Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mục lục
Mở đầu……………………………………………………………4
ChươngI.CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ
1. Khái quát về hợp đồng đại lý……………………………….………….....5
1.1 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường……………………..5
1.2 Quá trình phát triển của pháp luật về hợp đồng đại lý………..…….….6
1.3 Khái quát về đại lý thương mại………………………………………..9
1.4 Những điểm mới về hợp đồng đại lý trong luật thương mại………….10
2. Giao kết hợp đồng đại lý……………………………………..……...........11
2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý………………………………….11
2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý……………………………………...12
2.3 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý…………………………………...12
2.4 Hình thức giao kết hợp đồng đại lý……………………………….….13
2.5 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý…………………………….14
3. Thực hiện hợp đồng đại lý……………………….…………….…………15
3.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý………………………………...15
3.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý………….15
4. Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý……………………….…….16
5. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng............................................17
6. Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý…………………….….…………18
6.1 Giải quyết bằng thương lượng………………………………………...18
6.2 Giải quyết bằng hoà giải………………………………………………18
6.3 Giải quyết bằng trọng tài……………………………………………..19
6.4 Giải quyết bằng toà án………………………………………………..21
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN
HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI CÔNG TY
2.3 Nội dung giao kết hợp đồng…………………………………..………51
2.4 Quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm…………………………..56
3. Thực tế thực hiện các điều khoản về hợp đồng đại lý đại tại Công ty...58
3.1 Thực hiện các điều khoản về số lượng, chủng loại………….………..58
3.2 Thực hiện các điều khoản về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên..59
3.3 Thực hiện các điều khoản về thanh toán tiền hàng……………….…..60
3.4 Thực hiện các điều khoản về thời hạn và phụ lục hợp đồng………….60
3.5Thực hiện các điều khoản khác trong hợp đồng…………..…………..61
CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ
1. Khó khăn bất cập trong hoạt động đại lý của Công ty..………………..62
1.1 Do có sự thay đổi các quy định pháp luật về hoạt động đại lý………..62
1.2 Do các nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty……………………….63
1.3 Do các nguyên nhân khác…………………………………….………65
2. Kiến nghị………………………………………………………..…………66
2.1 Kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật………….…66
2.2 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng nói chung………..…..68
2.3 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng đại lý….………….…69
2.4 Kiến nghị đối với Công ty Xuân Hoà…………………..……..………71
2.5 Kiến nghị đối với đại lý………………………………..……….……..74
Kết luận………………………………………………………….75
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………..76
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong đời sống xã hội của chúng ta nhu cầu giao lưu trao đổi buôn bán…gọi
chung là giao dịch dân sự là một nhu cầu tất yếu khách quan. Để điều chỉnh và đảm
bảo tính hiệu lực của các giao dịch đó pháp luật về hợp đồng đã ra đời và ngày càng
chứng tỏ được vai trò quan trọng đặc biệt của mình. Hợp đồng chính là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ nào đó. Pháp
hoạch là cơ sở để các bên tham gia kí kết hợp đồng. Trong giai đoạn này, hợp đồng
kinh tế chỉ là phương tiện để các xí nghiệp, các đơn vị của Nhà nước trao đổi sản
phẩm với nhau một cách hình thức, đó là sự ghi nhận sự cấp phát vật tư, sản phẩm
của Nhà nước cho các đơn vị kinh tế và sự giao nộp sản phẩm của các đơn vị kinh tế
cho Nhà nước. Hợp đồng kinh tế hoàn toàn mất đi ý nghĩa đích thực của nó với tư
cách là hình thức pháp lý chủ yếu của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế thị trường hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các chủ thể
kinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, các bên cùng có lợi. Nhà nước chỉ có
thể sử dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi ích chính
đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và lợi ích chung của toàn xã hội. Trong
nền kinh tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó hợp đồng là
công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ thể kinh doanh, làm
cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ phù hợp với thị trường. Qua đó các nhà sản
xuất kinh doanh có căn cứ để xây dưng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình. Đó
là mục tiêu đầu vào, nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra, chất lượng số lượng, giá…Sự thỏa
thuận đó đảm bảo sự bình đẳng thực sự của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của
họ. Hợp đồng luôn phản ánh những đòi hỏi, những điều kiện cụ thể của các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng kinh tế. Rõ ràng hợp đồng kinh tế là công cụ của các nhà
kinh doanh chứ không phải công cụ của nhà nước như trước đây. Vì thông qua việc
đàm phán giao kết hợp đồng người ta có thể nắm được nhu cầu của thị trường về sản
phẩm dịch vụ của mình và kiểm tra tính hiện thực của kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Hợp đồng kinh tế có tác dụng chuyển các quan hệ kinh tế khách quan thành các quan
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ pháp luật cụ thể cho nên nó trở thành hình thức pháp lý để hình thành quan hệ thị
trường.
