Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế phát triển thì các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
rơi vào tình trạng.quá tải! Công tác quy hoạch đô thị ngày càng trở nên khó khăn hơn,
trong đó giải phóng mặt bằng là cả một vấn đề. Hơn nữa, để phát triển một đô thị văn
minh, hiện đại trong tương lai càng không phải là chuyện dễ. Hiện nay, tỷ lệ đô thị
hóa ở nước ta đang diễn ra rất nhanh, cụ thể chỉ từ 19,5% của năm 1990 đã tăng lên
gần 27% vào năm 2005. Đô thị phát triển nhanh, kéo theo thị trường bất động sản
biến động lớn. Bên cạnh những khó khăn đặt ra trong quá trình đổi mới trên nhiều
lĩnh vực, thì đô thị ở Việt Nam cũng đang phải đối diện với nhiều thách thức không
nhỏ. Đó là tỷ lệ người dân ở nông thôn nhập cư vào đô thị ngày càng lớn, tạo ra áp
lực về nhà ở và hạ tầng. Theo Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu
đô thị và phát triển hạ tầng thì hiện đô thị cả nước có khoảng 25% nhà ở thuộc diện
chưa đạt tiêu chuẩn. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 300.000 người
sống trong các khu nhà ổ chuột, còn ở Hà Nội có khoảng 30% số dân có diện tích ở
không quá 3m2/người. Tính bình quân trên cả nước, mật độ dân cư ở đô thị tới gần
240 người/ha, tức bình quân mỗi người chỉ có khoảng 42m2, trong khi mức tối thiểu
đạt chuẩn phải là 100m2. Về nước sạch, chỉ có 50% dân cư đô thị có nước máy đạt
chuẩn; chưa có đô thị nào có hệ thống xử lý nước thải, rác thải chất đống trong kênh
rạch, ao hồ ngày càng gây ô nhiễm nặng. Cùng với những bất cập trên là tình trạng
kẹt xe, ô nhiễm không khí do hạ tầng bị quá tải trầm trọng…
Với mục đích tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện, Nhà nước đã thực sự
quan tâm đến hoạt động đầu tư xây dựng thông qua việc ban hành hàng loạt các văn
bản nhằm thống nhất quản lý hoạt động đầu tư xây dựng.
Để sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư của xã hội, đáp ứng những đòi hỏi về
tiến độ thi công, cũng như nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm của các
bên trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phát huy tối đa vai trò tự
chủ, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng, trong
lĩnh vực xây dựng cơ bản đã xuất hiện phương thức mới là đấu thầu.
Phương thức đấu thầu đã được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới. Tại Việt
Nam phương thức này chỉ mới xuất hiện nhưng nó đã thể hiện là một phương thức
bạch để lựa chọn nhà thầu phù hợp, đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án nói chung
cũng như các công trình xây dựng nói riêng.
Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị (UDIC) là Tổng công ty kinh doanh
đa dạng hoá ngành nghề, mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất kinh doanh với cơ cấu
ngành nghề chính là đầu tư, xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp…
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài những ngành nghề đã có và đang đầu tư xây dựng như khu đô thị, khu công
nghiệp, đường giao thông, các khu công nghiệp, dân dụng, nhà ở…sẽ tham gia đầu tư
xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật lớn như cầu_hầm_đường bộ quốc gia, công
trình cáp điện trung cao thế…UDIC bao gồm 27 công ty kể cả bộ máy sản xuất của
Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị.Trong đó có 5 công ty thành viên trong
nước và 5 Công ty liên doanh với nước ngoài đã tổng hợp được sức mạnh về vốn,
kinh nghiệm quản lí, thi công cùng đội ngũ cán bộ quản lí, kỹ sư, cử nhân và công
nhân nhiệt huyết, kinh nghiệm, có trình độ tay nghề cao với hoạt động sản xuất kinh
doanh cùng hệ thống chất lượng ISO đã tạo nên những sản phẩm tốt cả lượng và chất
có uy tín trên thị trường đóng góp vào sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững của thủ
đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Qua quá trình thực tập tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, nhận
thức rõ vấn đề quan trọng của Pháp luật về đấu thầu xây lắp trong lĩnh vực xây dựng
nói riêng và trong nền kinh tế của đất nước nói chung, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật
về đấu thầu xây lắp và thực tiễn áp dụng tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ
tầng đô thị”.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lí luận chung về đấu thầu và đấu thầu xây lắp.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu xây lắp tại Tổng Công ty Đầu
tư phát triển hạ tầng đô thị .
Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đấu thầu xây lắp và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về đấu thầu xây lắp tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ
tầng đô thị.
phù hợp với kết quả đấu thầu cũng như đáp ứng được cơ bản các tiêu chí đã được bên
mời thầu đưa ra.
Pháp luật coi đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại là vì nó cũng có
những dấu hiệu cơ bản của một hoạt động thương mại:
1
Từ điển Tiếng Việt phổ thông. Viện ngôn ngữ học NXB Hồ Chí Minh 2002, tr 270
2
Từ điển Tiếng Việt, Vĩnh Tịnh, NXB Lao Động 2006, tr 318
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Các nhà thầu có tư cách thương nhân khi thực hiện hoạt động dự thầu;
- Hoạt động đấu thầu được thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận hoặc nhằm thực
hiện các chính sách kinh tế_xã hội;
- Đối tuợng của đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là các loại hàng hoá thương mại được
phép lưu thông và các dịch vụ thương mại được phép thực hiện theo quy định của
pháp luật;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu được xác lập thông qua
những hình thức pháp lí nhất định do pháp luật quy định.
Tuy nhiên, đấu thầu có những đặc điểm đặc thù so với các hoạt động thương mại
khác:
- Thứ nhất, đấu thầu là một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể
Trong quan hệ đấu thầu các chủ thể tham gia đấu thầu có thể bao gồm: chủ đầu tư,
bên mời thầu, nhà thầu, tổ chuyên gia, tổ chức tư vấn. Trong đó:
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu,
người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án đấu thầu.
Bên mời thầu là bên có khả năng cung cấp hàng hoá, dịch vụ nhưng không phải
bất kì chủ thể nào cũng trở thành bên dự thầu. Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ
chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức
đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu.
Nhà thầu là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định của pháp luật về
đánh giá được các nhà thầu một cách công bằng, khách quan. Thông qua các yêu cầu
mà bên mời thầu đưa ra, các nhà thầu dựa trên năng lực tài chính, kỹ thuật, kinh
nghiệm của mình để chào giá. Nhà thầu nào có giá phù hợp cũng như các tiêu chí
khác về kỹ thuật, kinh nghiệm,v.v…sẽ được chọn làm đối tác.
Ngoài ra, khi tham gia đấu thầu nhà thầu phải có bảo lãnh dự thầu
Đây là việc nhà thầu đặt một khoản tiền mặt, séc hoặc bảo lãnh của ngân hàng để
đảm bảo trách nhiệm của nhà thầu trong việc dự thầu. Mục đích của bảo lãnh dự thầu
là nhằm bảo đảm nhà thầu không thay đổi và huỷ bỏ việc tham gia đấu thầu giữa
chừng đồng thời loại bỏ những nhà thầu không nghiêm túc. Số tiền bảo lãnh sẽ được
trả lại cho những nhà thầu không trúng thầu trong một thời hạn nhất định. Việc bảo
lãnh thường do một ngân hàng thực hiện và ngân hàng phải lập giấy cam kết bảo lãnh
kèm theo hồ sơ dự thầu.
2. Phân loại đấu thầu
2.1.Theo hình thức lựa chọn nhà thầu
3
Điều 9 khoản 2 Luật đấu thầu 2005
4
Điều 4 khoản 13 Luật đấu thầu 2005
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đấu thầu được chia làm 7 loại
• Đấu thầu rộng rãi
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các
phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Hình thức đấu
thầu này có ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực
trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực cạnh
tranh, mang lại hiệu quả cao cho dự án.
• Đấu thầu hạn chế
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối
- Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới năm trăm triệu đồng, gói thầu mua
sắm hàng hoá, xây lắp có giá gói thầu dưới một tỉ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển;
gói thầu mua sắm hàng hoá có giá trị gói thầu dưới năm trăm triệu đồng thuộc dự án
hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ chức đấu thầu
Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ
năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy trình
thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định.
• Chào hàng cạnh tranh
Hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị dưới
2 tỷ đồng. Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường
với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá và tương đương nhau về chất lượng.
Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng
đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác. Đối với mỗi gói thầu phải có tối
tiểu ba báo giá từ ba nhà thầu khác nhau.
