Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO),
khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với nhau cũng như các ngân hàng
trong nước với ngân hàng nước ngoài là rất gay gắt. Để hội nhập và phát triển bền
vững các ngân hàng nói chung và chi nhánh Láng Hạ nói riêng cần chủ động tích cực
chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường tài chính quốc tế thông qua hoạt động phát
hành cổ phiếu, xây dựng chiến lược phát triển quan hệ ngân hàng, nhất là hệ thống
thông tin quản lý, hệ thống giao dịch điện tử... Hoạt động tín dụng vẫn là một trong
những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại; cũng giống như các hoạt động
kinh doanh khác, hoạt động tín dụng có thời gian hoàn vốn dài, liên quan đến các
điều kiện kinh tế diễn biến trong tương lai nên độ rủi ro rất cao. Hình thức pháp lý
của quan hệ tín dụng là hợp đồng tín dụng, mặc dù hợp đồng tín dụng đã được sử
dụng rất lâu nhưng do nền kinh tế thị trường luôn có sự thay đổi nên các văn bản ban
hành ra để điều chỉnh hợp đồng tín dụng không còn phù hợp nữa. Và hợp đồng tín
dụng là một chủng loại của hợp đồng kinh tế. Do đó, hợp đồng tín dụng vẫn còn
nhiều vướng mắc như: chủ thể có thẩm quyền ký kết, vấn đề bảo đảm tiền vay, phân
biệt hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay...Hoàn thiện việc ký kết và
thực hiện hợp đồng tín dụng là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
Ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: Chế độ pháp lý
và thực tiễn về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng
N
o
& PTNT Láng Hạ.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình chỉ bảo của thầy cô: TS.
Nguyễn Thị Thanh Thủy; THS. Vũ Văn Ngọc và chị Nguyễn Thị Hoài Anh- Cán bộ
hướng dẫn thực tập cũng như sự giúp đỡ của ban lãnh đạo chi nhánh đã tạo điều kiện
cho tôi hoàn thành đề tài này.
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.1. Về chủ thể hợp đồng tín dụng
Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều
kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy
định như luật tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp, luật ngân hàng…và các văn bản
quy phạm pháp luật. Đây cũng là điểm khác cơ bản giữa hợp đồng tín dụng với hợp
đồng vay khác. Tổ chức tín dụng có thể yêu cầu khách hàng vay vốn trong hợp đồng
tín dụng phải thoả mãn một số điều kiện nhất định về tư cách pháp lý và khả năng tài
chính như: khách hàng vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật và phải có khả năng
tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
1.2.2. Đối tượng của hợp đồng tín dụng
Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số
tiền xác định và phải được các bên thoả thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng; ngoài
ra còn có các giấy tờ có giá như quyền sử dụng đất, các tài sản khác như nhà ở…
1.2.3. Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của
bên cho vay
Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có
thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài
thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại
hợp đồng khác. Tính rủi ro này xuất phát từ những đặc thù của đối tượng của hợp
đồng tín dụng ngân hàng, đặc thù của hai bên chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân
hàng. Hợp đồng tín dụng ngân hàng khác với hợp đồng vay tài sản trong pháp luật
dân sự ở chỗ đối tượng duy nhất của hợp đồng tín dụng ngân hàng là tiền tệ, trong
khi đối tượng của hợp đồng vay tài sản có thể là tiền hoặc vật. Tiền tệ với một trong
các chức năng của mình là phương tiện thanh toán giúp cho khách hàng vay của ngân
hàng sử dụng chúng một cách dễ dàng, thậm chí sử dụng chúng ngoài những mục
đích mà họ cam kết với ngân hàng khi xin vay. Mặt khác, với tư cách là một tổ chức
động của mình như: trả lãi tiền gửi, trả lương cho nhân viên… mà còn nhằm bảo đảm
cho những hoạt động đặc trưng mang tính rủi ro cao của mình, bù đắp cho các rủi ro
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
luôn xảy ra đối với tổ chức tín dụng. Như vậy, việc thu lợi nhuận không chỉ xuất phát
từ lợi ích của tổ chức tín dụng, mà còn xuất phát lợi ích của người gửi tiền và lợi ích
của xã hội.
