Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng VPBank - Pdf 91

Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập và phát triển kinh tế, Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực cũng
như trên trường quốc tế. Góp phần không nhỏ vào việc đưa Việt Nam đạt được những
thành tựu đáng kể đó là sự nỗ lực hết mình của các cá nhân, doanh nghiệp trong việc xây
dựng và phát triển kinh tế đất nước. Trong đó, hệ thống ngân hàng thương mại giữ một
vai trò quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển chung của nền kinh tế Việt
Nam.
Nói đến hoạt động ngân hàng, phải nói đến một hoạt động chủ yếu, mang lại lợi
nhuận rất cao là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, đây cũng chính là hoạt động chứa đựng
nhiều rủi ro nhất. Một trong những nguyên nhân chính làm tăng rủi ro tín dụng chính là
việc thực hiện chưa tốt công tác bảo đảm tiền vay. Vấn đề này được đề cập rất nhiều
trong các văn bản quy định pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, ngay trong bản thân
những văn bản này vẫn còn tồn tại nhiều quy định chồng chéo, gây lung túng trong việc
áp dụng pháp luật cho các chủ thể.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn kinh doanh cũng như góp phần nghiên cứu
phát triển lý luận về vấn đề bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
cùng với những thực tế có được trong quá trình thực tập tại Ngân hàng VPBank – Chi
nhánh Đông Đô, tôi đã quyết định chọn đề tài : “Chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và
thực tiễn áp dụng tại ngân hàng VPBank – Chi nhánh Đông Đô” cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề tập trung vào việc nghiên cứu chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay và
thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng VPBank – Chi nhánh Đông Đô, căn cứ trên số liệu thực
tế giai đoạn 2006 – 2010 và xu hướng phát triển của hoạt động này trong những năm tiếp
theo.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Chuyên đề tập trung nghiên cứu các vấn đề:

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
1. Khái niệm và vai trò của hoạt động tín dụng
1.1. Khái niệm hoạt động tín dụng
Trên thực tế, thuật ngữ “tín dụng” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng
phổ biến nhất là chỉ quan hệ vay mượn, chuyển giao tài sản giữa bên cho vay và bên đi
vay.
Trong đời sống xã hội, tín dụng do nhiều loại chủ thể thực hiện. Tuỳ thuộc vào
chủ thể cung ứng tín dụng mà tín dụng có thể chia thành các loại như: tín dụng nhà
nước, tín dụng quốc tế,, tín dụng hợp tác, tín dụng ngân hàng…
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân,
tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển
vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn
gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng
mang bản chất chung của quan hệ tín dụng đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn
và lãi sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời
quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên đều có lợi.
Hoạt động tín dụng được quy định trong Luật Các Tổ chức tín dụng (TCTD)
1997 từ Điều 49 đến Điều 64. Mục này quy định những vấn đề chung nhất liên quan
đến hoạt động tín dụng như việc thiết lập một quan hệ tín dụng thông qua hợp đồng tín
dụng hoặc hợp đồng thuê tài chính, nêu ra các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ tín dụng.
Theo định nghĩa tại khoản 8, khoản 10 Điều 20 Luật Các TCTD thì “Hoạt động
tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
“Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê
tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Như vậy hoạt động tín dụng là hoạt động mà TCTD sử dụng nguồn vốn tự có
hoặc nguồn vốn huy động để thực hiện việc cấp tín dụng với các hình thức cho vay,
chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình

phần ổn định tiền tệ và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.
Bên cạnh đó, thông qua hoạt động tín dụng, Chính phủ có những chính sách ưu
tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc
đưa ra các ưu đãi tín dụng… Do vậy đã kích thích, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào
các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước.
 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng trưởng kinh tế.
Đặc trưng cơ bản nhất của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi
tức, nhờ đó kích thích việc sử dụng vốn có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng,
doanh nghiệp phải trả nợ gốc- lãi vay đúng hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghi
trong hợp đồng tín dụng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện
nâng cao lợi nhuận.
 Tín dụng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài, là
phương tiện nối liền kinh tế trong nước với kinh tế nước ngoài.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế ngày nay, tín dụng ngân hàng đã trở thành một
trong những phương tiện nối liền nền kinh tế các nước với nhau. Đối với các nước đang
phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong việc
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
2. Hợp đồng tín dụng
2.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng
“Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên
cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ
chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn
nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm”
1
Về bản chất, hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay tài sản, theo đó thiết lập quan hệ
giữa bên vay và bên cho vay mối quan hệ về vay tài sản và thanh toán tài sản nợ. Điều

