Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, pháp luật luôn đóng một vai trò rất
quan trọng. Nó là tiêu chuẩn pháp lý cho mọi hoạt động trong đời sống xã hội.
Trong hệ thống pháp luật đó có pháp luật về hợp đồng kinh tế, nó điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Hiện nay, khi đã chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN thì pháp luật về hợp đồng kinh tế đã và đang là một vấn đề hết sức phức
tạp . Nền kinh tế càng phát triển thì các quan hệ kinh tế càng đa dạng và phức
tạp hơn nhiều, nó không chỉ dừng lại ở các quan hệ kinh tế trong nớc mà còn có
sự tham gia bởi các nhân tô nớc ngoài.
Song cho đến nay, pháp luật hiện hành về chế độ hợp đồng kinh tế của
chúng ta vẫn là pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 cùng với các văn
bản cụ thể hoá và hớng dẫn thi hành pháp lệnh. Thực tế cho thấy pháp lệnh này
còn có nhiều điểm cha phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế hiện nay.
Những hạn chế và thiếu sót đó đã gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh
trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế và đồng thời cũng gây trở
ngại cho h của các cơ quan quản lý về hợp đồng kinh tế.
Bên cạnh đó, trong điều kiện nớc ta hiện nay, Bộ luật dân sự và Luật th-
ơng mại là hai văn bản rất quan trọng đã đợc thông qua và có hiệu lực đã đáp
ứng đợc những đòi hỏi trong đời sống xã hội. Trong khi đó pháp lệnh hợp đồng
kinh tế sau mọt thời gian dài không còn phù hợp, không còn đáp ứng đợc yêu
cầu thực tiễn sôi động của nền kinh tế thị trờng. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra
những điểm hạn chế và đa ra phơng hớng sửa đổi bổ sung là rất cần thiết.
Xuât phát từ những đòi hỏi đó, bằng những kiến thức đã đợc trang bị
cùng với nhận thức về thực tiễn trong quá trình thực tập tại Công ty quan hệ
quốc tế - Đầu t sản xuất (CIRI), tôi chọn đề tài : "Hợp đồng thuê nhà xởng tại
công ty Quan hệ quốc tế - Đầu t sản xuất (CIRT), chế độ pháp lý và thực tiễn
áp dụng" để làm đề tài chuyên đề thực tập cho mình, nhằm nghiên cứu và góp
phần vào công cuộc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.
nguyện, bình đẳng, thật thà, cùng có lợi của các đơng sự tham gia hợp đồng
trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan
Nhà nớc nh : hợp đồng phải đăng ký tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền,
quyền huỷ bỏ hợp đồng bị hạn chế.v.v....
2. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ bớc đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung (1960 - 1974)
Là thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân đã căn bản hoàn
thành. Nhà nớc chủ trơng phát triển nền kinh tế theo kế hoạch , chịu sự điều
hành của Nhà nớc. Vì thế, chế độ hợp đồng kinh doanh cũng đợc thay đổi. Điều
lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế do Chính phủ ban hành theo Nghị định
số 004/TTg ngày 4/1/1960 quy định một kiểu hợp đồng mới, hợp đồng đợc ký
kết trên cơ sở kế hoạch Nhà nớc.
Đặc điểm của điều lệ tạm thời là nhằm tăng cờng mối quan hệ kinh tế
giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nớc. Coi ký kết hợp đồng kinh tế
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là kỷ luật Nhà nớc trong quan hệ kinh tế và chỉ đợc ký kết hợp đồng kinh tế
trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc, đồng thời cũng không đợc tự ý thơng
lợng điều chỉnh hợp đồng kinh tế nếu không có sự đồng ý của cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền.... Do đó, chế độ hợp đồng kinh tế đợc chia làm hai loại : hợp
đồng nguyên tắc và hợp đồng cụ thể.