1.2.6. Hợp đồng tín dụng chỉ được ký kết dưới hình thức văn bản
Hợp đồng tín dụng đòi hỏi văn phạm trong việc soạn thảo hợp đồng phải dứt
khoát, rõ ràng, ngắn gọn, đủ ý và ngôn ngữ phải chính xác, cụ thể. Hình thức văn bản
là đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng. Mặc dù hợp đồng tín dụng được hình
thành trên cơ sở tín nhiệm, tin cậy lẫn nhau, song do tính chất phức tạp của quan hệ
tín dụng ngân hàng xuất phát từ tính rủi ro cao, từ đặc thù về đối tượng, về chủ thể
của quan hệ đó, mà hợp đồng tín dụng nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản.
1.2.7. Hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng ưng thuận
Hợp đồng tín dụng đã phát sinh hiệu lực ngay sau khi các bên giao kết hợp
đồng dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này dù
rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, nhưng đã phát sinh
quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Còn các
hợp đồng vay khác luôn luôn là hợp đồng thực tế, nghĩa là hợp đồng này chỉ được có
hiệu lực khi các bên thực hiện hành vi chuyển giao cho nhau đối tượng vay mà họ đã
thoả thuận.
1.3. Phân loại
Hợp đồng tín dụng có thể phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như:
1.3.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ an toàn của khách vay hợp đồng tín dụng
- Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản là sự thoả thuận bằng văn bản
giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, theo đó tổ chức tín dụng chấp thuận để khách
hàng sử dụng số tiền của mình trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn
trả và bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản của người vay hoặc người thứ ba theo sự đồng ý
2. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và không vi
phạm điều cấm của pháp luật và nó không trái với đạo đức xã hội. Nội dung của hợp
đồng tín dụng phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận về ý chí; thoả
mãn những điều kiện:
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải do chính các bên soạn thảo ra trên
tinh thần tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
- Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải phản ánh ý chí đích thực của các
bên giao kết và phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải là kết quả của sự đồng ý giữa các
bên giao kết. Sự hoà hợp ý chí chung giữa các bên ký kết là một trong những điều
kiện căn bản để đảm bảo cho sự hữu hiệu của hợp đồng tín dụng. Trái lại, nếu bất kỳ
một điều khoản nào đó của hợp đồng tín dụng mà có bằng cớ chứng minh rằng không
có sự đồng thuận giữa các bên lập ước thì điều khoản đó có thể bị coi là vô hiệu.
Nội dung hợp đồng tín dụng bao gồm:
2.1. Điều kiện vay
- Phải là tổ chức có tư cách pháp nhân, mở tài khoản tại tổ chức tín dụng cho
vay, hạch toán kinh tế độc lập, hoạt động và quản lý theo đúng quy định của cơ quan
có thẩm quyền và pháp luật của Nhà nước.
- Sản xuất kinh doanh phải có lãi và chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách của
nhà nước.
- Có đủ vốn tự có theo mức quy định, vốn vay chỉ để bổ sung vào tổng mức vốn
lưu động cần thiết.
- Chấp nhận và thực thi mọi quy định trong thể lệ tín dụng của Ngân hàng Nhà
nước và tổ chức tín dụng cho vay vốn.
2.2. Mục đích sử dụng vốn vay
biện pháp giải quyết tranh chấp nào. Nếu trong hợp đồng tín dụng không ghi điều
khoản này thì việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
3.1. Hình thức
Theo quy định tại Điều 51 luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng tín dụng
đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý. Sở dĩ pháp luật quy
định như vậy là vì những ưu điểm sau đây của việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng
văn bản:
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hợp đồng tín dụng được giao kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ
thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng.
- Việc giao kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố
công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để cho
người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, an
toàn trong trường hợp cần thiết.
