Chế độ pháp lý về hợp đồng đại lý và thực tiễn thực hiện - Pdf 12

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Sinh viên: Bùi Minh Thành
Lớp: Luật Kinh Doanh K45
Giáo viên hướng dẫn: Ts Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Ths Vũ Văn Ngọc
Đề tài:
Chế độ pháp lý về hợp đồng đại lý và thực tiễn thực hiện tại
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Nhà nước
một thành viên (MTV) Xuân Hoà
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
1
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
M ục l ục
Mở đầu....................................................................................................4
Chương I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ..................5
1. Cơ sở lý lụân về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường.......................................5
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng kinh tế.......................................................5
1.2 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường............................................7
2. Khái quát về hợp đồng đại lý....................................................................................8
2.1 Quá trình phát triển của pháp luật về hợp đồng đại lý.......................................8
2.2 Khái quát về đại lý thương mại......................................................................12
2.3 Những điểm mới về hợp đồng đại lý trong Luật thương mại 2005...................3
3. Giao kết hợp đồng đại lý........................................................................................14
3.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng đại lý..............................................................14
3.2 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý....................................................................15
3.3 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý.................................................................15
3.4 Hình thức giao kết hợp đồng đại lý...............................................................16
3.5 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý.......................................................16
4. Thực hiện hợp đồng đại lý.....................................................................................17
4.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng đại lý............................................................17
4.2 Các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng đại lý............................18

5.1 Việc quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá...................................................46
5.2 Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả....................................46
5.3 Việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.....................................................46
5.4. Việc thực hiện trách nhiệm đối với xã hội.....................................................47
6. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và mục tiêu của Công ty.....................................48
II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ TẠI CÔNG TY...................50
1. Khái quát về hoạt động đại lý của Công ty Xuân Hòa. ......................................50
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
3
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
2. Những nội dung cơ bản trong giao kết hợp đồng đại lý của Công ty................56
2.1 Chủ thể giao kết.............................................................................................56
2.2 Nguyên tắc, căn cứ giao kết hợp đồng............................................................58
2.3 Nội dung giao kết hợp đồng...........................................................................58
2.4 Quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm....................................................63
3. Thực tế thực hiện các điều khoản về hợp đồng đại lý đại tại Công ty................64
3.1 Thực hiện các điều khoản về số lượng, chủng loại.........................................64
3.2 Thực hiện các điều khoản về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên.............65
3.3 Thực hiện các điều khoản về thanh toán tiền hàng..........................................65
3.4 Thực hiện các điều khoản về thời hạn và phụ lục hợp đồng............................65
3.5 Thực hiện các điều khoản khác trong hợp đồng..............................................67
CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ
1. Khó khăn bất cập trong hoạt động đại lý của Công ty........................................68
1.1 Do có sự thay đổi các quy định pháp luật về hoạt động đại lý.......................68
1.2 Do các nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty...............................................69
1.3 Do các nguyên nhân khác...............................................................................71
2. Kiến nghị...................................................................................................................72
2.1 Kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật................................72
2.2 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng nói chung...............................73
2.3 Kiến nghị về việc hoàn thiện chế độ hợp đồng đại lý....................................75

Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
5
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Chương I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ
1. Cơ sở lý lụân về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường.
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng kinh tế.
*Khái niệm
Hợp đồng kinh tế: Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, hợp đồng kinh tế
là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện
công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và
nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình. Như vậy, theo khái
niệm này thì mục đích của hợp đồng kinh tế nhằm thực hiện công việc sản xuất, trao đổi
hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác. Về hình thức của hợp đồng chủ
yếu là văn bản. Còn các hình thức lời nói, thông điệp, dữ liệu điện tử cũng như các hình
thức khác chưa được quy định chính thức. Chủ thể của hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh
này là các pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Nhưng theo quan điểm mới thì hợp đồng kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn
về chủ thể và hình thức. Chủ thể của hợp đồng kinh tế giờ đây không chỉ dừng lại ở pháp
nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh nữa mà rộng ra với người làm công tác khoa học
kỹ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ngư dân, cá thể, cá nhân, tổ chức nước
ngoài. Nhưng mục đích thì vẫn không thay đổi đó là sinh lời không kể việc giao kết hợp
đồng để thực hiện các công việc khác nhau như sản xuất, kinh doanh,...
Hợp đồng thương mại: Trong Luật thương mại 2005 của Việt nam không quy
định cụ thể hợp đồng thương mại như thế nào. Mà chỉ đề cập đến các khái niệm hoạt
động thương mại, hành vi thương mại, vi phạm hợp đồng…Tuy nhiên, theo các quy định
có liên quan trong Luật thương mại, chúng ta có thể nhận biết được hoạt động thương
mại qua các yếu tố như chủ thể, mục đích, hình thức quan hệ thương mại.
Về chủ thể: Theo điều 2 của Luật thương mại: các thương nhân hoạt động thương
mại, các tổ chức cá nhân hoạt động có liên quan đến thương mại đều là chủ thể của Luật