Bên cạnh đó, Điều lệ tạm thời - cũng qui định việc thành lập Hội đồng
trọng tài với t cách là cơ quan tài phán Nhà nớc có chức năng giải quyết các
tranh chấp trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, chế độ hợp đồng kinh tế thờng kỳ này là công cụ pháp lý của
việc thực hiện kế hoạch Nhà nớc, với bản chất mang đậm yếu tố kế hoạch còn
yếu tố tài sản là thứ yếu.
3. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ thực hiện chủ trơng cải tiến quản
lý kinh tế (1975 - 1988)
Đây là thời kỳ nền kinh tế thực hiện việc quản lý theo phơng thức kinh
nghiệp Nhà nớc hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nớc giao và chính phủ
cũng có văn bản qui định riêng (Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của
Hội đồng bộ trởng)
Nh vậy, những điểm đổi mới của chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này đã
đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần, bớc đầu xây
dựng nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu chế độ hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
II. Khái quát về hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong các mối quan hệ xã hội có những quan hệ đợc các bên thoả thuận
thiết lập nhằm mục đích làm phát sinh những đổi thay chấm dứt quyền và nghĩa
vụ - giữa các bên với nhau. Những mối quan hệ thuộc loại này đợc gọi chung là
quan hệ hợp đồng. Cũng nh vậy quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế đợc
gọi là quan hệ hợp đồng kinh tế . Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế th-
ờng đợc hiểu theo hai nghĩa. Đó là nghĩa khách quan và chủ quan.
- Theo nghĩa khách quan (tức là dới góc độ ý chí Nhà nớc ) : hợp đồng
kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nớc ban hành để điều chỉnh
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các quan hệ kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các bên
chủ thể kinh doanh với nhau (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế hay pháp luật
về hợp đồng kinh tế). Chế độ hợp đồng kinh tế của nớc ta mang đặc thù của
pháp luật xã hội chủ nghĩa nó bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc
ký kết t cách chủ thể tham gia; trình tự và thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế; các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng nh các nguyên tắc và nội dung thực
hiện; các điều kiện và cách thức giải quyết hậu quả của việc thay đổi, huỷ bỏ,
đình chỉ và thanh lý hợp đồng kinh tế; quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc
thực hiện hợp đồng kinh tế; trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , sự thay đổi của quan hệ kinh tế,
mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt. Đặc điểm này dùng để phân
biệt hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự, hơn nữa mục đích kinh doanh là đặc
trng của các quan hệ kinh tế.
2.2 Đặc điểm về chủ thể hợp đồng kinh tế :
Theo Điều 2 - pháp lệnh hợp đồng kinh tế, thì hợp đồng kinh tế đợc ký
kết giữa các bên : pháp nhân với pháp nhân; pháp nhân với cá nhân có đăng ký
kinh doanh theo qui định của pháp luật. Nh vậy theo qui định này thì chủ thể ký
kết hợp đồng kinh tế phải là chủ thể có điều kiện tổ chức, phải là pháp nhân và
luôn phải là một bên ký kết, còn bên kia có thể là cá nhân có đăng ký kinh
doanh.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh đợc hiểu là cá nhân đợc cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
2.3 Đặc điểm về hình thức hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế có thể ký kết dới hình thức văn bản hợp đồng hoặc tài
liệu giao dịch (nh công văn, điện báo, đơn chào hàng, đặt hàng). Ngoài ra các
bên có thể ký kết các văn bản phụ lục hợp đồng cụ thể hoá các điều kiện trong
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hợp đồng hoặc biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào văn bản
hợp đồng. Phụ lục hợp đồng và biên bản bổ sung có giá trị pháp lý nh hợp đồng
kinh tế.
3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Dựa trên những căn cứ khác nhau mà hợp đồng kinh tế đợc phân thành
nhiều loại khác nhau.