- Việc giao kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ
quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn. Chẳng hạn như
việc thu thuế, lệ phí, kiểm tra, thanh tra tài chính, kiểm soát hoạt động thương mại
của các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
3.2. Thời điểm có hiệu lực
3.2.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
- Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng có năng lực hành vi dân sự:
Điều kiện này được quy định nhằm loại bỏ những giao dịch dân sự được xác
lập bởi người không có hoặc bị hạn chế năng lực hành vi. Việc quy định điều kiện
này chủ yếu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người không có khả
năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình trước nguy cơ có thể bị xâm hại bởi
Trường hợp hợp đồng tín dụng được ký trước hợp đồng bảo đảm thì vốn vay được
giải ngân sau khi hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực. Nhưng nhiều hợp đồng tín dụng
đã được ngân hàng và khách hàng thoả thuận “hợp đồng tín dụng này có hiệu lực kể
từ ngày ký hợp đồng bảo đảm hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo đảm được đăng ký giao
dịch bảo đảm. Giao dịch bảo đảm thực chất là hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
bằng tài sản, theo đó bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm về việc dùng bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự. Do vậy, các cán bộ tín dụng hiểu rằng nếu các bên đã thoả
thuận giao dịch bảo đảm là điều kiện có hiệu lực của nghĩa vụ bảo đảm, thì giao dịch
bảo đảm bị vô hiệu sẽ dẫn đến hợp đồng tín dụng bị vô hiệu. Nếu không thoả thuận
ngày có hiệu lực của hợp đồng tín dụng sau hoặc cùng với ngày có hiệu lực của hợp
đồng bảo đảm thì các bên chỉ còn lựa chọn ngày có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
trước ngày có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm. Sự thoả thuận này không an toàn cho
ngân hàng thu hồi vốn vì sau khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực và vốn vay được giải
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngân, khách hàng có thể thay đổi ý định, không dùng tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trả nợ nữa hoặc hợp đồng bảo đảm không đăng ký được tại cơ quan đăng ký
giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Tài sản được dùng để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng luôn được coi là nguồn thu nợ quan trọng đối
với ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ đến hạn.
3.2.2. Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng là điểm mốc thời gian mà
kể từ lúc đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia hợp đồng tín dụng bắt
đầu phát sinh. Trên thực tế, pháp luật của từng nước có những quy định rất khác nhau
về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng. Việc chuyển giao tiền vay
(giải ngân) là một nghĩa vụ hợp đồng của bên cho vay và nếu họ không thực hiện
đúng nghĩa vụ này thì về nguyên tắc họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với việc
vi phạm hợp đồng tín dụng.
3.2.3. Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lý của sự vô hiệu
hàng ngoại thương với khách hàng là cá nhân, tổ chức nước ngoài. Hoạt động cấp tín
dụng ngoại tệ là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề vốn trong hoạt động
sản xuất- kinh doanh với các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Việc giao kết hợp đồng tín
dụng ngoại tệ nhằm bù đắp, bổ sung phần vốn ngoại tệ tự có trong sản xuất- kinh
doanh.
- Ngân hàng ngoại thương Việt Nam nhận cho vay ngoại tệ đối với các doanh
nghiệp trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế; các doanh nghiệp được thành lập
theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam …Để được ngân hàng ngoại thương cho
vay vốn ngoại tệ, các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện:
+ Phải là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có vốn pháp định theo quy định của
nhà nước và được cơ quan quản lý Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh.
+ Phải chấp nhận các nguyên tắc cho vay của ngân hàng ngoại thương. Ngoài ra
còn phải chấp hành đầy đủ các chính sách của nhà nước về quản lý ngoại thương và
quản lý ngoại hối.
- Ngân hàng ngoại thương cho các doanh nghiệp vay ngoại tệ để sử dụng vào
mục đích:
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư, hàng hoá phục vụ cho sản xuất kinh doanh
và các dịch vụ liên quan.
+ Nhập khẩu hàng hoá để tạo vốn, thu mua hàng hoá xuất khẩu.
+ Chi trả chi phí về vận tải, bảo hiểm và các dịch vụ khác.
+ Thanh toán nợ vay tín dụng thương mại của các doanh nghiệp đã được ngân
hàng ngoại thương cấp bảo lãnh nhưng doanh nghiệp chưa có hoặc chưa đủ tiền để
thanh toán cho nước ngoài.
- Mỗi lần vay vốn, bên xin vay cùng ngân hàng ngoại thương ký kết hợp đồng
tín dụng ngoại tệ theo các điều khoản đã được hai bên thống nhất. Trình tự ký kết
hợp đồng tín dụng ngoại tệ thực hiện theo chế định ký kết hợp đồng kinh tế. Hợp
đồng tín dụng ngoại tệ thường bao gồm các nội dung sau: ngày, tháng, năm ký kết;
thủ các nguyên tắc sau
a. Nguyên tắc tự nguyện.