• Mua sắm trực tiếp
Được áp dụng khi hợp đồng đôí với gói thầu có nội dung tương tự được kí trước
đó không quá sáu tháng.
Khi thực hiện mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa chọn
thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự.
Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không
được vượt đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã kí hợp
đồng trước đó.
Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một
dự án hoặc thuộc dự án khác.
• Tự thực hiện
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình thức này chỉ được áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực
và kinh nghiệm để thực hiện gói thàu thuộc dự án do mình quản lý sử dụng.
• Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có gia dự thầu; trên cơ
sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này này sẽ xác định hồ sơ mời thầu
giai đoạn hai;
- Giai đoạn đấu thầu: theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham gia giai
đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất kỹ thuật; đề
xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu.
2.3. Theo nội dung đấu thầu
Đấu thầu được chia làm 3 loại
• Đấu thầu tuyển chọn tư vấn
Nhà thầu tư vấn là nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp các sản phẩm đáp ứng yêu
cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn.
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình lựa chọn nhà tư vấn có đủ trình độ và kinh
nghiệm để giúp đỡ, tư vấn cho chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị đầu tư và thực
hiện đầu tư.
Dịch vụ tư vấn bao gồm:
- Dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án gồm có lập, đánh giá báo cáo quy hoạch, tổng sơ
đồ phát triển, kiến trúc, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cúu khả thi;
- Dịch vụ tư vấn thực hiện dự án gồm có khảo sát, lập thiết kế, tổng dự toán và dự
toán, lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, giám sát thi công xây dựng và lắp
đặt thiết bị;
- Dịch vụ tư vấn điều hành quản lý dự án, thu xếp tài chính, đào tạo, chuyển giao
công nghệ và các dịch vụ tư vấn khác.
Nhà tư vấn không tham gia đánh giá kết quả công việc do mình thực hiện và
không được tham gia đấu thầu thực hiện các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp
do mình làm tư vấn (trừ các gói thầu thực hiện theo loại hợp đồng chìa khoá trao tay).
• Đấu thầu mua sắm hàng hóa
Đấu thầu mua sắm hàng hoá là quá trình lựa chọn nhà thầu cung ứng hàng hoá đáp
ứng được yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở có sự cạnh tranh giữa các nhà cung
cấp. Hàng hoá ở đây có thể là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng và các dich vụ không phải là dịch vụ tư vấn
Thực chất của đấu thầu xây lắp là việc ứng dụng phương pháp xét hiệu quả kinh tế
trong việc lựa chọn tổ chức thi công xây dựng. Phương pháp này đòi hỏi sự so sánh
giữa các tổ chức xây dựng trên cùng một phương diện (như kĩ thuật hay tài chính) để
chọn lấy một nhà thầu có đủ khả năng sau đó lại so sánh tiếp. Kết quả cuối cùng sẽ
tìm ra được một tổ chức xây dựng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư.
5
Điều 4, Khoản 18 Luật đấu thầu 2005
6
Điều 4, Khoản 19 Luật đấu thầu 2005
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đấu thầu xây lắp có một số đặc điểm khác so với đấu thầu trong những lĩnh vực
khác. Cụ thể:
- Sản phẩm của sản xuất xây lắp có đặc điểm là mang tính đơn chiếc, công trình
đặt tại một vị trí cố định, phục vụ cho một mục đích cụ thể, một chủ trương quản lí
sử dụng, không phải là hàng hoá thông thường mua bán trên thị trường, khối lượng
vật chất, tiền vốn tiêu hao, số lao động tham gia vào quá trình sản xuất lớn gấp nhiều
lần các loại sản phẩm thuộc lĩnh vực khác, một công trình có nhiều ngành nghề và tổ
chức cùng tham gia.
- Thời gian hoàn thành công trình lại dài, khi đã thực hiện các bước như chuẩn bị
đầu tư, chuẩn bị xây dựng…thì không thể dễ dàng thay đổi, đình hoãn. Điều đó
chứng tỏ xây dựng cơ bản là một quá trình sản xuất phức tạp, đa dạng có tác dụng
cũng như hậu quả lâu dài về sau. Quy mô của công trình càng lớn thì mối quan hệ với
các ngành, lĩnh vực càng phức tạp và có tác động lớn đến việc phân bố lại lực lượng
sản xuất và dân cư, tác động đến môi sinh, môi trường và cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật
khác. Vì thế việc áp dụng đấu thầu trong xây dựng cơ bản không những phải đạt
được tiêu chuẩn một công trình với giá thành rẻ, chất lượng cao mà còn phải đặt
trong tổng thể phát triển của nền kinh tế xã hội.
