợp đồng là cùng ký tên các văn bản hợp đồng. Hợp đồng kinh tế
đợc coi là hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn
bản, trừ trờng hợp hợp đồng kinh tế phải đăng ký thì mới có hiệu lực. Hợp đồng
đợc ký theo cách này đợc hình thành một cách nhanh chóng và có hiệu quả hơn.
dẫn) những nguyên tắc chỉ đạo việc thực hiện hợp đồng kinh tế bao gồm :
- Nguyên tắc chấp hành thực hiện : là các bên phải thực hiện đúng những
điều đã cam kết trong hợp đồng: đúng đối tợng, chất lợng, số lợng, chủng loại,
thời hạn, phơng thức và các thỏa thuận khác, không đợc tự ý thay đổi đối tợng
trong hợp đồng.
- Nguyên tắc chấp hành đúng: là nguyên tắc thực hiện một cách trung
thực , đầy đủ, chính xác nghĩa vụ đã cam kết tỏng hợp đồng, nhằm đảm bảo tính
hợp tác và tin cậy lẫn nhau .
- Nguyên tắc chấp hành trên tinh thần hợp tác cùng có lợi :
Là nguyên tắc đòi hỏi các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế
phải hợp tác chặt chẽ, thờng xuyên theo dõi , giúp đỡ lẫn nhau để khắc phcụ các
khó khăn nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết. Ngay cả khi
có tranh chấp xẩy ra các bên đều phải chủ động gặp gỡ để bàn bạc, cùng nhau
tìm ra phơng án giải quyết tối u . Các bên tôn trọng lợi ích của nhau, lợi ích của
Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của ngời khác.
2.2. Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng kinh tế
Trong trờng hợp , hợp đồng đã ký kết mà một bên (ben có nghĩa vụ)
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng sẽ ảnh hởng trực tiếp tới quyền lợi
của bên kia (bên có quyền). Do vậy yêu cầu đặt ra cần phải có những biện pháp
bảo đảm quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế. Theo
điều 324 Bộ luật dân sự và điều 5 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các biện pháp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng bao gồm : cầm cố tài sản, thế chấp tài
sản, bảo lãnh...
2.2.1 Cầm cố tài sản :
Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc
quyền sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng kinh tế; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì có thể thoả thuận
chấp xác nhận việc giải trừ thế chấp.
2.2.3. Bảo lãnh tài sản :
Là biện pháp bảo đảm hợp đồng trong đó có cá nhân hay tổ chức (ngời
bảo lãnh) có sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để chịu
trách nhiệm tài sản thay thế cho ngời đợc bảo lãnh khi ngời này vi phạm hợp
đồng kinh tế đã ký kết. Ngời nhận bảo lãnh phải có số tài sản bảo lãnh không ít
hơn số tài sản mà ngời đó nhận bảolãnh.
Việc bảo lãnh phải đợc lập thành văn bản có chứng nhận của cơ quan
công chứng Nhà nớc và xác nhận về giá trị tài sản của ngân hàng nơi ngời đợc
bảo lãnh giao dịch.
Việc bảo lãnh chấm dứt khi nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đợc bảo lãnh đã
hoàn thành.
2.3. Thực hiện hợp đồng kinh tế
Thực hiện hợp đồng kinh tế là các bên thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết
trong hợp đồng. Nội dung thực hiện hợp đồng kinh tế bao gồm :
2.3.1. Thực hiện đúng điều khoản về đối tợng của hợp đồng
Thực hiện đúng điều khoản về đối tợng của hợp đồng kinh tế là một trong
những điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Bên có nghĩa vụ giao đầy đủ số lợng,
trọng lợng, khối lợng hàng hoá hoặc khối lợng công việc cho bên có quyền theo
thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
Nếu sản phẩm là hàng hoá giao không đúng số lợng, công việc không
thực hiện đúng khối lợng thì bên nhận chỉ nhận và thanh toán theo số lợng thực
nhận, số còn lại sẽ yêu cầu bên có nghĩa vụ giao tiếp sau đó, ngoài ra có quyền
đòi phạt phần thiếu và đòi đền bù thiệt hại (nếu có)
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối với trờng hợp sản phẩm đợc giao không đồng bộ và không sử dụng
đợc thì bên nhận có quyền từ chối tiếp nhận và từ chối thanh toán cho tới khi
hoàn thành đồng bộ. Trờng hợp giao hàng hoá không đồng bộ , bên nhận có