biện pháp bảo đảm để giảm nguy cơ rủi ro cho bên cho vay.
Thứ ba, hoạt động của TCTD là nhằm mục đích thu lợi nhuận nên HĐTD luôn có
điều khoản quy định về lãi suất. Lãi suất này không được cao hơn mức lãi suất trần do
Ngân hàng nhà nước quy định đối với từng loại vay tương ứng. Trong khi đó, hợp đồng
vay tài sản không đòi hỏi phải có lãi suất (các bên thỏa thuận - Điều 471 Bộ Luật dân sự
(BLDS) 2005). Việc hướng tới lợi nhuận khi xác lập quan hệ HĐTD xuất phát từ lợi ích
của TCTD, từ người gửi tiền và từ lợi ích của xã hội.
2.2. Giao kết hợp đồng tín dụng
2.2.1. Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Chủ thể của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng gốm một bên là các TCTD, có đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật với tư cách là bên cho vay và một bên là bên vay,
có thể là cá nhân, tổ chức thỏa mãn điều kiện vay vốn. Như vậy, trong hợp đồng tín
dụng ngân hàng một bên chủ thể phải là ngân hàng (thường đóng vai trò bên cho vay),
còn chủ thể kia là các pháp nhân, thể nhân ( thường đóng vai trò bên đi vay) có đủ các
điều kiện vay vốn.
a. Bên cho vay
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Theo Điều 12 Luật các TCTD 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004, quy định về các
loại hình TCTD:
“1. TCTD được thành lập theo pháp luật Việt Nam bao gồm TCTD nhà nước,
TCTD cổ phần, TCTD hợp tác, TCTD liên doanh, TCTD 100% vốn nước ngoài.
2. TCTD nước ngoài được mở chi nhành ngân hàng nước ngoài và văn phòng
đại diện tại Việt Nam.
3. TCTD nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của TCTD hoạt động tại Việt Nam
theo quy định của Chính phủ.”
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, các loại ngân hàng sau đây có thể là người
cho vay trong các quan hệ tín dụng Ngân hàng:
- Ngân hàng Nhà nước: Là người cho vay trong quan hệ với các tổ chức tín dụng và kho
bạc nhà nước.
- Ngân hàng Thương mại: Là người cho vay trong quan hệ với các pháp nhân kinh tế và

- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự;
b) Đối với khách hàng vay là tổ chức và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật
dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà tổ chức đó có
quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân
sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.
5. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Như vậy, các chủ thể cho vay và đi vay cần phải đáp ứng những điều kiện do
pháp luật quy định. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích chính
đáng của các bên tham gia quan hệ HĐTD.
2.2.2. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ
tư cách chủ thể tham gia cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng phù hợp với
pháp luật. Theo quy định tại điều 51 Luật Các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung năm 2004:
“Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình
thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm,
phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”
Như vậy, nội dung của HĐTD phải bao gồm các điều khoản cụ thể như sau:
- Điều khoản về đối tượng trong hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải
thoả thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi HĐTD đáo hạn.
Trong hợp đồng tín dụng luôn có một tỷ lệ phần trăm (%) tiền lãi nhất định. Số tiền lãi
này bao gồm: lãi suất vay trong hạn (đúng kỳ hạn mà hai bên thoả thuận, tỷ lệ % tiền lãi
vay trong hạn thường thấp hơn tỷ lệ % tiền lãi vay quá hạn) và lãi suất vay quá hạn. Tỷ
lệ % tiền lãi được tính theo mức lãi suất tương đương mức lãi suất trần do Ngân hàng