Hợp đồng kinh tế được giao kết đúng với pháp luật của nhà nước cho nên nó
được coi là luật của các bên tham gia giao kết. Khi đã giao kết các bên phụ thuộc lẫn
nhau, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích của các bên. Như vậy vai trò của hợp đồng
chế độ hợp đồng kinh tế ở nước ta. Hợp đồng kinh tế nói trong điều lệ tạm thời này là
hoạt động sản xuất về cung ứng và tiêu thụ hàng hóa về vận tải, bao thầu xây
dựng…Cở sở để ký kết hợp đồng kinh tế là chỉ tiêu kế hoạch. Theo đó, hợp đồng
kinh tế chỉ tồn tại trong khu vực kinh tế quốc doanh.
Điều lệ tạm thời số 375/TTg được áp dụng đến năm 1975. Ngày 10/3/1975
Chính phủ đã ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 54-
CP của Chính phủ. Điều lệ này tồn tại được 15 năm trong giai đoạn kế hoạch hóa cao
độ của nước ta. Đến năm 1986 Đại hội Đảng đề ra đường lối cải cách sâu rộng cả về
kinh tế, xã hội mà trước tiên là cải cách nền kinh tế. Vì vậy điều lệ tạm thời về hợp
đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định số 54 không còn phù hợp nữa, đòi hỏi
phải có một văn bản pháp luật mới thay thế.
* Giai đoạn từ năm 1989 đến 2005
Ngày 25/5/1989, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành, và là văn bản
pháp luật đã điều chỉnh quan hệ kinh tế một cách chung nhất trong bối cảnh những
năm đầu của thời kỳ đổi mới. Các văn bản được ban hành sau đó như Nghị định
17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế và Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ
trưởng về việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh và nhiều
văn bản khác hướng dẫn của cơ quan có liên quan hình thành nên một hệ thống pháp
luật về hợp đồng kinh tế. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày càng tỏ ra không phù hợp
với sự sôi động của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy cũng đã có nhiều quan điểm
khác nhau về sự tồn tại, sửa đổi thay vì bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hoặc đưa ra
những chế định hợp đồng trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế vào Bộ luật dân sự.
Năm 1995, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật dân sự với 838 điều, đánh dấu một
bước quan trọng vì xét về đối tượng điều chỉnh phạm vi áp dụng đến nội dung cũng
như kỹ thuật lập pháp, có thể nói Bộ luật dân sự đã góp phần vô cùng quan trọng vào
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc thực hiện chính sách đổi mới và nhất là việc dân sự hoá các quan hệ xã hôi vốn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nước 2003, Luật hợp tác xã 2003, Pháp Lệnh hợp đồng kinh tế 1989,…). Nhưng từ
khi hai văn bản pháp luật trên được ban hành, kéo theo đó là sự hết hiệu lực của các
đạo luật cũ ở trên. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, tính ưu việt được
thể hiện rõ nét nhất với việc: Luật thương mại đã điều chỉnh được hầu hết các quan
hệ kinh doanh thương mại phát sinh trong thời kì mới. Trong hoạt động đại lý, với
Luật thương mại cũ thì chỉ có đại lý bán hàng, còn Luật thương mại mới hoạt động
đại lý đã được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hàng hoá dịch vụ và các hoạt động khác
mang tính thương mại. Như vậy phạm vi của hoạt động kinh doanh thương mại đã
được mở rộng tối đa trong giai đoạn hiện tại nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh của
các chủ thể.