1.2. Quá trình phát triển của pháp luật về đấu thầu xây lắp
Pháp luật về đấu thầu xây lắp là tổng hợp các Quy phạm pháp luật điều chỉnh
thực tế. Vì vậy, đến ngày 12/02/1990 Bộ xây dựng đã ban hành Quy chế đấu thầu
trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT thay thế cho Thông tư số
03/BXD-VKT. Có thể nói rằng quy chế đấu thầu trong xây dựng ban hành kèm theo
Quyết định 24/BXD-VKT là quy chế đầu tiên về hoạt động đấu thầu xây dựng của
Việt Nam.Trong văn bản này các vấn đề cơ bản về đấu thầu xây dựng (phạm vi, đối
tượng điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ của các bên, các hình thức và trình độ tổ chức
đấu thầu …) đã được quy định. Tuy chưa đầy đủ song chúng đã khái quát được một
số nét cần thiết nhất để thực hiện đấu thầu xây dựng. Trong quy chế này mục tiêu của
đấu thầu chưa được đặt ra nhưng có thể thấy rằng việc ban hành quy chế này đã tạo
nên một nền tảng pháp lý để qua đó tạo nên một sân chơi bình đẳng, mang tính cạnh
tranh cho các thành phần kinh tế trong xã hội
• Giai đoạn áp dụng Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP
và Nghị định số 93/1997/NĐ-CP ngày 23/08/1997
Nói chung Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-
VKT còn mang nặng tính quản lý về mặt hành chính Nhà nước. Bốn năm sau ngày
ban hành Quy chế này, thực hiện cải tiến công tác đơn giá, dự toán nhằm chống lãng
phí, thất thoát và tiêu cực trong đầu tư và xây dựng theo Quyết định số 92-TTg ngày
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ xây dựng đã ban hành Quy chế đấu thầu
trong xây lắp kèm theo Quyết định số 60-BXD/VKT ngày 30/3/1994. Quy chế này
thay thế Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT
ngày 12/2/1990. Đây là một bước tiến rõ rệt của việc điều chỉnh công tác đấu thầu
trong xây dựng ở Việt Nam giai đoạn này. Quy chế gồm 32 điều, quy định một cách
rõ ràng, chi tiết đấu thầu trong xây dựng. Các quy định của quy chế mở rộng hơn
hình thức đấu thầu, phạm vi các công trình cần đấu thầu và quy định cụ thể quyền và
nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu. Tuy vậy, trình tự đấu thầu chưa được quy định
cụ thể. Việc quản lý hồ sơ được quy định ở mức độ chưa cao, chưa đảm bảo được
nguyên tắc bảo mật của đấu thầu. Quy chế chỉ quy định hai hình thức đấu thầu rộng
rãi và đấu thầu hạn chế mà chưa có chỉ định thầu.
Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1 tháng 9 năm 1999. Tính đến thời điểm trước
khi Luật xây dựng được ban hành thì Nghị định này vẫn được coi là cơ sở pháp lý
quan trọng nhất của Việt Nam về đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng.
Nghị định này cũng được xây dựng phù hợp với Luật mẫu UDCITRAL về đấu thầu
mua sắm hàng hoá, dịch vụ và xây lắp. Liên quan đến đấu thầu, Nghị định số
88/1999/NĐ-CP quy định ba phương thức đấu thầu là đấu thầu một túi hồ sơ, đấu
thầu hai túi hồ sơ và đấu thầu hai giai đoạn.
