Đề tài “Pháp luật về hợp đồng nhập khẩu và thực tiễn áp dụng tại hợp tác xã Công nghiệp Quyết Tiến” doc - Pdf 19

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
Luận văn
- Trang 1 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
Đề tài “Pháp luật về hợp đồng nhập
khẩu và thực tiễn áp dụng tại hợp tác xã
Công nghiệp Quyết Tiến”MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Có thể khẳng định rằng nền kinh tế của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới và
chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước đã và đang khẳng định được bước đi đúng hướng, đồng thời cũng tạo ra một môi
trường kinh doanh ngày càng hoàn thiện cả về nhân tố cấu thành cũng như hành lang
pháp lý. Mặt khác, có thể nói rằng sự giao lưu giữa các nước trên thế giới ngày càng
được mở rộng theo xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Việt
Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó, điển hình là việc Việt Nam vừa gia nhập
tổ chức thương mại thế giới WTO.
Nếu một quốc gia chỉ đóng của không giao lưu với nền kinh tế khác và thực
hiện cơ chế tự cung tự cấp thì quốc gia đó không thể nào phát triển được. Mà để có
một nền kinh tế phát triển thì quốc gia đó phải tăng cường giao lưu hợp tác, thúc đẩy
giao lưu, hội nhập với nền kinh tế bên ngoài để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
quốc gia.Với việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam càng có nhiều
cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nhìn vào thực trạng hiện nay, chúng ta thấy rằng Việt Nam vẫn là một nước
được xếp vào nhóm đang phát triển, vẫn dựa vào nông nghiệp là chính, công nghiệp
cũng chưa phát triển mạnh nhưng bù lại chúng ta có rất nhiều tiềm năng. Do đó, để
đảm bảo cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước, thì phải thúc đẩy sự phát triển
kinh tế. Một trong những biện pháp đó là phát triển kinh tế ngoại thương, mở rộng sự
- Trang 2 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
hợp tác với các nền kinh tế trên thế giới là một yêu cầu cấp bách.
Điều này đã được Đảng ta khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức VI

- Trang 3 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Hữu Mạnh và
thầy giáo Đinh Hoài Nam, các thầy giáo trong khoa Luật Kinh tế và các bộ xã viên của
hợp tác xã Công nghiệp Quyết Tiến đã hết sức giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Hà Nội, ngày tháng năm 2007
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Đới Ích Vũ
- Trang 4 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
Chương I
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
NHẬP KHẨU
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
Trong Điều kiện quốc tế hóa đời sống ngày càng cao, sự phân công lao động
quốc tế ngày càng sâu sắc, các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và tham gia vào quá
trình liên kết và hợp tác kinh tế. Bởi vì quá trình đó không thể diễn ra ở một quốc gia
mà phải tiến hành trên bình diện quốc tế. Đặc biệt, muốn phát triển nhanh thì mỗi quốc
gia không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận dụng tất cả các
thành tựu khoa học, kỹ thuật, kinh tế mà loài người đã đạt được để thông thương, buôn
bán trao đổi lẫn nhau. Vì thế mỗi quốc gia sẽ phải mua về những thứ không tự sản xuất
được từ những nước khác, đồng thời bán những sản phẩm tự sản xuất được cho những
nước có nhu cầu. Hoạt động này được gọi là hoạt động thương mại quốc tế
Nhu cầu hoạt động ngoại thương thực chất là hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa và dịch vụ giữa các quốc gia trên thế giới. Nếu xem kinh tế ngoại thương là một
tổng thể thì xuất nhập khẩu chính là cốt lõi của tổng thể đó. Vì thế hoạt động ngoại
thương ra đời và phát triển cùng với sự phát triển về nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các
quốc gia. Mặt khác, nhập khẩu là một trong những phương thức tiếp thu những thành
tựu khoa học và công nghệ của thế giới một cách nhanh chóng nhất và tạo ra cơ sở cho

