Tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp tác xã - Pdf 27

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế là một yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển xã
hội, nó quyết định sự bền vững và giàu mạnh của một quốc gia, sự tồn vong của nền
chính trị. Khi một quốc gia có một nền kinh tế phát triển mạnh thì sẽ thúc đẩy cả hệ
thống chính trị phát triển. Đối với Việt Nam của chúng ta, là một nước đang phát
triển, bên cạnh đó xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu,
nên gặp rất nhiều khó khăn, chính vì lẽ đó việc phát triển kinh tế là không thể xem
nhẹ. Trong khi đó, quá trình hội nhập kinh tế thế giới, các nước đòi hỏi Việt Nam
phải có một nền kinh tế thị trường, cho nên, việc cấp thiết mà Nhà nước ta cần làm
ngay là tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từng bước xóa bỏ độc quyền Nhà
nước trên nhiều lĩnh vực, xây dựng một nền pháp lý minh bạch, hợp lý để từ đó tạo
điều kiện cho các nền kinh tế phát triển về quy mô, cũng như tiềm lực về tài chính.
“Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chu nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở
hữu tư nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”[1]. Chính vì
vậy, nên hợp tác xã sẽ đóng một vai trò quan trọng trong phát triền kinh tế của đất
nước.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện bằng
nhiều chủ trương, đường lối, chính sách để tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển,
phù hợp với điều kiện tình hình mới. Tuy nhiên, việc áp dụng, thực thi các chính
sách của Đảng, Nhà nước về hợp tác xã còn gặp nhiều khó khăn. Hiệu quả về mặt
kinh tế của hợp tác xã trong thời gian qua mang lại chưa cao, năng lực cạnh tranh
của hợp tác xã so với các loại hình doanh nghiệp còn hạn chế, nhiều hợp tác xã làm
ăn còn kém hiệu quả. Mặt khác, nền pháp lý về hợp tác xã vẫn còn nhiều bất cập,
vướng mắc chưa được tháo gỡ. Hiện nay, chúng ta đã từng bước hoàn thiện hệ
thống pháp lý về hợp tác xã (Luật hợp tác xã năm 2003) và Chính phủ cũng đã có
nhiều văn bản đề ra những chính sách, hoạch định đường lối phát triển thành phần
kinh tế này. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
nhằm tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hợp tác xã phát triển một cách tương xứng với

- Kết luận CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển hợp tác xã
Vương quốc Anh, quê hương của hợp tác xã. Hợp tác xã đầu tiên được ra
đời tại Anh Quốc vào năm 1844, đến nay đã qua 165 năm, với nhiều thăng trầm,
nhiều khủng hoảng của nền kinh tế thị trường trên thế giới nhưng phong trào hợp
tác xã vẫn tồn tại và phát triển mạnh ở 4 châu lục, 96 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Đặc biệt, là sự ra đời của Liên hợp tác xã Quốc tế (International Cooperative
Aliancen, viết tắt là ICA) vào ngày 18 tháng 8 năm 1895 tại London – thủ đô của
Vương quốc Anh. ICA là tổ chức phi chính phủ lâu đời nhất, lớn nhất và tồn tại liên
tục kể từ khi thành lập, hiện là tổ chức tham vấn có uy tín và tiếng nói có trọng
lượng trong Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc (UN). Năm 1988, Việt
Nam chính thức tham gia thành viên của tố chức ICA.
Ở Việt Nam, kinh tế hợp tác, hợp tác xã chính thức được Đảng và Nhà nước
quan tâm và phát triển từ rất sớm. Bắt đầu phát triển từ khi đất nước được giành độc
lập (1945), đưa nhân dân ta thoát khỏi cảnh áp bức, nô lệ của thực dân đế quốc. Tuy
nhiên, tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển phong trào kinh tế hợp tác xã được
hình thành và phát triển có khác nhau. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế hợp
tác xã ở nước ta có thể sơ lược như sau[2]:
Giai đoạn trước hòa bình lập lại ở Miền Bắc (1954): Giai đoàn này các
hợp tác xã tổ chức với mô hình đơn giản, trình độ thấp, hợp tác xã được hình thành
trong giai đoạn này chủ yếu ở vùng căn cứ cách mạng Việt Bắc. Ngày 08/3/1948, từ
một lô sản xuất chai lọ và ống tiêm cho ngành y tế phục vụ cho yêu cầu kháng chiến
ở vùng ATK (vùng an toàn khu ở Thái Nguyên), hợp tác xã Thủy tinh Dân chủ
được thành lập. Mặc dù mới ra đời, năng lực hạn chế, nhưng đây là cột mốc để xây
dựng và phát triển kinh tế hợp tác xã sau này.