3.1 Căn cứ và tính chất của quan hệ hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm
các loại sau:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù :
Là loại hợp đồng mà theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tơng xứng
nhau (quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngợc lại). Trong quan hệ
hợp đồng, một bên có nghĩa vụ giao hàng hoá, thực hiện dịch vụ hoặc kết quả
ký kết hợp đồng kinh tế giữa những đơn vị kinh tế đợc giao nhiệm vụ kế hoạch
là nghĩa vụ, là kỷ luật của Nhà nớc. Hợp đồng này mang tính kế hoạch cao, vì
thế, tính tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể của hợp đồng bị hạn chế. Tuy
nhiên, trong cơ chế mới loại hợp đồng này không còn đợc áp dụng phổ biến nữa
mà chỉ những doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động công ích mới thực hiện nhiệm
vụ kế hoạch Nhà nớc giao.
* Hợp đồng kinh tế thông thờng :
Loại hợp đồng này đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các
bên cùng có lợi . Việc ký kết hợp đồng là quyền tự do ý chí của các đơn vị kinh
tế , không một tổ chức hay cá nhân nào đợc áp đặt ý chí của mình cho các đơn
vị kinh tế khác. Trong cơ chế mới này, loại hợp đồng này đợc áp dụng rất phổ
biến.
3.4 Căn cứ vào nội dung giao dịch của quan hệ hợp đồng gồm:
* Hợp đồng mua bán hàng hoá
Là hợp đồng mà theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá và
quyền sở hữu đối với hàng hoá đó cho bên mua theo đúng điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và thanh toán
tiền hàng. Quan hệ hợp đồng này là quan hệ trao đổi hàng hoá, gọi là quan hệ
hàng hoá - tiền tệ
* Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Là hợp đồng mà theo đó bên vận tải hàng hoá có nghĩa vụ vận chuyển
hàng hoá nhất định đến địa điểm đã ấn định để giao cho bên nhận hàng, còn
bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cho bên vận tải một khoản tiền nhất định
gọi là cớc phí vận chuyển.
* Hợp đồng xây dựng cơ bản :
Là hợp đồng kinh tế trong đó bên nhận thầu có nghĩa vụ xây dựng và bàn
giao cho bên giao thầu toàn bộ công trình theo đúng đồ án thiết kế và thời hạn
nh đã thoả thuận trong hợp đồng, còn ben giao thầu có nghĩa vụ bàn giao mặt
Theo điều 3 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế : "Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ
chính đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, bảo vệ lợi ích của xã hội,
việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc pháp luật quy định, phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định đợc quy định trong chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế"
thì ký kết hợp đồng kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
1.1.1 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc này là quyền tự do ý chí (tự do khế ớc) của các chủ thể kinh
doanh đợc pháp luật cho phép để làm phát sinh quan hệ hợp đồng kinh tế mà
không có sự áp đặt ý chí của các bên với nhau hoặc của tổ chức, cá nhân khác
nhau. Việc tham gia hợp đồng hay không là do các bên toàn quyền định đoạt.
Mọi sự ép buộc ký kết hợp đồng kinh tế giữa bên này đối với bên kia - đều làm
cho hợp đồng kinh tế vô hiệu.Do đó, tự nguyện là nguyên tắc bắt buộc phải có
và cũng là nguyên tắc của hầu hết các loại hợp đồng. Theo nguyên tắc này , việc
ký kết hợp đồng kinh tế phải là mong muốn thực sự của các bên tham gia nhằm
đạt đợc mục đích nhất định. Theo đó, các bên có quyền lựa chọn bạn hàng, lựa
chọn địa chỉ cung ứng vật t, thời điểm ký kết hợp đồng cũng nh nội dung ký
kết.... Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ đợc coi là hình thành và có giá trị pháp lý
nếu có sự thoả thuận giữa các bên đợc thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các
bên.
Tại điều 4 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế qui định : "Ký kết hợp đồng
kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào đợc áp đặt ý chí của mình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng. Không
một đơn vị nào đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
pháp luật". Đây là một quy định thể hiện sự đổi mới rõ rệt của chế độ hợp đồng
kinh tế , nhằm đảm bảo thực sự quyền tự chủ, tự do ký kết hợp đồng, đó là
"quyền của các chủ thể - chứ không phải là "nghĩa vụ" của họ nh trớc đây.
Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu
pháp lệnh của Nhà nớc, bởi vì theo loại hợp đồng này bị chỉ tiêu pháp lệnh chi
đợc coi là hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về tất cả các điều
khoản trong hợp đồng.
Tuy nhiên, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ ở đây phải song hành với t t-
ởng hai bên cùng có lợi nhng không nhất thiết các bên phải lợi ích nh nhau mà
mỗi bên đều có lợi ích riêng theo mục đích của mình, đồng thời, nó đòi hỏi các
bên phải biết tôn trọng lợi ích của nhau, không thể để lợi ích của bạn hàng lấn
át lợi ích của mình và ngợc lại không để lợi ích của mình lấn át lợi ích của bạn
hàng. Vì thế, đây chính là t tởng giúp cho quan hệ đợc làm ăn lâu dài.
1.1.3 Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất và không trái pháp
luật
- Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là nếu có vi phạm hợp đồng
kinh tế, thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi th-
ờng thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bằng chính tài sản của
mình mà không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân có lỗi đã gây ra vi
phạm đó, trừ các trờng hợp miễm giảm trách nhiệm vật chất. Có nghĩa là, khi
hợp đồng kinh tế đợc ký kết thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những
điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Nguyên tắc này đợc qui định trong Điều
29 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 21 Nghị định 17/HĐBT đã dẫn. Đây là
một điểm mới của hợp đồng kinh tế theo pháp luật hiện hành. Trớc đây, trong
thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp, nếu trong quan hệ hợp đồng kinh tế mà có vi
phạm hợp đồng thì bên vi phạm không chịu trách nhiệm với bên kia mà chịu
trách nhiệm trớc Nhà nớc nh là một hình thức vi phạm kỷ luật Nhà nớc.
- Nguyên tắc không trái pháp luật đòi hỏi chủ cụ thể, hình thức thủ tục ký
két và nội dung hợp đồng kinh tế phải hợp pháp (tuân thủ đúng các quy định
của pháp luật). Mọi vấn đề kể trên mà trái vơi squy định của pháp luật đều làm
cho hợp đồng đó trở thành vô hiệu và có thể gây ra thiệt hại về mặt vật chất cho
các bên và cho cả Nhà nớc. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng trong
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
việc bảo vệ trật tự kỷ cơng pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nớc
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xác lập hợp đồng kinh tế với tổ chức, cá nhân nớc ngoài có vốn đầu t ở Việt
Nam, các doanh nghiệp không có t cách pháp nhân (doanh nghiệp t nhân, công
ty hợp doanh) , hộ kinh doanh cá thể, ngời làm công tác khoa học kỹ thuật,
nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ng dân ca thể nếu nội dung của hợp đồng
không nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng, thuê lao động.
Để hình thành quan hệ hợp đồng kinh tế thì phải có sự tham gia ký kết
của các bên chủ thể hợp đồng kinh tế . Thay mặt cho các bên chủ thể hợp đồng
kinh tế đó cần phải có một ngời đại diện để ký kết hợp đồng kinh tế. Theo điều
9 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì đại diện ký kết hợp đồng kinh tế có hai loại :
* Đại diện thơng nhân :
Đó là ngời đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc ngời đứng tên đăng ký
kinh doanh . Đối với pháp nhân, đại diện hợp pháp của pháp nhân là ngời đợc
bổ nhiệm hay đợc bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và hiện đang giữ
chức vụ gì đó (Điều 52 Nghị định 17/HĐBT ) . Đối với doanh nghiệp t nhân là
chủ doanh nghiệp hoặc ngời đợc doanh nghiệp thuê làm giám đốc. Đối với cá
nhân là chính ngời đó, đối với hộ kinh doanh cá thể, hộ kinh tế gia đình là chủ
hộ.