1.3 Khái quát về đại lý thương mại
Theo điều 3 Luật thương mại hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hoạt động đại lý cũng là một
trong các hoạt động thương mại do đó cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật
thương mại.
Theo điều 166 Luật thương mại thì đại lý thương mại là hoạt động thương
mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính
mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại
lý cho khách hàng để hưởng thù lao.
Chủ thể của hợp đồng đại lý, theo điều 167 Luật thương mại thì bao gồm bên
giao đại lý và bên đại lý. Trong đó, bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho
đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền
thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ. Bên đại lý là thương nhân nhận hàng
hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ
quyền cung ứng dịch vụ.
Phương thức đại lý có một số khác biệt căn bản với các phương thức khác.
Bên giao đại lý không phải là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ của bên đại lý. Hàng
hoá, dịch vụ được giao cho bên đại lý để cung cấp cho người thứ ba nhưng khi giao
chủ thể tham gia có thể là các cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên
và độc lập không cần có đăng kí kinh doanh. Còn Luật thượng mại 1997 chỉ có phạm
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vi và đối tượng áp dụng vô cùng nhỏ hẹp trong lãnh thổ Việt nam và để kí kết hợp
đồng thì các chủ thể phải có đăng kí kinh doanh.
Còn trong hoạt động đại lý: Cụm từ “Đại lý mua bán hàng hoá” được thay thế
bàng cụm từ “Đại lý thương mại”. Cụm từ này đã bao quát hầu hết sự thay đổi trong
hoạt động đại lý trong Luật thương mại mới. Theo luật thương mại 2005, đối tượng
điều chỉnh của hoạt động đại lý không chỉ dừng lại ở những hàng hoá hữu hình nữa,
mà đã mở rộng ra các lĩnh vực dịch vụ. Đây có thể là sự thay đổi quan trọng nhất, sự
thay đổi này chứng tỏ vai trò của hoạt động dịch vụ ngày càng được phát triển mạnh
mẽ. Còn các hoạt động sản xuất, mua bán…không còn chiếm vị trí độc tôn như trước
nữa. Hiện nay xu thế chung của thế giới là phát triển nền công nghiệp dịch vụ thay
thế cho công nghiệp sản xuất.
Ngoài ra trong Luật thương mại còn có rất nhiều điểm mới cần chú ý, nhưng
trong phạm vi của bài viết có hạn nên không thể đề cập đến.
2. Giao kết hợp đồng đại lý
2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý
* Nguyên tắc tự nguyện: Nội dung chính của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:
việc giao kết hợp đồng thương mại phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên trong
quan hệ hợp đồng, bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân đều không được áp đặt ý chí
của mình cho bên tham gia quan hệ hợp đồng. Khi xác lập quan hệ hợp đồng các chủ
thể có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm giao kết, bàn bạc, thoả thuận nội
dung của hợp đồng. Tuy nhiên, các bên khi sử dụng quyền giao kết hợp đồng phải
tuân theo các quy định. Không được phép lợi dụng giao kết hợp đồng kinh tế để hoạt
động trái pháp luật. Đối với các tổ chức kinh tế chức năng sản xuất kinh doanh trong
các lĩnh vực thuộc đặc quyền của Nhà nước thì không được lợi dụng quyền giao kết
hợp đồng để đòi hỏi điều kiện bất bình đẳng với bạn hàng.
trị pháp lý. Các điều khoản chủ yếu gồm các điều kiện sau:
- Họ tên và địa chỉ pháp lý của các bên giao kết hợp đồng thương mại.
- Hàng hoá dịch vụ mà các bên thoả thuận làm đại lý.
- Chủng loại hàng hoá các bên thoả thuận đại lý.
- Thời hạn phương thức và điạ điểm giao hàng.
- Giá cả và chiết khấu.
- Phương thức và địa điểm thanh toán.