Do nền kinh tế biến đổi nhanh, Nghị định số 88/1999/NĐ-CP cũng nhanh chóng
có bất cập về một số vấn đề; đặc biệt là đối với chỉ định thầu. Rất nhiều các cơ quan
và doanh nghiệp trong nước đã lên tiếng cho rằng quy định như trong Nghị định là
quá chặt chẽ khiến cho nhiều trường hợp giá trị nhỏ thì chi phí hành chính cho việc tổ
chức đấu thầu tồn kém nhiều so với lợi ích tiết kiệm được thông qua đấu thầu. Ngoài
ra, có nhiều ý kiến cho rằng chính các quy định chặt chẽ này làm mất quyền tự chủ
của bên mời thầu trong việc chỉ đinh thầu. Điều này làm giảm ý nghĩa kinh tế của đấu
thầu. Để hoàn thiện hơn nữa Quy chế đấu thầu Chính phủ đã ban hành Nghị định số
42/2000/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 nhằm sửa đổi, bổ sung 8 điều của Nghị
định số 88/1999/NĐ-CP, trong đó nội dung chính là nhằm quy định rõ các trường
hợp mà bên chủ đầu tư có thể chọn phương thức chỉ định thầu. So với các nghị định
trước đó, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP có những điểm mới dành cho đấu thầu xây
lắp đáng lưu ý là phương pháp “gía đánh giá” phù hợp với các quy định về đấu thầu
trên thế giới; quy định mốc tối đa và tối thiểu đối với một số khâu chủ yếu của quá
trình đấu thầu; cho phép tổ chức đấu thầu quốc tế khi không có nhà thầu Việt Nam
nào đáp ứng yêu cầu gói thầu, nhà thầu quốc tế cam kết sử dụng nhà thầu phụ Việt
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nam; điều kiện dự thầu phải có trụ sở chi nhánh ở địa phương tham gia đấu thầu,
hình thức chỉ định thầu được mở rộng hơn.
Mặc dù Nghị định số 14/2000/NĐ-CP đã có nhiều sửa đổi quan trọng nhưng vẫn
chưa theo kịp sự phát triển của nề kinh tế. Vì vậy, ngày 12 tháng 6 năm 2003 Chính
phủ ban hành Nghị định số 66/2003/NĐ-CP trong đó quy chế đấu thầu lại một lần
trước ngày 01/4/2009. Trong trường hợp này, bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời
thầu với đầy đủ thông tin, tài liệu liên quan gồm cả báo cáo nghiên cứu khả thi (dự án
đầu tư) và phải bảo đảm đủ thời gian để các nhà thầu có điều kiện như nhau trong
quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu.
Nhà thầu đã lập thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, thiết kế công nghệ cho
gói thầu không được tham gia đấu thầu xây lắp, cung cấp hàng hóa cho gói thầu đó
kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp đối với gói thầu EPC
(thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư và xây lắp)
Để bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu, Nghị định nêu rõ các điều kiện về tính độc
lập giữa các nhà thầu, giữa nhà thầu với chủ đầu tư. Cụ thể, chủ đầu tư và nhà thầu
tham gia đấu thầu gói thầu thuộc cùng một dự án được coi là độc lập với nhau về tổ
chức, không cùng một cơ quan quản lý và độc lập với nhau về tài chính khi đáp ứng
điều kiện: không có cổ phần hoặc vốn góp trên 50% của nhau
Chủ đầu tư và nhà thầu tham gia đấu thầu gói thầu thuộc cùng một dự án được coi
là độc lập với nhau về tổ chức, không cùng một cơ quan quản lý và độc lập với nhau
về tài chính khi đáp ứng điều kiện: không có cổ phần hoặc vốn góp trên 50% của
nhau; Hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 đối với nhà thầu là tổ chức. Quy
định này được thực hiện từ ngày 01/4/2009. Các nhà thầu được coi là độc lập với
nhau nếu đáp ứng 2 điều kiện: không cùng thuộc một cơ quan nhà nước, đơn vị lực
lượng vũ trang nhân dân ra quyết định thành lập, trừ các nhà thầu là doanh nghiệp đã
chuyển đổi và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005; Không có cổ phần hoặc
vốn góp trên 30% của nhau. Quy định này cũng được thực hiện từ ngày 01/4/2009.
Việc xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu cũng được quy định chi tiết, theo đó,
mức phạt tiền từ 5-50 triệu đồng. Hành vi đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất,
thẩm định, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu không căn cứ vào các yêu cầu của hồ
sơ mời thầu; các hành vi vi phạm dẫn đến phải tổ chức đấu thầu lại… có mức phạt
tiền từ 5 đến 30 triệu đồng.