7
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Về chủ thể: hợp đồng kinh doanh thương mại được giao kết giữa pháp nhân với
pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Như vậy, trong quan
hệ hợp đồng kinh tế phải có ít nhất một bên là pháp nhân. Ngoài ra, những người làm
công tác khoa học, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, hộ ngư dân, các tổ chức, cá
nhân nước ngoài cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kết hợp
đồng kinh tế với pháp nhân.
1.2 Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường.
Như chúng ta đã biết trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp
trước đây hợp đồng kinh tế được coi là một công cụ cơ bản để quản lý nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Hợp đồng kinh tế được kí kết theo chỉ tiêu theo kế hoạch của Nhà nước.
Mỗi khi các chỉ tiêu kế hoạch thay đổi thì các bên tham gia kí kết hợp đồng cũng phải
thay đổi nội dung kí kết cho phù hợp. Nếu các bên vị phạm hợp đồng tức là vi phạm kế
hoạch của Nhà nước. Như vậy trong giai đoạn này chỉ tiêu kế hoạch là cơ sở để các bên
tham gia kí kết hợp đồng. Trong giai đoạn này, hợp đồng kinh tế chỉ là phương tiện để
các xí nghiệp, các đơn vị của Nhà nước trao đổi sản phẩm với nhau một cách hình thức,
đó là sự ghi nhận sự cấp phát vật tư, sản phẩm của Nhà nước cho các đơn vị kinh tế và
sự giao nộp sản phẩm của các đơn vị kinh tế cho Nhà nước. Hợp đồng kinh tế hoàn toàn
mất đi ý nghĩa đích thực của nó với tư cách là hình thức pháp lý chủ yếu của quan hệ
trao đổi.
Trong nền kinh tế thị trường hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các chủ thể
kinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, các bên cùng có lợi. Nhà nước chỉ có thể
sử dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi ích chính đáng
của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và lợi ích chung của toàn xã hội. Trong nền kinh
tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó hợp đồng là công cụ, là cơ
sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ thể kinh doanh, làm cho kế hoạch sản
xuất kinh doanh của họ phù hợp với thị trường. Qua đó các nhà sản xuất kinh doanh có
căn cứ để xây dưng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình. Đó là mục tiêu đầu vào, nơi
tiêu thụ sản phẩm đầu ra, chất lượng số lượng, giá…Sự thỏa thuận đó đảm bảo sự bình

phần kinh tế, Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về hợp đồng trong hoạt động kinh
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
9
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
doanh ban hành kèm theo Nghị định số 735/TTg ngày 10/4/1956. Văn bản này không
điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức nhằm mục đích lợi nhuận.
Như vậy,thông qua điều lệ tạm thời này Chính phủ đã có một văn bản pháp luật
riêng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh. Theo văn bản pháp
luật này thì hợp đồng được hiểu là bằng cách: hai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự
nguyện cam kết với nhau để thực hiện nhiệm vụ nhất định, trong thời hạn nhất định
nhằm mục đích phát triển kinh doanh công thương nghiệp góp phần thực hiện kế hoạch
nhà nước. Hợp đồng kinh doanh được xây dựng trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện,
bình đẳng, thật thà các bên cùng có lợi và cùng có lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Việc thi hành điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh đã góp phần vào công việc khôi
phục và phát triển kinh tế đất nước, động viên sự đóng góp của các thành phần kinh tế.
Có thể nói điều lệ tạm thời này là văn bản pháp luật đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời
của chế độ hợp đồng kinh tế ở nước ta.
Năm 1960 khi mà chúng ta đã căn bản hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN và
mở đầu cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Lúc bấy giờ trong nền kinh tế
về cơ bản chỉ tổn tại hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Hoạt động kinh tế phải tuân theo kế hoạch thống nhất của nhà nước. Do vậy điều lệ tạm
thời số 735/TTg không còn phù hợp nữa vì việc ký kết hợp đồng kinh doanh không còn
là việc riêng của các nhà kinh doanh nữa mà là trực tiếp phục vụ cho chỉ tiêu kế hoạch
của nhà nước. Trong điều kiện đó, Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng
kinh tế kèm theo Nghị định số 04/TTg ngày 4/1/1960 để thay thế điều lệ cũ. Khái niệm
hợp đồng kinh tế đã được sử dụng đầu tiên trong Nghị định này .Có thể nói đây là sự ra
đời của chế độ hợp đồng kinh tế và cũng chính là sự ra đời của hợp đồng kinh tế ở nước
ta. Mục đích của việc ban hành điều lệ này là thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế mà
tăng cường trách nhiệm và quan hệ giữa các xí nghiệp quốc doanh, cơ quan nhà nước
trong việc bảo đảm thực hiện kế hoạch của nhà nước và những nguyên tắc của chế độ