- Chế độ thưởng phạt và bồi thường thiệt hại.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
* Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản mà các bên thoả thuận với nhau
trong khuôn khổ pháp luật. Khi một văn bản pháp luật quy định các bên có thể thoả
thuận với nhau về một số điều khoản nào đó, thì các bên có quyền thoả thuận hoặc
không thoả thuận. Nếu thoả thuận thì các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các điều
khoản đó, còn không thoả thuận thi nghiễm nhiên không phải thực hiện. Trong hợp
đồng thương mại thì các điều khoản về thoả thuận trong tài giải quyết tranh chấp, hoà
giải, kiểm dịch, giám định ... là những điều khoản tuỳ nghi mà các bên có thể thoả
thuận với nhau.
* Điều khoản thường lệ: Là những điều khoản mà nội dung của nó đã được
quy định sẵn trong các văn bản quy phạm pháp luật. Các bên có thể lựa chọn đưa
hoặc không đưa vào trong hợp đồng, nhưng theo quy định của pháp luật thì các bên
tham gia giao kết hợp đồng vẫn phải thực hiện như là một điều khoản bắt buộc.
Trong hợp đồng nói chung hợp đồng thương mại nói riêng thì các điều khoản về
khung hình phạt, các điều khoản về trình thụ thủ tục giải quyết tranh chấp là bắt buộc
với các bên.
2.4 Hình thức giao kết hợp đồng đại lý
Là cách thức mà các bên thể hiện ý chí của mình trong quá trình giao kết hợp
đồng. Theo Bộ luật dân sự thì hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành
mời giao kết. Trong đề nghị đưa ra phải đưa ra đầy đủ các nội dung định giao dịch.
Lời đề nghị này phải rõ ràng chính xác tránh gây hiểu lầm cho bên kia.
- Giai đoạn hai: Bên được đề nghị sau khi nhận được văn bản tài liệu giao
dịch tiến hành xem xét kiểm tra các nội dung nghi trong tài liệu. Sau khi tìm hiểu kĩ
các nội dung sẽ trả lời cho bên đề nghị biết có đồng ý hay không đồng ý với những
nội dung trong tài liệu. Nếu đồng ý một số nội dung và bổ xung thêm nội dung mới
thì coi như một đề nghị giao kết mới. Bên dược đề nghị trở thành bên đề nghị.
Hợp đồng giao kết bằng hình thức gián tiếp được coi là hình thành và có giá
trị pháp lý từ khi các bên nhận dược tài iệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả
các điều khoản trong nội dung của hợp đồng. Căn cứ xác định sự giao kết hợp đồng
là bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự đồng ý.
Bộ luật dân sự và Luật thương mại quy định về giao kết hợp đồng, thời hạn trả
lời giao kết hợp đồng, điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng khá chi
tiết và đầy đủ.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3. Thực hiện hợp đồng đại lý
3 .1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý
Các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong hợp đồng
đại lý trên tinh thần hợp tác, tôn trọng lợi ích của nhau. Thực hiện đúng có nghĩa là
thực hiện đúng đối tượng, chất lượng chủng loại, thời hạn, giá và phương thức thanh
toán cũng như các thoả thuận khác. Hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Theo nguyên tắc này, các bên phải hợp tác thường xuyên
theo đó quá trình thực hiện hợp đồng giúp đỡ lẫn nhau khắc phục khó khăn đồng thời
thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết. Ngay cả khi tranh chấp
xảy ra các bên phải chủ động thương lượng giải quyết. Như vậy, nguyên tắc này
không chỉ có ý nghĩa trong thực tế thực hiện hợp đồng mà còn giúp phòng ngừa ngăn
chặn và giải quyết các tranh chấp có thể sảy ra.
3.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý
thức coi các điều khoản đó là các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mới.
* Chấm dứt hợp đồng đại lý trong các trường hợp sau:
- Hợp đồng đại lý đã hoàn thành.
- Theo thoả thuận của các bên.
- Pháp nhân hoặc các chủ thế khác chấm dứt mà không phải do chính pháp
nhân hay chủ thể đó thực hiện.
- Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt.
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn
và các bên có thoả thuận thay thế đối tương khác hoặc bồi thường thiệt hại.
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
* Huỷ bỏ hợp đồng.