Hợp đồng là sự thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ
hợp đồng, do đó việc giao kết hợp đồng kinh tế phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của
các bên. Điều đó có nghĩa là các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do bày
tỏ ý chí của mình. Việc bày tỏ ý chí đó là tự nguyện chứ không phải do sự áp đặt
cưỡng bức của bất kỳ tỏ chức, cá nhân nào. Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ hình thành
và có giá trị nếu các bên thống nhất ý chí với nhau một cách tự nguyện. Trong cơ chế
thị trường việc giao kết hợp đồng là nhu cầu của chính người kinh doanh. Do đó,
pháp luật đã ghi nhận nguyên tắc tự nguyện trong việc giao kết hợp đồng kinh tế và
là quyền của người kinh doanh- đó là nguyên tắc tự do hợp đồng. Người kinh doanh
có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, tự do thoả thuận nội dung hợp đồng, tự do về việc
áp dụng các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng.
b. Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền
và nghĩa vụ. Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán để giao hợp đồng các bên đều có
quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp
nhận yêu cầu của bên kia mà không bên nào có quyền ép buộc bên nào. Trong quan
hệ hợp đồng kinh tế quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phải tương xứng với nhau.
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên nào cũng có quyền và có nghĩa vụ, đều phải chịu trách nhiệm với nhau về việc
thực hiện nghĩa vụ của mình.
c. Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản.
Khi tham gia quan hệ hợp đồng các bên phải trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản
với nhau. Các bên có thể dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ người
khác bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc này có ý
nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên trong quan hệ hợp
đồng.
- Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng
mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: Vốn vay ngân hàng cấp cho các
doanh nghiệp là nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất- kinh doanh. Nhu cầu vay vốn của
các doanh nghiệp phải gắn với mục đích kinh doanh- sản xuất. Để được vay vốn bên
đi vay phải giải trình với ngân hàng về mục đích vay vốn, kế hoạch sản xuất- kinh
doanh. Thực hiện nội dung của nguyên tắc này, ngân hàng và bên đi vay tiến hành
hoạt động của mình được bình thường, tránh tình trạng đầu tư sai mục đích, thất thoát
và lãng phí vốn.
1.2. Trình tự giao kết hợp đồng tín dụng
Trình tự ký kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bày tỏ ý chí
với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việc cùng nhau làm xác
lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Thực chất đó là quá trình mà hai bên thoả
thuận về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng.
1.2.1. Đề nghị giao kết
Để thiết lập một quan hệ hợp đồng bao giờ cũng phải có một bên đưa ra lời đề
nghị hợp đồng và bên kia chấp nhận lời đề nghị hợp đồng đó, tức là có sự thống nhất
ý chí của các bên. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu hiện ý chí của
mình trước người khác bằng cách tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết
với người đó một hợp đồng. Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là việc
khách hàng biểu hiện ý chí của mình trước tổ chức tín dụng nơi mình muốn ký kết
(nơi mà mình muốn vay vốn) bằng cách tỏ cho tổ chức tín dụng biết ý muốn tham gia
giao kết một hợp đồng tín dụng. Để bảo đảm quyền lợi của các bên và để hợp đồng
thực hiện tốt thì các bên đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
rõ ràng. Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng cách trao đổi, thoả
thuận trực tiếp với nhau. Các bên trực tiếp bàn bạc thoả thuận xác định các điều
khoản của hợp đồng, điều kiện của các bên. Nếu các bên thống nhất được với nhau
thì cùng nhau làm văn bản hợp đồng và cùng ký vào văn bản hợp đồng. Quan hệ hợp
1.2.3. Thẩm định hồ sơ tín dụng
Hồ sơ tín dụng tốt phải đảm bảo các yếu tố sau: Các thông tin cơ bản về doanh
nghiệp xin vay; thông tin tài chính hiện tại; lịch sử tài chính; thông tin về mục đích
vay vốn; thoả thuận hoàn trả khoản vay; các dự toán về hoạt động sản xuất kinh
doanh trong tương lai và vốn hoạt động; các thông tin cụ thể về giao dịch tín dụng
với doanh nghiệp; bản sao của mọi quan hệ có liên quan đến doanh nghiệp xin vay.
Hồ sơ tín dụng không chỉ giúp cán bộ tín dụng làm việc tốt hơn mà còn cho
phép các cán bộ khác chưa quen với khoản vay, có thể tiếp nhận và xử lý khoản vay
đó. Đây cũng là nguồn cung cấp thông tin đầy đủ cho người kiểm soát ngân hàng và
kiểm toán viên trong việc ra quyết định về khả năng chấp thuận khoản vay.