Khi đề cập đến vai trò của hoạt động xuất khẩu, không thể không nói đến hoạt
động nhập khẩu. Vai trò của hoạt động nhập khẩu là vô cùng quan trọng. Thứ nhất,
hoạt động nhập khẩu sẽ làm tăng số lượng và chất lượng của các mặt hàng trên thị
trường trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Thứ hai,
nhập khẩu để mang lại cho người tiêu dùng những mặt hàng trong nước không thể sản
xuất ra được, các mặt hàng mà khi nhập khẩu sẽ có lợi hơn khi sản xuất ra ở trong
nước cũng như các mặt hàng mà trong nước sản xuất ra không đủ để đáp ứng nhu cầu
ngày càng phong phú và đa dạng của người tiêu dùng. Thứ ba, hoạt động nhập khẩu
mang lại cho một quốc gia một công nghệ khoa học hiện đại, tiên tiến phục vụ tốt cho
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Thứ tư, hoạt động xuất khẩu giúp cho
- Trang 6 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
việc sản xuất ở trong nước ngày càng phát triển, không ngừng nâng cao mẫu mã và
chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh với các mặt hàng nhập khẩu. Như vậy, hoạt
động nhập khẩu nếu được Điều chỉnh hợp lý sẽ góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển
của một nền kinh tế, tăng thu nhâp cho người dân, sử dụng có hiệu quả khả năng sản
xuất trong nước, giải quyết tốt chính sách lao động xã hội, …
II. HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Khái niệm
Trong hợp đồng mua bán nói chung, luôn luôn có ít nhất hai chủ thể, đó là
người mua và người bán. Theo khoản 8 Điều 3 của luật Thương mại năm 2005 thì
“mua bán hàng hoá” là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận.
Cũng theo Điều 28 của luật Thương mại 2005 thì: “xuất khẩu hàng hoá” là việc
hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên
lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật. Còn
“nhập khẩu hàng hoá” là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài
hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
riêng theo qui định của pháp luật.

2. Đặc điểm
So với hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng xuất nhập khẩu có nhiều điểm
khác biệt đặc trưng. Điều làm nên sự khác biệt đó chính là tính quốc tế của hợp đồng
xuất nhập khẩu. Điểm khác biệt như sau:
2.1. Chủ thể
Chủ thể tham gia hợp đồng xuất nhập khẩu có thể khác nhau theo các định
nghĩa khác nhau trong các nguồn luật khác nhau. Theo công ước Viên: “Chủ thể tham
gia hợp đồng là những bên tham gia ký kết hợp đồng có trụ sở thương mại hay có nơi
cư trú thường xuyên ở các nước khác nhau”. Theo luật Thương mại Việt Nam năm
2005: “Chủ thể tham gia hợp đồng là những thương nhân mang quốc tịch khác nhau”.
- Trang 8 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
Thương nhân theo luật Thương mại Việt Nam được qui định trong Điều 6 của luật này
là “ cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên”
2.2. Đối tượng hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng xuất nhập khẩu là hàng hoá. Đối tượng của hợp đồng
được qui định khác nhau trong các nguồn luật khác nhau. Khoản 2 Điều 3 luật Thương
mại Việt Nam 2005: “a. Hàng hoá là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành
trong tương lai. b. Hàng hoá còn là những vật gắn liền với đất đai”. Có thể thấy luật
Thương mại Việt Nam 2005 Điều chỉnh không chỉ bó hẹp ở các động sản mà còn cả
các động sản. Còn các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như vận
chuyển hàng hoá, thanh toán, bảo hiểm, … thì không thuộc phạm vi Điều chỉnh của
luật này. Đây cũng là một hạn chế khiến cho Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi hội nhập
WTO.
Hàng hoá, đối tượng của hợp đồng xuất nhập khẩu có thể được di chuyển ra
khỏi biên giới của một quốc gia. Thực tế thì Điều kiện này cũng cho thấy sự khác biệt
giữa hợp đồng xuất nhập khẩu với một hợp đồng kinh tế nói chung, ví dụ như hợp
đồng mua bán ký kết giữa một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp ngoài
khu chế xuất được pháp luật coi là hợp đồng xuất nhập khẩu, nhưng hàng hoá của hợp