Các bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng trong các trường hợp sau: nếu một bên
đơn phương huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vị phạm
hợp là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên
huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu không
thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại
5. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng
* Buộc thực hiện đúng hợp đồng: là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm
thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng
hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng
dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên vi phạm giao hàng
hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu
sót của dịch vụ hoặc giao hàng hoá khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp
đồng. Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hoá khác chủng loại, dịch vụ
khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm.
* Phạt vi phạm : là trường hợp bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một
6. Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý
6.1 Giải quyết bằng thương lượng
Khi có tranh chấp sảy ra, việc đầu tiên là các bên tiến hành gặp gỡ nhau cùng
trao đổi bàn bạc giải quyết tranh chấp. Đây là hình thức đơn giản nhất và thường hay
gặp nhất khi có vi phạm sảy ra. Hình thức này vừa đơn giản vừa không tốn kém, vì
vậy các bên thương chọn phương pháp này là bước đầu tiên của quá trình giải quyết
tranh chấp. Nếu các bên có thể tự thương lượng giải quyết đươc với nhau thì sẽ
không phải tiến hành các biện pháp tiếp theo. Nhưng khi tranh chấp chưa được giải
quyết thì các bên có thể lựa chọn một trong các hình thức giải quyết sau.
6.2 Giải quyết bằng hoà giải
Hoà giải là đưa các bên đến người thứ ba để giải quyết tranh chấp, nếu hoà
giải thành công, thoả thuận hoà giải được lập thành biên bản hoà giải có chữ ký của
các bên
và của hòa giải viên. Trong quá trình hoà giải, với thoả thuận giữa các bên, hoà giải
viên luôn cố gằng trình bày cho các bên thấy được những triển vọng tốt đẹp nhất để
từ đó hoà giải các quan điểm khác nhau, và vì vậy, chuyển tình huống tranh chấp
thành sự hoà giải. Hoà giải viên tiến hành quy trình hoà giải mà họ cho rằng theo
nguyên tắc vô tư công bằng và theo công lý. Các đề nghị hoặc kiến nghị của hoà giải
viên không có giá trị ràng buộc do vậy các bên có thể tự do áp dụng hoặc khước từ.
Tuy nhiên các bên có thể đưa các đề nghị của hoà giải viên và một hợp đồng đã ký
kết hoặc một quyết định ràng buộc được các bên thoả thuận với nhau.
6.3 Giải quyết bằng trọng tài
Đây là phương thức giả quyết tranh chấp bằng cách giao vấn đề tranh chấp
cho bên thứ ba là các trọng tài để họ phân xử và đưa ra quyết định cuối cùng trong
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trường hợp các bên không thể dàn xếp được với nhau mà không muốn đưa tranh chấp
ra toà án giải quyết.
Pháp lệnh trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua 12/3/2003, quy định
- Thành lập hội đồng trọng tài;
- Chuẩn bị giải quyết tranh chấp;
- Phiên họp giải quyết tranh chấp ;
- Quyết định trọng tài ;
- Huỷ quyết định trọng tài ;
- Thi hành quyết định trọng tài.
Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ, một hoặc các bên không có
được cơ hội công bằng để trình bày trường hợp của mình trước hội đồng trọng tài thì
quyết định của trọng tài có thể sẽ không được công nhận và cho thi hành.Dưới góc độ
này, trọng tài gần với toà án nhưng so với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng
toà án thì tố tụng trọng tài có một số ưu điểm là:Đỡ tốn kém thời gian, bảo toàn được
bí mật kinh doanh (trọng tài được xét sử kín); tính phù hợp về chuyên môn nghiệp vụ
kinh doanh của các quyết định trọng tài (do các trọng tài viên thường là các chuyên
gia trong lĩnh vực kĩ thuật, các thương nhân có uy tín, kinh nghiệm....), tính khách
quan trung lập của trọng tài.
Các quyết định phán quyết của trọng tài có thể được toà án công nhận và cho
thi hành thông qua một thủ tục tư pháp. Mặc dù phán quyết của trọng tài là kết quả
của sự thoả thuận có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp và do hội đồng trọng
tài ban hành (mà bản thân hợp đồng dó chấm dứt nhiệm vụ và không còn tồn tại sau
khi ra phán quyết) nhưng giá trị bắt buộc của phán quyết trọng tài đối với các bên vẫn
được pháp luật Việt nam công nhận.
Giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thực sự đi vào đời sống,
điển hình như trung tâm trọng tai quốc tế tại Việt Nam nằm bên cạnh phòng Thương
mại và công nghiệp Việt Nam (VIAC) đã được các chủ thể kinh doanh thường xuyên
lựa chọn làm cơ quan xét xử tranh chấp phát sinh từ hoạt động ký kết và thực hiện
hợp đồng, với thủ tục xét xử của trung tâm được tiến hành theo quy tắc của VIAC.
6.4 Giải quyết bằng toà án
Theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định thẩm quyền của toà
án.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
-Khởi kiện và thụ lý vụ án;
-Chuẩn bị xét xử vụ án;
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Phiên toà sơ thẩm;
-Thủ tục phúc thẩm;
-Thủ tục xem xét lại bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật;
-Thi hành bản án (quyết định) của toà án;
Ngoài ra các tranh chấp hợp đồng được giải quyết bằng 2 cơ quan toà án khác
nhau là Toà Kinh tế và Toà Dân sự.
Theo quy định hiện hành thì Toà Kinh tế và Toà Dân sự có chức năng khác
nhau. Toà Dân sự có nhiệm vụ giải quyết các vụ việc dân sự trong đó có tranh chấp
về hợp đồng dân sự, Toà Kinh tế có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế trong
đó có cả các tranh chấp về hợp đồng đại lý.
Như vậy thuận lợi của toà án là có tính bắt buộc và cưỡng chế rất cao. Tố tụng
tại Tòa án, các bên không phải trả thù lao cho Thẩm phán, ngoài ra phí hành chính rất
hợp lý, các bên tranh chấp chỉ mất chi phí cho các luật sư trong việc tham gia tố tụng
bảo vệ quyền lợi cho họ. Các Tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có thể triệu
tập bên thứ ba và nhân chứng ra trước Tòa án, đây là quyền cưỡng chế mà trọng tài
viên không có.
Tuy nhiên, phương pháp này có nhiều bất lợi vì thủ tục xét xử công khai sẽ
không cho phép các bên giữ được bí mật kinh doanh và quá trình xết xử kéo dài phức
tạp. Còn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có rất nhiều ưu
điểm nổi bật.
Thứ nhất: về tính chung thẩm, phán quyết của Tòa án thường bị kháng cáo
hay kháng nghị. Còn đa số các quyết định Trọng tài không bị kháng cáo, chỉ có thể
dựa vào một vài lý do để khước từ quyết định Trọng tài tại Tòa án. Và thường lý do
đó là do những sai sót trong thủ tục cơ bản.
Thứ hai: về tính trung lập, Mặc dù Thẩm phán có thể khách quan xong họ vẫn
hiệp định song phương hoặc theo các quy tắc rất nghiêm ngặt. Còn quyết định trọng
tài đạt được sự công nhận quốc tế thông qua một loạt các công ước quốc tế và đặc
biệt là công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng
tài nước ngoài.
Chính vì những ưu điểm trên của hình thức giải quyết bằng trọng tài mà hiện
nay trong hầu hết các tranh chấp thương mại, các chủ thể đều có ý định đưa tranh
chấp ra trọng tài
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN
HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI CÔNG TY
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUÂN HOÀ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Xuân hoà
1.1 Giới thiệu chung về công ty Xuân Hoà
Tên Công ty viết bằng tiếng việt: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN XUÂN HOÀ
Tên giao dịch băng tiếng việt: CÔNG TY XUÂN HOÀ
Tên giao dịch quốc tế: XUAN HOA COMPANY
Tên viết tắt: XUHA Co
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trụ sở chính: Phường Xuân Hoà -Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc.
Sồ điện thoại: 0211863244 Fax : 0211863019
Email: Webside: www.xuanhoa.com
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 109380
Ngành nghề kinh doanh:
+ Sản xuất, kinh doanh hàng trang thiết bị nội thất và trang thiết bị văn phòng,