Ngời đứng tên đăng ký kinh doanh là ngời đứng tên xin cấp giấy phép
đăng ký kinh doanh , đợc cấp giấy kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh tại cơ
quan có tên.
* Đại diện theo uỷ quyền
Là ngời đợc đại diện đơng nhiên uỷ quyền thay mình ký kết hợp đồng
kinh tế theo quy định của pháp luật . Việc uỷ quyền này phải đợc thể hiện bằng
văn bản. Trớc khi ký kết hợp đồng kinh tế , ngời đợc uỷ quyền phải trình giấy
uỷ quyền cho bên đối tác kiểm tra uỷ quyền có thể theo vụ việc hoặc thờng
xuyên. Ngời uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về việc uỷ quyền của mình. Ngời
đợc uỷ quyền chỉ đợc hành động trong phạm vi uỷ quyền và không đợc uỷ
quyền lại cho ngời thứ ba.
1.3. Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế
Căn cứ vào chức năng hoạt động kinh tế tức là căn cứ vào nội dung hoạt
động trong các ngành nghề , lĩnh vực mà doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Nh vậy, đây là căn cứ để chứng minh địa vị pháp lý hợp pháp của các tổ
chức kinh tế, đồng thời khẳng định tính thực tiễn bảo đảm của hợp đồng.
1.3.4. Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng
đảm bảo tài sản của cac bên cùng ký kết.
Căn cứ này chứng minh hoạt động của các bên chủ thể tiến hành không
trái với quy định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc trực tiếp, chịu trách
nhiệm tài sản theo qui định của pháp luật. Đây là căn cứ rất quan trọng đối với
việc đảm bảo hiệu lực của hợp đồng kinh tế , tránh tình trạng vi phạm hợp đồng,
chiếm dụng vốn của nhau.
1.4. Nội dung của hợp đồng kinh tế
Nội dung của hợp đồng kinh tế là toàn bộ những gì mà hai bên thoả
thuận, thể hiện và nghĩa vụ của các bên ràng buộc với nhau trong quan hệ hợp
đồng.
Thông thờng về mặt pháp lý, nội dung của hợp đồng kinh tế đợc thể hiện
ở ba loại điều khoản.
Một là, điều khoản thờng lệ - Là những điều khoản mà nội dung đã đợc
pháp luật qui định mà nếu các bên không ghi vào hợp đồng thì coi nh mặc nhiên
thừa nhận và phải có trách nhiệm thực hiện các qui định đó nh đã thoả thuận .
Ngợc lại nếu ghi vào hợp đồng thì không đợc thoả thuận trái với quy định đó.
Ví dụ : Điều khoản về khung phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, về bồi thờng thiệt
hại.v.v....
Nh vậy, các bên tham gia có thể thoả thuận hay không thoả thuận các
điều khoản thờng lệ thì hợp đồng vẫn hình thành khi đã có đủ các điều khoản
chủ yếu.
Hai là, điều khoản chủ yếu : Là những điều khoản cơ bản quan trọng
nhất của hợp đồng mà bắt buộc các bên phải thoả thuận và ghi vào hợp đồng,
Trừ trờng hợp, sản phẩm, hàng hoá đó do cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nớc đã quy định giá hoặc khung giá thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
- Phơng thức thanh toán :
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đây là điều khoản các b ên cần thoả thuận về các hình thức và thể thức
thanh toán cũng nh thời hạn thanh toán trong hợp đồng kinh tế.
Ngoài ra, các điều khoản khác liên quan trực tiếp đến đặc điểm của từng
loại hợp đồng kinh tế cũng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế đó.
Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế, đặc biệt là điều khoản về
chất lợng sản phẩm, hàng hoá, công việc và về giá cả phải đợc ghi rõ ràng, cụ
thể theo quy định của pháp luật.