thể là luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hay tiền lệ pháp (án lệ)
về thương mại.
3.1. Luật quốc gia
Luật quốc gia ở đây được hiểu là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia.
Ví dụ: Nếu pháp luật Việt Nam được áp dụng thì không chỉ áp dụng luật Thương mại
mà là toàn bộ pháp luật Thương mại, rộng hơn nữa là toàn bộ hệ thống pháp luật Việt
Nam. Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng xuất nhập khẩu trong các
trường hợp:
• Nếu Điều ước quốc tế mà quốc gia của chủ thể tham gia ký kết hoặc thừa nhận
có qui định về Điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại thương, thì luật
- Trang 10 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
đó đương nhiên được áp dụng mà không phụ thuộc vào sự đàm phán và thoả thuận của
các chủ thể.
• Các bên thoả thuận trong hợp đồng xuất nhập khẩu cho phép áp dụng luật quốc
gia.
• Nếu các bên không đạt được bất kỳ một thoả thuận nào về luật áp dụng thì cơ
quan thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ tự mình lựa chọn luật áp dụng căn cứ vào qui
phạm xung đột của nước mình.
• Trường hợp do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà các
bên có thể thoả thuận lựa chọn luật áp dụng sau khi ký hợp đồng hoặc thậm chí sau khi
đã phát sinh tranh chấp (khi đó các bên vẫn có quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra xét
xử theo trình tự trọng tài và quyết định áp dụng luật quốc gia nào để giải quyết tranh
chấp mà hợp đồng chưa qui định về cơ quan giải quyết tranh chấp).
• Có một vấn đề cần lưu ý là là tất cả các nước trên thế giới đều không cho phép
áp dụng pháp luật nước ngoài khi có lý do phải bảo vệ trật tự công cộng nước mình dù
qui phạm xác định dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài.
Luật quốc gia được các bên lựa chọn có thể là luật nước người bán, nước người
mua, luật của nước thứ ba hoặc luật của bất kỳ nước nào khác có quan hệ với hợp
đồng, chẳng hạn như luật của nơi ký hợp đồng, nơi thực hiện nghĩa vụ, …

thương không qui định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng mà chỉ Điều
chỉnh ở tầm vĩ mô nhưng cũng là cơ sở để ký kết. Bao gồm các hiệp định thương mại.
Nội dung của các Điều ước này chỉ định nguyên tắc áp dụng pháp lý chung giữa các
quốc gia. Bao gồm chế độ đãi ngộ tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ quốc gia, chế độ ưu đãi
thuế quan phổ cập, nguyên tắc có đi có lại, …
Đối với các Điều ước Điều chỉnh trực tiếp như công ước Viên 1980, công ước
Lahayer, … Sau khi đã tham gia Điều ước quốc tế, các quốc gia thành viên phải thi
hành Điều ước quốc tế có giá trị áp dụng bắt buộc trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia đó.
Các qui phạm luật quốc gia ban hành phải phù hợp với Điều ước quốc tế (nguyên tắc
nội luật hoá).
- Trang 12 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
3.3. Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thương mại là những thói quen thương mại được lặp đi lặp lại trong
một thời gian dài được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng rãi trong những hoạt
động thương mại nhất định. Thông thường thói quen thương mại được công nhận là tập
quán thương mại quốc tế khi thoả mãn Điều kiện:
• Thói quen được phổ biến được áp dụng thường xuyên và có tính chất ổn định.
• Thói quen duy nhất về từng vấn đề ở từng địa phương, từng quốc gia hay trong
từng khu vực.
• Thói quen có nội dung cụ thể rõ ràng dựa vào đó có thể xác định được quyền
và nghĩa vụ của các bên.
Tập quán thương mại quốc tế trở thành nguồn luật để Điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng mua bán hàng hoá ngoại thương trong các trường hợp sau:
• Được các bên thoả thuận trong hợp đồng sẽ áp dụng.
• Được qui định trong Điều ước quốc tế.
• Hoặc trong trường hợp hợp đồng không có qui định gì vấn đề đang tranh chấp
và Điều ước quốc tế liên quan với luật quốc gia được dẫn chiếu không qui định gì.
Điều 13 luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định: “Trong trường hợp pháp luật
không có qui định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết

1.1. Nguyên tắc giao kết
Hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết dựa trên những nguyên tắc sau đây:
 Nguyên tắc tự do, tự nguyện: Hợp đồng là sự thoả thuận và thống nhất ý chí
của các bên tham gia xác lập quan hệ hợp đồng, do đó việc ký kết hợp đồng xuất nhập
khẩu phải dựa trên cơ sở ý chí tự do của các bên tham gia hợp đồng. Các bên tham gia
hợp đồng có quyền bày tỏ ý kiến của mình, không chịu áp đặt ý chí của bất kỳ cơ quan,
tổ chức hay cá nhân nào. Nguyên tắc này loại bỏ tất cả các hợp đồng được ký kết trên
cở sở dùng bạo lực, bị đe dọa, bị lừa bịp hoặc do có sự nhầm lẫn. Do vậy, tự nguyện là
nguyên tắc cơ bản bắt buộc phải tuân thủ khi các bên chủ thể tham gia ký kết hợp
đồng.
- Trang 14 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
 Nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi: Có nghĩa là các bên tham gia hợp đồng
hoàn toàn bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ. Điều này thể hiện ở chỗ khi
đàm phán ký kết hợp đồng các bên đều có quyền đưa ra những ý kiến của mình và đều
có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia mà không bên nào ép
buộc bên nào. Trong quan hệ hợp đồng kinh tế, quyền và nghĩa vụ phải cân bằng nhau
và các bên tham gia hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm với nhau về việc thực hiện
nghĩa vụ của mình.
 Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập
giữa các bên: Trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp
dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các
bên đã biết hoặc phải biết nhưng không trái với qui định của pháp luật.
 Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng: Các bên tham
gia hợp đồng phải có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về
hàng hóa và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác
của các thông tin đó. Bên cạnh các bên đó còn phải chịu trách nhiệm về chất lượng,
tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh.
 Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt
động thương mại: Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các

giống với Công ước Viên 1980, theo tinh thần nội luật hóa quốc tế.
Văn bản ở đây được hiểu bao gồm: Văn bản hợp đồng hoặc là các tài liệu giao
dịch khác. Các tài liệu giao dịch phải có sự xác nhận nội dung trao đổi, thỏa thuận như
công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận. Theo khoản 15 Điều 3 luật
Thương mại qui định: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện
báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo qui định của pháp luật”.
Các bên tham gia hợp đồng có thể ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu theo hai cách:
 Trực tiếp: Hợp đồng xuất nhập khẩu được hình thành sau khi các bên trực tiếp
gặp gỡ, đàm phán, thỏa thuận với nhau các Điều khoản của hợp đồng. Hợp đồng phát
- Trang 16 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
sinh hiệu lực khi các bên cùng thể hiện thống nhất bằng cách cùng ký và đóng dấu vào
bản dự thảo hợp đồng.
 Gián tiếp: Đây là hình thức ký kết được các bên trao đổi, thống nhất từng vấn
đề thông qua thư từ, điện thoại, fax, internet, …, trong đó ghi rõ nội dung công việc
cần giao dịch. Một hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết theo phương thức gián tiếp
bao gồm hai giai đoạn:
 Đề nghị lập hợp đồng: Bên đề nghị đưa ra những Điều khoản chủ yếu của hợp
đồng, thể hiện trong bản chào hàng hoặc chào mua hàng, đề nghị giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa trong một thời gian nhất định, để bên được đề nghị xem xét quyết
định lập hợp đồng. Đề nghị lập hợp đồng phải xác định Điều kiện để sự tuyên bố hủy
bỏ đề nghị hợp đồng có hiệu lực.
 Chấp nhận đề nghị ký kết hợp đồng: Nếu chấp nhận dứt khoát vô Điều kiện đề
nghị ký kết hợp đồng thì hợp đồng coi như được ký kết. Nếu sửa đổi một số Điều kiện
trong đơn đề nghị thì coi như đã từ chối việc ký kết hợp đồng và đưa ra một lời chào
hàng mới gửi tới cho đối tác. Hợp đồng chỉ được coi là ký kết khi một trong hai bên
chấp nhận vô Điều kiện bản chào hàng mà bên kia gửi tới.
2.3. Đối tượng hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng phải là hàng hóa được phép xuất nhập khẩu theo các
văn bản pháp luật hiện hành. Doanh nghiệp không được phép xuất khẩu những mặt