doanh theo pháp luật trong lĩnh vực kinh tế bước đầu tạo đà cho việc sản xuất kinh
doanh theo pháp luật trong cơ chế kinh tế mới. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày càng tỏ
ra không phù hợp với sự sôi động của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy cũng đã có
nhiều quan điểm khác nhau về sự tồn tại, sửa đổi thay vì bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
11
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
hoặc đưa ra những chế định hợp đồng trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế vào Bộ luật dân
sự.
Năm 1995, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật dân sự với 838 điều, đánh dấu một
bước quan trọng vì xét về đối tượng điều chỉnh phạm vi áp dụng đến nội dung cũng như
kỹ thuật lập pháp, có thể nói Bộ luật dân sự đã góp phần vô cùng quan trọng vào việc
thực hiện chính sách đổi mới và nhất là việc dân sự hoá các quan hệ xã hôi vốn đã được
hành chính hoá trong nhiều năm duy trì cơ chế quản lý tập trung kế hoạch hoá, nhất là
các quy định về chế độ hợp đồng.
Hoạt động đại lý trong nền kinh tế thị trường diễn ra ngày càng sôi động, chính vì
vậy mà Chính phủ ban hành Nghị định 25/CP ngày 25/4/1996 về quy chế đại lý mua bán
hàng hoá để điều chỉnh các hợp đồng đại lý. Từ giai đoạn này mới có một văn bản pháp
luật riêng rã điều chỉnh hoạt động đại lý. Còn trước đó lĩnh vực này cũng được các quy
định của hợp đồng kinh tế điều chỉnh. Nhưng hoạt động thương mại ngày càng phát triển
mạnh mẽ đòi hỏi phải có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh.
Để đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế, Luật thương mại đã được Quốc hội
thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1998: Trong đó có quy định về hợp
đồng đại lý. Về bản chất, Luật thương mại sẽ bổ sung cho Bộ luật dân sự. Do vậy, các
quy định của hợp đồng thương mại trong Luật thương mại được xây dựng và cụ thể hoá
trên các nguyên tắc của hợp đồng dân sự. Sau hơn 7 năm có hiệu lực áp dụng, Luật
thương mại cũng đã bộc lộ nhiều bất cập và thiếu đồng bộ cần phải sửa đổi.
* Giai đoạn 2005 – nay.
Đây là giai đoạn mà nước ta có nhiều thay đổi nhất và cũng là gai đoạn mở cửa
hội nhập mạnh mẽ nhất của nền kinh tế nước ta. Trong giai đoạn này, để hội nhập và