Ba là, điều khoản tuỳ nghi: Là những điều khoản do các bên tự thoả
thuận với nhau khi cha có quy định của pháp luật hoặc đã có quy định nhng các
bên đợc vận dụng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh thực tế của mình mà không
trái pháp luật. Chẳng hạn, điều khoản về bảo hành đối với những sản phẩm,
hàng hoá, công việc cha có quy định của Nhà nớc về bảo hành; điều khoản về
điều kiện nghiệm thu, giao nhận sản phẩm, công việc; điều khoản trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng kinh tế; điều khoản có hiệu lực của hợp đồng kinh tế....
Điều khoản tuỳ nghi là điều khoản phụ nó không ảnh hởng đến việc hình thành
hợp đồng kinh tế mà chỉ là các điều khoản nhằm kích thích hoàn thiện về nghĩa
vụ hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, nội dung của hợp đồng kinh tế thể rhiện ý chí tự nguyện của các
bên nhng không đợc trái với quy định của pháp luật. Những hợp đồng kinh tế
rơi vào trờng hợp sau đây là hợp đồng trái pháp luật và coi là vô hiệu
- Nội dung của hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật
- Một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc và thoả thuận trong
hợp đồng.
- Ngời ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa
1.6. Trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế :
Trình tự , thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế đợc hiểu là cách thức các bớc
mà các bên tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thiết lập quan hệ hợp
đồng kinh tế. Các bên có thể lựa chọn một trong hai cách ký kết sau:
* Cách ký kết trực tiếp : là cánh mà theo đó ngời đại diện có thẩm quyền
của các bên trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí về xác định
nội dung của hợp đồng là cùng ký tên các văn bản hợp đồng. Hợp đồng kinh tế
đợc coi là hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn
bản, trừ trờng hợp hợp đồng kinh tế phải đăng ký thì mới có hiệu lực. Hợp đồng
đợc ký theo cách này đợc hình thành một cách nhanh chóng và có hiệu quả hơn.
* Cách ký kết gián tiếp : là cách mà theo đó các bên thoả thuận với nhau
những vấn đề về nội dung hợp đồng bằng cách gửi cho nhau dự thảo hợp đồng
hoặc tài liệu giao dịch có chứa đựng nội dung cần giao dịch. Theo cách này việc
ký kết hợp đồng thông thờng phải theo hai bớc sau :
Bớc 1 : Đề nghị lập hợp đồng : Bên đề nghị đa ra những điều khoản chủ
yếu của hợp đồng (hàng hoá, hoặc dịch vụ, số lợng , chất lợng, thời gian, giá
cả....), thời hạn trả lời và ký trớc vào bản dự thảo hợp đồng sau đó gửi cho bên
kia xem xét và có quyết định lập hợp đồng hay không. Thời hạn lập hợp đồng
ràng buộc pháp lý đối với bên đề nghị: trong thời hạn đó bên đề nghị không đợc
đề nghị lập hợp đồng với một ngời thứ ba nếu đề nghị đợc chấp nhận thì bên đề
nghị không đợc thay đổi ý kiến.
Bớc 2 : Chấp nhận đề nghị : Bên đợc đề nghị có trách nhiệm trả lời bằng
văn bản cho bên đề nghị trong thời gian đề nghị. Nếu thống nhất hoàn toàn với
bên đề nghị thì gọi là chấp nhận đề nghị và hợp đồng kinh tế đợc hình thành và
có hiệu lực pháp lý từ khi bên đợc đề nghị thể hiện sự thoả thuận về tất cả các
điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Trờng hợp bên đợc đề nghị đa kèm theo những đề nghị khác thì coi nh
bên đó từ chối đề nghị và trở thành ngời đề nghị mới. Đề nghị mới phải đợc ng-
ời đề nghị trớc đó đồng ý thì mới hình thành hợp đồng.
21
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng bao gồm : cầm cố tài sản, thế chấp tài
sản, bảo lãnh...