Khi có nhu cầu vay vốn, các tổ chức, cá nhân phải gửi cho TCTD giấy đề nghị
vay vốn (đơn xin vay vốn) và các tài liệu chứng minh có đủ điều kiện vay vốn, báo cáo
tài chính, mục đích vay vốn, phương án kinh doanh khả thi… Theo Điều 7 QĐ
1627/2001/QĐ-NHNN quy định về điều kiện vay vốn:
“Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều
kiện sau:
1. Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật;
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
2. Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp;
3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết;
4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định
của pháp luật;
5. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
Theo Điều 14 Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 và Quyết định
số 1627/2001/QĐ-NHNN khi khách hàng muốn vay vốn của tổ chức tín dụng thì khách
hàng phải lập một bộ hồ sơ vay vốn với đầy đủ các yêu cầu về: Giấy đề nghị vay vốn,
Các tài liệu chứng minh đủ điều kiện vay vốn.
 Bước 2: Thẩm định hồ sơ tín dụng
Thẩm định hồ sơ tín dụng là việc TCTD tiến hành xác minh các điều kiện vay
vốn đối với bên vay. Đây là một quy trình mang tính nghiệp vụ, gồm nhiều khâu được
thực hiện theo trình tự chặt chẽ, quyết định đến chất lượng của tín dụng.
Điều 53.2. Luật các TCTD quy định: “TCTD phải tổ chức việc xét duyệt cho vay
theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa các khâu thẩm định và quyết định cho vay”.
Nội dung thẩm định bao gồm việc xác định các điều kiện về chủ thể vay vốn, thẩm định
dự án đề nghị vay vốn, mục đích sử dụng vốn vay, phương án sản xuất kinh doanh và
tính khả thi của phương án, các biện pháp đảm bảo hợp đồng (Điều 15.2 QĐ 1627/2001/
QĐ-NHNN).

vay xấu.
 Bước 3: Quyết định cho vay
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Trên cơ sở kết quả thẩm định, TCTD quyết định cho khách hàng vay hay không.
Trong trường hợp không cho vay, TCTD phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản,
trong đó nêu rõ căn cứ không cho vay. (Điều 15.3 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN). Nếu
quyết định cho vay, cán bộ tín dụng cần xem xét và đưa ra quyết định hình thức cho vay,
thời hạn vay vốn, mức cho vay, lãi xuất vay.
* Hình thức cho vay
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn của từng khoản vốn vay của khách hàng và
kiểm tra giám sát việc khách hàng sử dụng vốn của tổ chức tín dụng , tổ chức tín dụng
thoả thuận với khách hàng vay vốn về việc lựa chọn phương án cho vay theo một trong
các phương thức cho vay sau đây:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục
vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều ký hạn
trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản
xuất kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết bảo đảm
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín
dụng thoả thuận với khách hàng về thời hạn, hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng,
mức chi trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục
vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án
vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn

trung hạn nhưng về mặt thời gian từ 60 tháng trở lên và không được quá thời
hạn còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp
nhân, không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
* Mức cho vay
Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, quy định của
Chính phủ tại Nghị định số 178 về mức cho vay với giá trị tài sản bảo đảm, khả năng
hoàn trả nợ của khách hàng vay vốn và khả năng nguồn vốn của mình để quyết định
mức cho vay.
Tổng dư nợ cho vay của một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có
của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản vay từ nguồn vốn uỷ thác của
Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp vay là các tổ chức tín dụng. Đối
với các đối tượng hạn chế cho vay thì tổng dư nợ cho vay không được vượt quá 5% vốn
tự có của tổ chức tín dụng.
 Bước 4: Đàm phán các điều khoản của HĐTD và ký kết HĐ
Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình giao kết HĐTD. Trong giai đoạn
này, các bên trực tiếp gặp nhau để thỏa thuận các điều khoản của HĐTD. Trên cơ sở
xem xét đánh giá kỹ lưỡng hồ sơ vay vốn và thẩm định các yếu tố cần thiết, cán bộ tín
dụng sẽ xét duyệt cho vay và hình thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có
đầy đủ nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay,
lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và
các cam kết khác được các bên thoả thuận. Giai đoạn này kết thúc bằng việc các bên
cùng chính thức ký tên vào bản hợp đồng.
Sau khi HĐTD được ký kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Đây là quá
trình làm cho cam kết trong HĐTD trở thành hiện thực thông qua hành vi của các bên.
Sau khi đã cho khách hàng vay vốn, TCTD thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình sử
dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Trong thực tiễn giao dịch tín dụng ở nước ta, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa
TCTD với khách hàng thường được thực hiện bằng phương thức “gia nhập”, nghĩa là
một bên (thường là TCTD) đưa ra hợp đồng mẫu với các điều khoản chủ yếu, còn bên