mua đúng mẫu. Mẫu hàng sẽ là cơ sở để làm đối chứng với hàng phải bảo quản lưu giữ
theo nguyên tắc chọn ba mẫu như nhau, do bên bán, bên mua và bên thứ ba cất giữ. Tất
cả các mẫu này đều phải có xác nhận của các bên, được niêm phong và bảo quản theo
đúng yêu cầu kỹ thuật đối với mẫu.
2.5.4. Giá cả
Khi định giá hàng trong hợp đồng mua bán cần nêu rõ: đơn vị tính giá và
phương pháp tính giá. Về phương pháp tính giá trong Điều kiện kinh tế thị trường hiện
nay, nói chung thì phương pháp định giá như thế nào cho phù hợp với giá cả thị trường
để bên mua có thể chấp nhận được. Đề phòng sự mất giá của tiền, cần qui định về Điều
- Trang 18 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
khoản đảm bảo giá trị đồng tiền trong thời hạn giao hàng nhất định để thanh toán, Điều
khoản bảo lưu về giá cả để phòng tránh rủi ro khi có sự tăng giá kể từ khi hợp đồng đã
được xác lập cho đến khi các bên thực hiện hợp đồng.
2.5.5. Phương thức thanh toán
Tùy theo tính chất đối tượng của hợp đồng và các quan hệ chi trả, hai bên thỏa
thuận và ghi vào trong hợp đồng với các hình thức như: thanh toán bằng đổi hàng, ủy
nhiệm chi (chuyển tiền), bằng sec, bằng thư tín dụng, … và hai bên phải thỏa thuận
ngay từ đầu thanh toán bằng tiền Việt Nam hay ngoại tệ nào. Về thời gian thanh toán
có thể căn cứ vào thời gian và phương thức giao hàng. Văn bản luật áp dụng là luật
Thương mại Việt Nam 2005,
2.5.6. Địa điểm và thời gian giao nhận hàng
Thời gian giao nhận hàng là thời gian mà một bên tham gia hợp đồng phải hoàn
thành nghĩa vụ giao nhận hàng cho bên kia. Thời gian giao nhận hàng có thể được các
bên qui định là giao nhận hàng trong khoảng thời gian nhất định, giao một lần, giao
một chuyến, giao thành nhiều chuyến, hoặc thời hạn cuối cùng mà hàng phải giao
xong.
Địa điểm giao nhận hàng cần được xác định rõ trong hợp đồng mua bán và địa
điểm này thường tùy thuộc vào Điều kiện cơ sở. Nội dung này được qui định trong
Điều 35 và 37 luật Thương mại Việt Nam 2005.

và giao nhận tại một cửa khẩu nhất định. Đơn xin giấy phép phải được chuyển đến
Phòng cấp giấy phép của bộ Thương mại.
3.2.2. Mở tín dụng thư (thông thường là L/C nếu hợp đồng qui định)
Sau khi xin giấy phép xuất nhập khẩu nếu trong hợp đồng qui định việc thanh
toán bằng thư tín dụng thì người mua ở nước ngoài phải tiến hành mở L/C theo đúng
thời hạn qui định trong hợp đồng.
3.2.3. Thuê tàu lưu cước, mua bảo hiểm hàng hóa
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu, việc thuê tàu chở hàng dựa
- Trang 20 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
vào ba căn cứ sau: Những Điều khoản của hợp đồng xuất nhập khẩu, đặc điểm hàng
mua bán và Điều kiện vận tải. Ví dụ nếu Điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng mua
bán xuất khẩu là CIF, nhập khẩu là FOB thì chủ hàng xuất nhập khẩu phải thuê tàu để
chở hàng.
Mặt khác hàng đi trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo hiểm
hàng hóa đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương. Các chủ hàng
xuất nhập khẩu của Việt Nam, khi mua bảo hiểm đều mua tại các công ty của Việt
Nam. Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao, hoặc hợp đồng bảo hiểm
chuyến.
3.2.4. Thủ tục hải quan
Tất cả các hàng hóa xuất nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Việc là thủ
tục hải quan phải gồm các bước:
 Khai báo hải quan
 Xuất trình hàng hóa
 Thực hiện các quyết định của hải quan.
3.2.5. Giao nhận hàng và kiểm tra hàng hóa
Đối với việc giao nhận hàng nhập khẩu, các cơ quan vận tải có trách nhiệm tiếp
nhận hàng hóa nhập khẩu trên các phương tiện vận tải từ nước ngoài vào, bảo quản
hàng hóa trên các phương tiện vận tải từ nước ngoài vào, bảo quản hàng hóa đó trong
quá trình xếp dỡ, lưu bãi, và giao cho các doanh nghiệp đã nhập hàng hoặc các đơn vị