Mức phạt từ 20 đến 50 triệu đồng nếu thực hiện các hành vi sau: dàn xếp, thông
đồng giữa tất cả nhà thầu, giữa nhà thầu với chủ đầu tư…; người phê duyệt kết quả
lựa chọn nhà thầu làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu dẫn đến phải huỷ đấu thầu
thầu do tổ chức có thẩm quyền ban hành. Việc mở thầu cũng phải công khai, các nhà
thầu tham gia đấu thầu phải được mời tới dự mở thầu. Những nội dung cơ bản của
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
từng hồ sơ dự thầu cũng phải được công bố công khai ngay khi mở thầu và được ghi
vào biên bản mở thầu.
2.3. Nguyên tắc bảo mật thông tin đấu thầu
Do tính chất cạnh tranh gay gắt giữa các bên dự thầu nhằm mục đích trở thành
người cung cấp hàng háo dịch vụ cho bên mời thầu mà việc bảo mật thông tin đấu
thầu phải được coi là một nguyên tắc không thể xâm phạm. Theo nguyên tắc này, bên
mời thầu phải thông bảo mật hồ sơ dự thầu đồng thời, các tổ chức, cá nhân có liên
quan đến việc tổ chức đấu thầu và xét chọn thầu phải giữ bí mật thông tin liên quan
đến việc đấu thầu .
2.4. Nguyên tắc đánh giá khách quan, công bằng
Các hồ sơ dự thầu hợp lệ đều phải được xem xét, đánh giá khách quan, công bằng
với cùng một tiêu chuẩn như nhau và bởi một hội đồng xét thầu có đủ năng lực, kinh
nghiệm và tư cách. Các tiêu chí đánh giá hồ sơ, tiêu chuẩn xét thầu phải được công
bố trước trong hồ sơ mời thầu và trong quá trình xét thầu bên mời thầu không được
tự ý thay đổi.
2.5. Nguyên tắc bảo đảm dự thầu
Trong quá trình đấu thầu vì một lí do nào đó mà các nhà thầu có thể gây cản trở
cho quá trình đấu thầu như: Rút lại hồ sơ dự thầu, khi trúng thầu không thực hiện hợp
đồng…Do đó phải có nguyên tắc bảo đảm dự thầu. Bảo đảm dự thầu được thực hiện
dưới hình thức đặt cọc, kí quỹ hoặc bảo lãnh dự thầu. Các bên dự thầu đều phải thực
hiện việc bảo đảm dự thầu theo yêu cầu của bên mời thầu để bảo đảm tư cách, năng
lực của bên dự thầu trong những trường hợp cần thiết.
3. Phạm vi và đối tượng áp dụng đấu thầu xây lắp
3.1. Phạm vi áp dụng
Theo quy định tại Điều 1 Luật đấu thầu 2005 thì đấu thầu xây lắp được áp dụng để
lựa chọn nhà thầu cho các dự án đầu tư tại Việt nam và phải được tổ chức đấu thầu,
- Mua sắm trực tiếp;
- Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hoá;
- Tự thực hiện;
- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt;
(Nội dung các hình thức này đã trình bày cụ thể tại phần I.2, chương 1).
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuỳ theo quy mô, tính chất, nguồn gốc xây dựng công trình, người quyết định đầu
tư hoặc chủ đầu tư xây dựng công trình lựa chọn nhà thầu theo các hình thức sau:
7
1. Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế;
2. Chỉ định thầu;
3. Lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng.
4.3. Điều kiện thực hiện đấu thầu xây lắp
Đối với đấu thầu xây lắp cũng như đấu thầu nói chung để tham gia đấu thầu bên
mời thầu và bên dự thầu phải có những điều kiện sau:
• Đối với Bên mời thầu
Cá nhân tham gia bên mời thầu phải có đủ các điều kiện sau đây
8
:
- Am hiểu pháp luật về đấu thầu;
- Có kiến thức về quản lý dự án;
- Có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của gói thầu theo các lĩnh vực kỹ
thuật, tài chính, thương mại, hành chính và pháp lý;
- Có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu đôí với gói thầu được tổ chức đấu thầu
quốc tế, gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA.
• Đối với Bên dự thầu
Nhà thầu tham gia đấu thầu đối với một gói thầu phải có đủ các điều kiện:
- Có tư cách hợp lệ:
+ Nhà thầu là tổ chức có tư cách hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau
chung và trách nhiệm riêng của từng thành viên với công việc thuộc gói thầu.