Bảng so sánh các giao dịch bảo đảm trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989
và Bộ luật dân sự năm 1995 dưới đây cho thấy sự khác biệt trước hết về số lượng các
giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực dân sự và kinh tế, cụ thể như sau:
Bảng 1.1. So sánh gữa các giao dịch bảo đảm trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
1989 và Bộ luật dân sự 1995
LOẠI BIỆN PHÁP
BẢO ĐẢM
BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP LỆNH HỢP ĐỒNG
KINH TẾ
Có/Kh
ông
Số điều Có/Không Số điều
Thế chấp Có 16 Có 1
Cầm cố Có 16 Có 1
Bảo lãnh Có 9 Có 1
Ký cược Có 1 Không
Đặt cọc Có 2 Không
Ký quỹ Có 1 Không
Tín chấp Có 1 Không
Phạt vi phạm Có 3 Có 1
Ngoài ra, việc áp dụng các quy định về giao dịch bảo đảm không thống nhất, gây
khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội do có sự khhác biệt trong các quy định của
pháp luật.Ví dụ, theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bên cầm cố bắt buộc phải
giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố. Trong khi đó, Bộ luật dân sự quy định bên cầm cố
vẫn có quyền được giữ tài sản cầm cố hoặc theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế,
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
thì hợp đồng cầm cố bắt buộc phải có chứng nhận của công chứng nhà nước những theo
quy định của Bộ luật dân sự thì lại không bắt buộc.v.v... Ngoài ra, pháp luật Việt Nam có sự
phân biệt giữa cho vay có bảo đảm trong lĩnh vực ngân hàng với cho vay có bảo đảm trong
đời sống dân sự. Theo đó, chủ nợ có bảo đảm là ngân hàng được hưởng nhiều quyền lợi hơn

đảm.
1.2. Hệ thống văn bản hiện hành
- Bộ luật Dân sự 2005.
- Luật các tổ chức tín dụng 1997, đã sửa đổi bổ xung năm 2004
- Luật Ngân hàng Nhà nước 1997, đã sửa đổi, bổ sung 2003.
- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày 31 tháng
12 năm 2001 ban hành quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng (đã được sửa đổi
bởi các quyết định số 127/2005 và quyết định số 783/2005 của Thống đốc Ngân hàng
nhà nước).
- Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 quy định về công chứng chứng thực.
- Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.
2. Khái niệm và vai trò của bảo đảm tiền vay
2.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là việc TCTD thoả thuận trên cơ sở hợp đồng với bên bảo đảm
về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của khách hàng
vay. Còn bảo đảm tiền vay bằng tài sản là biện pháp bảo đảm tiền vay, theo đó nghĩa vụ
trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế
chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ. Trong trường hợp khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ
thì tài sản bảo đảm tiền vay sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho TCTD.
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
Bảo đảm tiền vay còn được hiểu là sự thoả thuận của các bên nhằm đưa ra các
biện pháp tác động mang tính chất dự phòng, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ
vay. Đồng thời, ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc bên vay không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gây ra đối với tổ chức tín dụng cho vay.
Giao dịch bảo đảm tiền vay được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, các bên chủ thể có quyền
tự nguyện cam kết, thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của mình.
Bảo đảm tiền vay cũng là những quy định của pháp luật về việc thực hiện các
biện pháp bảo đảm được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Dân sự 2005.
Theo đó, cho phép các chủ thể trong giao dịch bảo đảm tiền vay áp dụng các biện pháp
bảo đảm nhất định để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng được thực