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ- pháp
lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm kiểm tra và xác định các điều kiện vay vốn,
trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không đối với khách hàng. Bản báo cáo này
phải được gửi cho người có thẩm quyền quản lý trong tổ chức tín dụng để quyết định
cho vay hoặc từ chối cho vay đối với khách hàng. Trong trường hợp từ chối cho vay,
tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ những
căn cứ từ chối cho vay.
1.2.4. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lý do bên nhận
đề nghị (tổ chức tín dụng) thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho
bên kia (bên đề nghị hợp đồng) với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín
dụng. Về phương diện lý thuyết, việc một bên chấp nhận vô điều kiện văn bản đề
nghị hợp đồng của bên kia có thể làm phát sinh một hợp đồng giữa họ với nhau, nếu
trong văn bản đề nghị đã hội đủ các điều khoản cốt yếu của chủng loại hợp đồng mà
họ mong muốn giao kết. Tuy nhiên đối với hợp đồng tín dụng, do loại giao dịch này
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vốn có ảnh hưởng sâu sắc và mang tính dây chuyền đối với cả hệ thống kinh tế trong
một quốc gia nên các luật gia cho rằng việc một bên gửi văn bản thông báo chấp nhận
2.1. Nguyên tắc thực hiện
Sau khi giao kết hợp đồng các bên phải thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ
quan hệ hợp đồng. Việc thực hiện các nghĩa vụ đó phải tuân theo những nguyên tắc
sau:
- Nguyên tắc chấp hành đúng: nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải chấp hành
đúng, đầy đủ và trung thực các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng; đồng thời cho
phép mỗi bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của họ. Các
bên phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng. Nhưng việc
chấp hành đúng phải không được trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người
thực hiện nghĩa vụ ngoài việc tôn trọng những nghĩa vụ đã cam kết hoặc pháp luật đã
quy định còn phải tôn trọng và tuân thủ những quy định chung của pháp luật trong
suốt quá trình thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Nguyên tắc chấp hành trên tinh thần hợp tác: nguyên tắc này đòi hỏi các bên
phải hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nghĩa vụ. Các bên hợp tác
với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh những
điều khoản của hợp đồng, để đáp ứng nhu cầu và bảo đảm lợi ích cho các bên trong
quan hệ nghĩa vụ. Nếu thấy hợp đồng có thể bị vi phạm phải kịp thời thông báo cho
nhau biết để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra hoặc khi đã có vi phạm hợp đồng, phải
tìm mọi cách để hạn chế thiệt hại. Nếu bên nào có điều kiện mà không thực hiện các
biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải gánh chịu thiệt hại.
- Nguyên tắc vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi, theo
đùng thời hạn đã quy định: Thực hiện vai trò trung gian của mình, ngân hàng vừa là
người đi vay, vừa là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng tham gia
vào các quan hệ pháp luật với những người cho vay. Ngân hàng có trách nhiệm trả
tiền cho người gửi. Với tư cách là người cho vay, ngân hàng là người có quyền quyết
định cho người khác vay và yêu cầu người đi vay hoàn trả cả tiền gốc và tiền lãi. Ở
loại quan hệ này, ngân hàng thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh, vừa phải
bảo đảm thu đủ tiền gốc đã cho vay vừa phải bảo đảm thu đủ tiền lãi vay. Đây là
nguyên tắc áp dụng cho cả ngân hàng và người đi vay. Nguyên tắc này vừa là cơ sở
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
sẵn có, buộc doanh nghiệp bán sản phẩm hay cung cấp dịch vụ ở mức giá hợp lý để
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tạo nhu cầu có khả năng thanh toán bằng tiền mặt và nhất là cần tận dụng hết tài sản
có của doanh nghiệp, tìm cách chuyển hoá nhanh tất cả loại tài sản đó thành tiền mặt
tạo nguồn trả nợ cho ngân hàng.
2.2.3. Thanh lý hợp đồng tín dụng
- Tất toán khoản vay: khi khách hàng trả nợ, cán bộ tín dụng tiến hành phối hợp
với bộ phận kế toán đối chiếu, kiểm tra về số tiền trả nợ gốc, lãi, phí… để tất toán
khoản vay.