dịch vụ được giao cho bên đại lý để cung cấp cho người thứ ba nhưng khi giao hàng thì
hàng hoá, dịch vụ vẫn thuộc sở hữu của bên đại lý nếu không có thoả thuận khác. Như
vậy, đại lý là trung gian giữa người mua và người bán.
Bên giao đại lý được hưởng thù lao từ bên giao đại lý qua việc bán hàng, cung
cấp dịch vụ, khoản thù lao này chủ yếu dưới hình thức là hoa hồng. Như vậy, số tiền thù
lao này cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ của bên đại lý.
Ngoài ra để khuyến khích các đại lý bên giao đại lý còn có các phần thưởng, sự hỗ trợ để
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
các đại lý hoạt động tốt. Bên đại lý phải thoả mãn cơ sở vật chất cũng như kênh phân
phối sản phẩm và các điều kiện khác nếu có, vì đại lý với tư cách là người đại diện của
bên giao đại lý đối với khách hàng, họ phải bảo đảm được uy tín và hình ảnh của bên
giao đại lý đối với khách hàng.
Theo điều 169 Luật thương mại 2005, quy định 3 hình thức đại lý. Cụ thể:
* Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn
vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý.
* Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên
giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng
một hoặc một số loại dịch vụ nhất định.
* Tổng đại lý mua bán hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ
chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ cho bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc. Các đại lý
trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý
Ngoài ra còn có các hình thức khác mà các bên thoả thuận.
2.3 Những điểm mới về hợp đồng đại lý trong Luật thương mại 2005.
Có thể nói luật thương mại 2005 ra đời đã đưa hạt động thương mại lên đúng vị
trí của nó, điểu này được thể hiện rất rõ trong phạm vi điều chỉnh của nó. Theo Luật
thương mại 2205 phạm vi áp dụng là tất cả các hoạt động thương mại phát sinh bên
trong và bên ngoài lãnh thổ Việt nam miễm là các bên thoả thuận áp dụng nó, chủ thể

* Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản: Các bên tham gia quan hệ hợp
đồng kinh tế phải tự mình gáng vác trách nhiệm tài sản, gồm phạt vi phạm hợp đồng và
bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã giao kết. Các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức kinh tế khác không thể đứng ra chịu trách nhiệm tài sản thay cho bên
vi phạm.
* Nguyên tắc không trái với pháp luật đòi hỏi việc giao kết và thực hiện hợp
đồng phải hợp pháp: Điều này có nghĩa là mọi thoả thuận trong hợp đồng phải hoàn
toàn không trái với những quy định của pháp luật, không được lợi dụng giao kết hợp
đồng để hoạt động trái pháp luật. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế, cũng như hợp đồng thương mại.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
15
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
3.2 Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý.
Chủ thể giao kết hợp đồng đại lý là thương nhân, Theo điều 6 Luật thương mại thì
thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động
thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân được quyền hoạt
động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức mà pháp
luật không cấm.
3.2 Nội dung giao kết hợp đồng đại lý.
Trong luật thương mại không quy định nội dung giao kết của hợp đồng thương
mại, nhưng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của các bên, chúng ta có thể khái quát nội đung
giao kết thành các điều khoản sau.
* Điều khoản chủ yếu: Đây là những điều khoản băt buộc không thê thiếu trong
hợp đồng. Nếu thiếu một trong các điều khoản này thì hợp đồng không có giá trị pháp lý.
Các điều khoản chủ yếu gồm các điều kiện sau:
- Họ tên và địa chỉ pháp lý của các bên giao kết hợp đồng thương mại.
- Hàng hoá dịch vụ mà các bên thoả thuận làm đại lý
- Chủng loại hàng hoá các bên thoả thuận đại lý.
- Thời hạn phương thức và điạ điểm giao hàng.