2.2.1 Cầm cố tài sản :
Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc
quyền sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng kinh tế; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì có thể thoả thuận
để bên cầm cố vẫn giữ tài sản hoặc giao cho ngời thứ ba giữ. Việc cầm cố tài
sản đợc lập thành văn bản, có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Văn
bản cầm cố phải có chứng nhận của công chứng Nhà nớc hoặc chứng thực của
Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Đối với tài sản mà pháp luật qui định phải
đăng ký quyền sở hữu thì việc cầm cố tài sản đó cũng phải đợc đăng ký.
Ngời giữ vật cầm cố bảo đảm nguyên giá trị của hiện vật cầm cố; không
đợc chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho ngời khác trong thời gian văn bản có
hiệu lực.
Khi nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đã thực hiện xong, việc cầm cố tài sản
chấm dứt thì tài sản cầm cố, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đợc hoàn trả cho
bên cầm cố.
2.2.2. Thế chấp tài sản:
Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ hợp đồng kinh tế dùng tài sản là
bất động sản thuộc sở hữu cua rmình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên
có quyền.
Việc thế chấp tài sản đợc lập thành văn bản (văn bản riêng hoặc ghi trong
hợp đồng chính) và phải có chứng nhận của công chứng Nhà nớc hoặc cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền . Nếu bất động sản có đăng ký quyền sở hữu thì việc
thế chấp phải đợc đăng ký.
Ngời thế chấp tài sản có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản thế
chấp, không đợc chuyển dịch quyền sở hữu hoặc chuyển giao tài sản đó cho ng-
ời khác trong thời gian văn bản thế chấp còn có hiệu lực.
đòi phạt phần thiếu và đòi đền bù thiệt hại (nếu có)
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với trờng hợp sản phẩm đợc giao không đồng bộ và không sử dụng
đợc thì bên nhận có quyền từ chối tiếp nhận và từ chối thanh toán cho tới khi
hoàn thành đồng bộ. Trờng hợp giao hàng hoá không đồng bộ , bên nhận có
quyền lựa chọn một trong hai cách xử lý sau :
- Yêu cầu bên vi phạm phải hoàn thành đồng bộ rồi mới tiếp nhận. Bên vi
phạm phải bị phạt giao hàng chậm.
- Nhận sản phẩm hàng hoá, công việc cha đồng bộ với điều kiện bên vi
phạm chịu phạt vi phạm hợp đồng vì không hoàn thành đồng bộ và trả các chi
phí cần thiết để hoàn thành đồng bộ.
Trong khi giao nhận hàng hoá, các bên phải kiểm tra về mặt khối lợng, số
lợng và phải nộp biên bản, chứng từ bàn giao để làm cơ sở cho việc giải quyết
tranh chấp xảy ra (nếu có)
2.3.2. Thực hiện đúng điều khoản về chất lợng
Điều khoản về chất lợng cũng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh
tế. Bên có nghĩa vụ giao hàng phải giao hàng đúng chất lợng , có nghĩa là hàng
hoá đợc giao phải đảm bảo khả năng sử dụng theo tiêu chuẩn chất lợng, bảo
đảm đúng phẩm chất, bao bì, đóng gói, quy cách, chủng loại theo quy định của
Nhà nớc. Của ngành, của đơn vị cơ sở hoặc theo sự thoả thuận của hai bên. Khi
giao nhận các bên phải tiến hành kiểm tra chất lợng sản phẩm hàng hoá , công
việc.
Trong trờng hợp hàng hoá, công việc đợc giao không đúng chất lợng, bên
bị vi phạm có quyền :
- Không nhận hàng hoá, công việc đợc giao không đúng chất lợng, đòi
tiền phạt vi phạm và bồi thờng thiệt hại.
- Nhận hàng hoá , công việc nhng yêu cầu giảm giá hoặc sửa chữa sai sót
trớc khi nhận và đòi bồi thờng thiệt hại.
Trờng hợp mà hợp đồng có điều khoản bảo hành thì trong thời hạn, nếu