- Thanh lý hợp đồng tín dụng: Thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết; khi bên vay trả xong nợ gốc và lãi thì
hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản thanh
lý hợp đồng. Trường hợp bên vay yêu cầu, cán bộ tổ chức tín dụng soạn thảo biên
bản thanh lý hợp đồng trình trưởng phòng tín dụng kiểm soát và trưởng phòng tín
dụng trình lên lãnh đạo ký biên bản thanh lý.
Thực hiện xử lý rủi ro bảo đảm tiền vay: Các bên thoả thuận về việc thực hiện
các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Trong trường hợp các bên thoả thuận
thực hiện phương thức bán tài sản bảo đảm tiền vay thì bên được bán tài sản có thể là
bên C, bên B, hoặc bên A; hai bên phối hợp cùng bán, uỷ quyền cho bên thứ ba bán,
bên được bán tài sản có thể thoả thuận bán cho người mua, uỷ quyền cho trung tâm
bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản thực hiện việc bán tài sản
bảo đảm tiền vay. Trong trường hợp bên A có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay,
bên B; C phải giao tài sản cho A để xử lý.
2.2.4. Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng
Bảo đảm tiền vay là việc NHNN áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi
ro tạo cơ sở pháp lý và kinh tế để thu hồi nợ đã vay. Tín dụng là một trong những
hoạt động chính, cơ bản mang lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Kinh doanh tín
dụng luôn gắn liền rủi ro tín dụng, ngoài việc xác định khả năng thanh toán của người
cho ngân hàng có quyền khởi kiện bên vay trước pháp luật.
Cầm cố trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng là việc người đi vay dùng
số động sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản tiền vay ngân hàng.
Về phía ngân hàng, hoạt động dịch vụ cầm cố là một hình thức cho vay bằng biện
pháp cầm cố mà bên nhận cầm cố buộc người có tài sản cầm cố phải giao vật cầm cố
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là tài sản của mình cho bên nhận cầm cố quản lý, để làm vật bảo đảm trả nợ một
khoản tiền cầm cố khi người có tài sản cầm cố hoặc người bảo lãnh không trả được
nợ. Cũng như thế chấp việc cầm cố phải được lập thành văn bản và phải được cơ
quan Công chứng Nhà nước chứng thực.
3. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tín dụng và việc giải quyết tranh
chấp
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng giữa tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng
nếu có tranh chấp nảy sinh thì các bên tự dàn xếp và thương lượng. Trường hợp các
bên không tự giải quyết được với nhau thì được quyền đưa tranh chấp đó giải quyết
tại toà án kinh tế hoặc trọng tài kinh tế phi Chính phủ.
3.1. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tín dụng
Vi phạm hợp đồng tín dụng là hành vi của một bên hoặc cả hai bên tham gia
hợp đồng, cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín
dụng. Các điều kiện sau bị coi là vi phạm hợp đồng tín dụng:
- Người thực hiện hành vi phải là các bên tham gia hợp đồng tín dụng.
- Hành vi đó trái với các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hành
vi làm trái với cam kết trong hợp đồng tín dụng thường là hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Để chứng minh một hành vi rõ ràng
là trái với cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên có quyền lợi bị xâm hại bởi hành vi
đó phải dẫn chứng, đồng thời phải chứng minh rằng người đó đã thực hiện hành vi
trái với những cam kết của chính họ trong hợp đồng tín dụng.
- Bên thực hiện hành vi có một lỗi xác định là cố ý hoặc vô ý. Bên có quyền lợi
hai trường hợp sau:
+ Nếu hợp đồng tín dụng có quy định thời hạn phải chịu lãi chậm trả thì thời hiệu
khởi kiện được tính từ ngày liền sau ngày hết hạn lãi chậm trả. Đối với hợp đồng tín
dụng càng chặt chẽ hơn và bao giờ cũng thể hiện rõ thời hạn trả nợ cụ thể cùng với
lãi suất vay.
+ Nếu hợp đồng tín dụng không quy định thời hạn phải chịu lãi chậm trả thì thời
hiệu khởi kiện không hạn chế. Việc hai bên xác lập một khế ước vay vốn đã hình
thành mối quan hệ gắn liền với khối tài sản vay cũng như tài sản khác nhằm bảo đảm
việc vay vốn. Việc các thành phần kinh tế tham gia vay vốn của ngân hàng là hoàn
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
25