về hình thức của hợp đồng. Luật của nước Anh quy định những hợp đồng có giá trị từ 10
bảng Anh thì phải giao kết bằng văn bản, luật của Mỹ lại quy định những hợp đồng giao
kết có giá trị từ 500$ trở lên thì phải giao kết bằng văn bản. Còn theo Công ước Viên
1980 thì quy định hợp đồng không bị giới hạn bởi hình thức, miễn là các bên có thể
chứng minh hợp đồng đã được giao kết.
3.4 Trình tự thủ tục giao kết hợp đồng đại lý.
Bất cứ loại hợp đồng nào cũng phải được giao kết theo một trình tự thủ tục nhất
định, đó là các cách thức, các bước mà các bên phải tiến hành nhằm xác lập một quan hệ
hợp đồng có giá trị pháp lý. Trong hoạt động thương mại tồn tại hai hình thức giao kết
hợp đồng, giao kết trực tiếp và giao kết gián tiếp.
* Giao kết trực tiếp: là trường hợp đại diện của các bên trực tiếp gặp gỡ nhau và
cùng trao đổi với nhau về các điều khoản trong hợp đồng. Sau khi trao đổi bàn bạc kỹ
lưỡng các bên đi đến thống nhất các nội dung và tiến hành ký kết hợp đồng. Hiện nay
hình thức này là hình thức giao kết nhanh chóng và hiệu quả nhất. Trong hoạt động
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
17
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
thương mại, những hợp đồng quan trọng các bên thường trực tiếp gặp gỡ nhau rồi tiến
hành đàm phán đi đến giao kết.
* Giao kết gián tiếp: là phương thức giao kết mà theo đó các bên gửi cho nhau
văn bản, tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng) chứa đựng
các nội dung giao dịch. Quá trình giao kết gián tiếp thường trải qua hai giai đoạn.
- Giai đoạn một: Một bên đề nghị hợp đồng thông báo ý định giao kết cho bên
mời giao kết. Trong đề nghị đưa ra phải đưa ra đầy đủ các nội dung định giao dịch. Lời
đề nghị này phải rõ ràng chính xác tránh gây hiểu lầm cho bên kia.
- Giai đoạn hai: Bên được đề nghị sau khi nhận được văn bản tài liệu giao dịch
tiến hành xem xét kiểm tra các nội dung nghi trong tài liệu. Sau khi tìm hiểu kĩ các nội
dung sẽ trả lời cho bên đề nghị biết có đồng ý hay không đồng ý với những nội dung
trong tài liệu. Nếu đồng ý một số nội dung và bổ xung thêm nội dung mới thì coi như
một đề nghị giao kết mới.

mình để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng. Bên thế chấp tài sản phải có nghĩa vụ
bảo đảm nguyên giá trị của tài sản, không được chuyển dịch quyền tài sản cho người
khác trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực pháp lý.
* Bảo lãnh tài sản: là sự bảo đảm tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận bảo
lãnh để chịu trách nhiệm về tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm
hợp đồng đã giao kết. Người nhận bảo lãnh phải có tài sản không ít hơn giá trị hợp đồng
được bảo lãnh.
* Đặt cọc: là trường hợp một bên gaio cho bên kia một tài sản (tiền, kim khí
quý,...) để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng.
* Ngoài các hình thức trên trong Bộ luật dân sự còn có các hình thức khác như là:
kí cược, kí quỹ, phạt vị phạm và các hình thức khác theo thoả thuận của các bên.
5. Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng đại lý.
Luật thương mại không quy định các trường hợp sửa đổi, chấm dứt, thanh lý hợp
đồng đại lý. Nhưng trong bộ luật dân sự có quy định khá cụ thể và chi tiết về các trường
hợp này.
* Sửa đổi hợp đồng: Hợp đồng đại lý là loại hợp đồng được soạn thảo bằng văn
bản và các loại hình khác có giá trị pháp lý tương đương. Hơn nữa hình thức giao kết
hợp đồng đại lý là hình thức giao kết trực tiếp. Chính vì lẽ đó khi có sửa đổi hợp đồng
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
19
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
đại lý các bên nhất thiết phải găp gỡ trao đổi các điều khoản cần sửa đổi, sau đó đi đến
thống nhất các điều khoản cần sửa đổi. Sau khi sửa đổi xong các bên sẽ chính thức coi
các điều khoản đó là các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mới.
* Chấm dứt hợp đồng đại lý trong các trường hợp sau:
- Hợp đồng đại lý đã hoàn thành.
- Theo thoả thuận của các bên.
- Pháp nhân hoặc các chủ thế khác chấm dứt mà không phải do chính pháp nhân
hay chủ thể đó thực hiện.
- Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt.

phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại
thực tế và hành vi vi pham hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
* Tạm ngừng thực hiện hợp đồng : là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng. Tạm ngừng trong những trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi phạm
mà các bên đã đề thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc một
bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
* Đình chỉ thực hiện hợp đồng : là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã
thoả thuận là điều kiện để đinh chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản những nghĩa
vụ hợp đồng.
* Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hai trường hợp: huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp đồng
và huỷ bỏ một phần nội dung hợp đồng. Huỷ bỏ toàn bộ nội dung hợp đồng là việc loại
bỏ hoàn toàn tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bội hợp đồng. Huỷ bỏ một phần
nội dung hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn
lại vẫn có hiệu lực. Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ
từng phần, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cung
ứng dịch vụ và việc này cấu thành một hành vi vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng,
cung ừng dịch vụ đó thì bên có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng
hoặc cung ứng dịch vụ đó.
7. Giải quyết tranh chấp hợp đồng đại lý.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
21
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Khi có tranh chấp sảy ra, việc đầu tiên là các bên tiến hành gặp gỡ nhau cùng trao
đổi bàn bạc giải quyết tranh chấp. Nếu các bên có thể tự thương lượng giải quyết đươc
với nhau thì sẽ không phải tiến hành các biện pháp tiếp theo. Nhưng khi tranh chấp chưa
được giải quyết thì các bên có thể lựa chọn một trong các hình thức giải quuyết sau.
7.1 Giải quyết bằng hoà giải.
Hoà giải là đưa các bên đến người thứ ba để giải quyết tranh chấp, nếu hoà giải
thành công, thoả thuận hoà giải được lập thành biên bản hoà giải có chữ ký của các bên

thì không một bên nào có quyền rút lui ý kiến. Điều khoản trọng tài được coi là độc lập
với các điều khoản khác trong hợp đồng chính nên ngay cả khi hợp đồng chính đã kết
thúc hoặc vô hiệu thì cũng không làm điều khoản trọng tài vô hiệu một cách tương ứng
(Điều11 pháp lệnh trọng tài thương mại 2003).
Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định sau khi cân nhắc mọi chứng cứ và lập luận
của các bên.
Các bên tranh chấp thoả thuận giao cho trọng tài quyền và nghĩa vụ phải ra các
phán quyết, quyết định có tính bắt buộc đối với các bên. Để ra được phán quyết, quyết
định trọng tài phải tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng nhất định do các bên lựa chọn ,
bao gồm những quy định cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ;
- Thoả thuận trọng tài;
- Khởi kiện;
- Thành lập hội đồng trọng tài;
- Chuẩn bị giải quyết tranh chấp;
- Phiên họp giải quyết tranh chấp ;
- Quyết định trọng tài ;
- Huỷ quyết định trọng tài ;
- Thi hành quyết định trọng tài.
Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ, một hoặc các bên không có được
cơ hội công bằng để trình bày trường hợp của mình trước hội đồng trọng tài thì quyết
định của trọng tài có thể sẽ không được công nhận và cho thi hành .Dưới góc độ này,
trọng tài gần với toà án nhưng so với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng toà án thì
tố tụng trọng tài có một số ưu điểm là: Đỡ tốn kém thời gian, bảo toàn được bí mật kinh
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
23
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
doanh (trọng tài được xét sử kín); tính phù hợp về chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh
của các quyết định trọng tài (do các trọng tài viên thường là các chuyên gia trong lĩnh
vực kĩ thuật, các thương nhân có uy tín, kinh nghiệm....), tính khách quan trung lập của

-Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
-Bảo hiểm;
-Thăm dò, khai thác;
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức
với nhau có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát nhập, hợp nhất, chia tách
chuyển đổi hình thức của công ty.
Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Như vậy thẩm quyền giải quyết của toà án bao gồm rất nhiều hoạt động trong lĩnh
vực kịnh doanh thương mại, tuy nhiên chủ thể của hợp đồng chỉ gồm cá nhân và tổ chức,
với mục đích là lợi nhuận, trong đó hợp đồng đại lý với mục đích và chủ thể như trên là
do toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Thủ tục giải quyết các vụ án theo bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 bao gổm các
bước sau:
-Khởi kiện và thụ lý vụ án;
-Chuẩn bị xét xử vụ án;
-Phiên toà sơ thẩm;
-Thủ tục phúc thẩm;
-Thủ tục xem xét lại bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật;
-Thi hành bản án (quyết định) của toà án;
Ngoài ra các tranh chấp hợp đồng được giải quyết bằng 2 cơ quan toà án khác
nhau là Toà Kinh tế và Toà Dân sự.
Theo quy định hiện hành thì Toà Kinh tế và Toà Dân sự có chức năng khác nhau.
Toà Dân sự có nhiệm vụ giải quyết các vụ việc dân sự trong đó có tranh chấp về hợp
đồng dân sự, Toà Kinh tế có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế trong đó có că
các tranh chấp về hợp đồng đại lý.
Bùi Minh Thành Lớp Luật Kinh Doanh K45
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status