gặp khó khăn trong thanh toán, nhất là khi doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản.
Khi cho khách hàng vay vốn, mục đích mà các TCTD hướng đến là lợi nhuận, mà
lợi nhuận ở đây chỉ có thể có được khi khách hàng hoàn trả vốn vay và lãi suất. Để
phòng ngừa mọi rủi ro có thể xảy ra, các TCTD buộc phải áp dụng các biện pháp bảo
đảm tiền vay để bảo toàn nguồn vốn cho vay. Trong trường hợp khách hàng không có
khả năng hoàn trả phần vốn vay do hoạt động sản xuất kinh doanh của họ gặp khó khăn
hoặc lâm vào tình trạng phá sản thì các TCTD có thể thu hồi được vốn cho vay thông
qua tài sản mà bên vay đã dùng để bảo đảm với bên cho vay. Mặt khác, việc cho vay có
bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp sẽ bảo đảm cho tổ chức tín dụng quản lý, theo
dõi được hoạt động của doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, từ đó bảo đảm an toàn cho
tổ chức tín dụng trong việc thu hồi vốn vay.
• Bảo đảm tiền vay kích thích hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
Mục đích của TCTD trong hoạt động tín dụng là lợi nhuận và phải tránh được
những rủi ro. Bảo đảm tiền vay có vai trò tạo cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động cho
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
vay của các TCTD và cũng chính vì lý do này mà bảo đảm tiền vay có ý nghĩa trong việc
kích thích hoạt động cho vay của các TCTD. Bởi vì, khi áp dụng các biện pháp cho vay
có bảo đảm thì các tổ chức tín dụng sẽ vẫn có khả năng thu hồi được nợ ngay cả khi
khách hàng không có khả năng thanh toán. Do vậy, các TCTD sẽ tích cực hơn trong hoạt
động cho vay của mình. Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã
hội.
• Bảo đảm tiền vay hạn chế các tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Khi tham gia vào các quan hệ tín dụng, các bên có quyền thoả thuận về các biện
pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật. Chính vì có sự thoả thuận đó mà các TCTD
đã nắm được quyền kiểm soát về tài sản của khách hàng trong thời gian khách hàng vay
vốn. Nếu vì một lý do nào đó mà một trong hai bên vi phạm các cam kết thì bên kia cũng
có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên được pháp luật bảo vệ,
hạn chế được các tranh chấp xảy ra. Khi các quan hệ tín dụng này đi vào hoạt động theo
hành lang pháp lý của nó thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế

được quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật dân sự 2005. Cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời
điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố mà trong hợp đồng tín dụng bên nhận
cầm cố là tổ chức tín dụng thực hiện việc cho vay.
* Chủ thể của cầm cố tài sản
Các bên trong quan hệ cầm cố có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác
nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu về năng lực chủ thể theo luật định. Trong cầm cố tài
sản, chủ thể phải giao tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ gọi là bên cầm cố. Bên
được giữ tài sản để bảo đảm quyền lợi của mình gọi là bên nhận cầm cố.
* Đối tượng của cầm cố
Đối tượng của càm cố tài sản là những tài sản mà người có nghĩa vụ đã dùng nó
Khãa luËn tèt nghiÖp Lª H÷u Nguyªn – LuËt kd 48
để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Cầm cố là một giao dịch dân sự nên đối
tượng của cầm cố trước tiên phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 282
BLDS 2005. Ngoài ra, đối tượng cầm cố phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều
326 BLDS:
- Phải là một tài sản thộc quyền sở hữu của bên cầm cố
Từ thời điểm khi người cầm cố giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố, họ mất
đi một số quyền năng đối với tài sản đó. Bên nhận cầm cố chiếm hữu tài sản đó, đồng
thời có quyền định đoạt tài sản đó nếu đến thời hạn thỏa thuận mà bên cầm cố không
thực hiện nghĩa vụ của mình. Do vậy, tài sản là đối tượng của cầm cố phải thuộc quyền
sở hữu của bên cầm cố. Nếu tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người thì nó phải
được sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu.
- Đối tượng của cầm cố phải là một tài sản (vật, quyền tài sản)
Bản chất của cầm cố là sự dịch chuyển một tài sản từ người cầm cố sang người
nhận cầm cố. Vì vậy đối tượng của cầm cố đương nhiên là những tài sản có thể dịch
chuyển được. Đối tượng của cầm cố có thể là một phần giá trị hoặc toàn bộ giá trị của
vật cầm cố. Đối tượng của cầm cố có thể là các tài sản hiện có hoặc có thể là tài sản sẽ
hình thành trong tương lai. Đối tượng của cầm cố có thể là bất động sản với điều kiện
người nhận cầm cố sẽ trực tiếp giữ bất động sản đó.
Ngoài ra, đối tượng của cầm cố có thể là các quyền tài sản. Tuy nhiên, các quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status