- Đáp ứng yêu cầu nêu trong thông báo mời thầu hoặc thư mời thầu của bên mời
thầu;
- Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu
5. Trình tự đấu thầu xây lắp
Việc tổ chức đấu thầu xây lắp được diễn ra theo trình tự sau:
- Bước 1:Chuẩn bị đấu thầu
- Bước 2:Tổ chức đấu thầu
- Bước 3: Đánh giá hồ sơ dự thầu
- Bước 4: Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu
- Bước 5: Thông báo kết quả đấu thầu
- Bước 6: Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng
Mỗi giai đoạn được quy định cụ thể như sau:
5.1.Chuẩn bị đấu thầu
11
- Sơ tuyển nhà thầu
Việc sơ tuyển nhà thầu được thực hiện trước khi tổ chức đấu thầu nhằm chọn
được các nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của gói thầu để mời
tham gia đấu thầu. Đối với gói thầu xây lắp, gói thầu lựa chọn tổng thầu xây dựng, trừ
tổng thầu thiết kế, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển còn phải phù hợp với yêu cầu
10
Điều 8 Luật đấu thầu 2005
11
Điều 32 Luật đấu thầu 2005.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
về điều kiện năng lực đối với từng loại, cấp công trình xây dựng theo quy định của Luật
Xây dựng
Trình tự thực hiện sơ tuyển bao gồm
+ Lập hồ sơ mời sơ tuyển
12
Điều 23.2 Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008
13
Điều 23 Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuẩn đánh giá về kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu song cần yêu cầu nhà thầu
khẳng định tại các thông tin về năng lực và kinh nghiệm mà nhà thầu đã kê khai trong
hồ sơ dự sơ tuyển;
- Hồ sơ mời thầu không được nêu yêu cầu về nhãn hiệu, xuất xứ cụ thể của
hàng hoá theo quy định tại khoản 5 Điều 12 của Luật Đấu thầu. Trường hợp đặc biệt
cần thiết phải nêu nhãn hiệu, catalô của một nhà sản xuất nào đó, hoặc hàng hoá từ
một nước nào đó để tham khảo, minh họa cho yêu cầu về mặt kỹ thuật của hàng hóa
thì phải ghi kèm theo cụm từ "hoặc tương đương" sau nhãn hiệu, catalô hoặc xuất xứ
nêu ra và quy định rõ khái niệm tương đương nghĩa là có đặc tính kỹ thuật tương tự,
có tính năng sử dụng là tương đương với các hàng hóa đã nêu. Đối với hàng hoá đặc
thù, phức tạp, cần yêu cầu nhà thầu nộp Giấy phép bán hàng thuộc bản quyền của nhà
sản xuất;
- Hồ sơ mời thầu phải bao gồm các yêu cầu quan trọng (điều kiện tiên quyết) để
loại bỏ hồ sơ dự thầu, cụ thể như sau:
+ Nhà thầu không có tên trong danh sách mua hồ sơ mời thầu hoặc không đáp
ứng quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định này,
+ Nhà thầu không bảo đảm tư cách hợp lệ theo quy định tại Điều 7, Điều 8 của
Luật Đấu thầu;
+ Không có bảo đảm dự thầu hoặc có bảo đảm dự thầu nhưng không hợp lệ: có
giá trị thấp hơn, không đúng đồng tiền quy định, thời gian hiệu lực ngắn hơn, không
nộp theo địa chỉ và thời gian quy định trong hồ sơ mời thầu, không đúng tên nhà thầu
(trường hợp đối với nhà thầu liên danh theo quy định tại Điều 32 Nghị định
58/2008/NĐ-CP), không phải là bản gốc và không có chữ ký hợp lệ (đối với thư bảo
lãnh của ngân hàng, tổ chức tài chính);
5.2.Tổ chức đấu thầu
14
- Phát hành hồ sơ mời thầu:
Hồ sơ mời thầu được phát hành cho các nhà thầu tham gia đấu thầu rộng rãi, cho
các nhà thầu theo danh sách được mời thầu tham gia đấu thầu hạn chế hoặc cho các
nhà thầu đã vượt qua bước sơ tuyển.
Trường hợp hồ sơ mời thầu cần sửa đổi sau khi phát hành thì phải thông báo đến
các nhà thầu đã nhận hồ sơ mời thầu tối thiểu mười ngày trước thời điểm đóng thầu.
- Tiếp nhận và quản lí hồ sơ dự thầu
14
Điều 33 Luật đấu thầu 2005
25