xuất khẩu.
 Phương thức nhờ thu (Collection of Payment): Là người bán, sau khi thực
hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng thì ký phát hối
phiếu đòi tiền người mua, rồi đến ngân hàng nhờ thu hộ mình số tiền ghi trên hối phiếu
đó.
 Phương thức tín dụng chứng từ: Là phương thức thanh toán theo thỏa thuận,
trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của một khách hàng sẽ trả tiền cho người thứ ba
hoặc trả bất kỳ người nào theo lệnh của người thứ ba đó hoặc sẽ trả, chấp nhận, mua
hối phiếu do người hưởng lợi phát hành hoặc cho phép một ngân hàng khác trả tiền,
- Trang 22 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
chấp nhận hoặc mua hối phiếu khi xuất trình đầy đủ các chứng từ đã qui định và mọi
Điều kiện đặt ra đều được thực hiện đầy đủ.
 Phương thức uỷ thác thu mua (Authority to Purchase - A/P): Là do ngân hàng
nước người mua viết cho ngân hàng ở nước ngoài theo yêu cầu của người mua yêu cầu
ngân hàng này thay mặt để mua hối phiếu của người bán ký phát cho người mua mà trả
tiền hối phiếu, ngân hàng bên mua thu tiền của người mua và giao chứng từ cho họ.
 Thư bảo đảm tiền (Letter of Guarantee - L/C): Ngân hàng bên mua, theo yêu
cầu của người mua viết cho người bán một cái thư, gọi là “ thư bảo đảm trả tiền”, bảo
đảm sẽ trả tiền hàng sau khi hàng của bên bán đã đến địa điểm mà các bên qui định.
4. Trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng xuất nhập khẩu
4.1. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm
Muốn kết luận một bên có vi phạm hợp đồng hay không, cần phải xem xét các
yếu tố:
 Có hành vi vi phạm hợp đồng.
 Có thiệt hại thực tế về tài sản.
 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế.
4.2. Các hình thức trách nhiệm
4.2.1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo Điều 297 luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định: “Buộc thực hiện đúng

 Có thiệt hại thực tế.
 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
4.2.4. Hủy hợp đồng
Đây là chế tài nặng nhất khi có hành vi vi phạm hợp đồng mà không thể dung
hòa được, hợp đồng đã giao kết không thể thực hiện được do hành vi vi phạm gây ra.
Nội dung này được qui định ở các Điều 49 khoản 1a, 1b; Điều 64 khoản 1a, 1b; Điều
25 của công ước Viên cũng như ở Điều 312 luật Thương mại Việt Nam 2005. Hậu quả
pháp lý do hủy hợp đồng gây ra (Điều 314 luật này):
 Hợp đồng không có hiêu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục
- Trang 24 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đới Ích Vũ – LKD45
thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và
nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
 Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình
theo hợp đồng; nếu các bên có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực
hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có
nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.
 Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo qui định của luật
này.
4.3. Các trường hợp được miễn trách nhiệm
Văn bản số 421 của Phòng thương mại và công nghiệp quốc tế, một bên được
miễn trách nhiệm về việc không thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình
nếu bên đó chứng minh được rằng:
 Do một trở ngại ngoài sự kiểm soát của bên thực hiện.
 Bên đó không thể lường trước một cách hợp lý trở ngại đó.
 Bên đó không thể tránh hoặc khắc phục một cách hợp lý các trở ngại đó.
Việc miễn trách nhiệm cho một bên hợp đồng được qui định rất cụ thể tại Điều 79
công ước Viên 1980. Theo Điều 296 luật Thương mại Việt Nam 2005, có ba trường
hợp miễn trách:
 Trường hợp bất khả kháng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status