hợp tác xã cũ theo Luật. Đây là lần đầu tiên chúng ta có một hệ thống pháp luật khá
hoàn chỉnh về hợp tác xã, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của hợp
tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến thời điểm năm
2000, có tổng số 11.791 hợp tác xã đang hoạt động theo Luật.
Ngày 18/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 5 khóa IX ra Nghị
quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập
thể. Sau hơn một năm triển khai đã có hơn 100.000 tổ hợp tác và hơn 1.000 hợp tác
xã mới ra đời. Chỉ riêng năm 2003 thành lập mới được 1.034 hợp tác xã. Nhiều
chính sách quy định, phát triển về kinh tế hợp tác, hợp tác xã tiếp tục ban hành và
sửa đổi tạo tiền đề cho việc ban hành Luật hợp tác xã mới, hoàn thiện hơn.
Giai đoạn từ khi có Luật hợp tác xã năm 2003 đến nay:
Ngày 26/11/2003, tại kỳ hợp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật
hợp tác xã năm 2003 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004. Luật hợp tác xã
năm 2003 ra đời trên tinh thần kế thừa và bổ sung Luật tác xã năm 1996 tạo điều
kiện cho khinh tế hợp tác xã phát triển tốt trong điều kiện tình hình mới như ngày
nay. Sau khi Luật hợp tác xã được ban hành, Chính phủ ban hành nhiều Nghị định
và các Bộ ban hành nhiều thông tư hướng dẫn đảm bảo Luật được thi hành một
cách đồng bộ. Đây là cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh thúc đẩy hợp tác xã phát
triển xứng tầm với vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Đến giữa năm 2008, ước tính kinh tế tập thể có 17.977 hợp tác xã, liên hợp
tác xã và 350.000 tổ hợp tác. Hiện nay, kinh tế hợp tác xã không ngừng tăng lên về
số lượng cũng như chất lượng, kinh tế hợp tác xã đã góp phần nhiều vào sản phẩm
quốc nội, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tăng thu nhập cho xã viên và
người lao động, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
1.2. Bản chất của hợp tác xã
Bản chất hợp tác xã và nhận thức đúng đắn bản chất hợp tác xã là vấn đề đặc
biệt quan trọng. Lý luận về hợp tác xã ở nước ta hiện nay đã có bước phát triển cơ
bản so với giai đoạn trước đổi mới, thể hiện thông qua các quan điểm, chủ trương
của Đảng làm nền tảng cho việc ban hành khung khổ thể chế mới cho hợp tác xã
kiểu mới ra đời và phát triển. Luật hợp tác xã năm 2003 ra đời tạo điều kiện phát

hài hòa trên tất các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Mặt khác, hợp tác
xã còn góp phần thúc đẩy kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư nhân, cá thể ở cả vùng nông
thôn và thành thị.
Ngày nay, ở Việt Nam số lượng hợp tác xã không ngừng tăng lên về số
lượng cũng như chất lượng, càng nhiều người tham gia vào hợp tác xã, góp phần tạo
ra một lượng sản phẩm lớn phục vụ cho xã hội, nâng cao đời sống xã viên và cộng
đồng, hỗ trợ kinh tế hộ phát triển, giải quyết việc làm, qua đó góp phần phát triển
kinh tế của đất nước.
Trong quá trình hình thành và phát triển hợp tác xã, các thành viên hợp tác
xã nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò và lợi ích của hợp tác xã mang lại và từ
đó lan tỏa vào cộng đồng xã hội, nhất là hiện nay ngày càng nhiều người tham gia
vào hợp tác xã, từ đó tạo nên giá trị văn hóa cao đẹp của hợp tác xã.
Giá trị mà hợp tác xã mang lại bao gồm: Tự giúp đỡ; Tự chịu trách nhiệm;
Dân chủ; Công bằng; Bình đẳng; Đoàn kế.
Ngoài ra, hợp tác xã còn mang những giá trị đạo đức như: tính trung thực, sự
cởi mở, trách nhiệm xã hội và sự quan tâm đến cộng đồng.
1.4. Khái niệm hợp tác xã, đặc điểm hợp tác xã
1.4.1. Khái niệm hợp tác xã
Khái niệm hợp tác xã là một nội dung rất quan trọng, vì nó xác định bản
chất của hợp tác xã và làm căn cứ cho toàn bộ nội dung pháp lý của pháp luật về
hợp tác xã.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) lần
thứ 31 tổ chức tại Manchester – Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác xã như
sau: “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau
một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã
hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra
dân chủ” [3].
Trong bản khuyến nghị phát triển hợp tác xã của Tổ chức lao động quốc tế
(ILO) được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra và tháng 6 năm 2002 tại Geneve –
Thụy Sỹ định nghĩa về hợp tác xã: “Hợp tác xã là một tổ chức tự chủ của những

các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Lợi nhuận và mục tiêu quan trọng nhất
trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như tất cả các loại hình
doanh nghiệp khác.
Việc xác định hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tạo điều kiện cho hợp tác xã
bình đẳng trước pháp luật với các loại hình doanh nghiệp khác và đảm bảo quyền
lợi vật chất chính đáng của các thành viên hợp tác xã.
- Mỗi hợp tác xã có số lượng thành viên từ bảy người trở lên:
Số lượng thành viên tham gia hợp tác xã là một yếu tố quan trọng, ảnh
hưởng lớn đến quy mô tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã. Việc
quy định về số lượng thành viên và cơ cấu thành viên của hợp tác xã là một trong
những tiêu chí để phân biệt hợp tác xã với các loại hình doanh nghiệp khác.
- Các thành viên của hợp tác xã cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi
và cùng chịu trách nhiệm:
Pháp luật quy định khá chặc chẽ giữa các thành viên khi tham gia hợp tác
xã. Mối qua hệ giữa các thành viên được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, tương trợ lẫn nhau và cùng hưởng lợi. Các thành viên cùng sản xuất, cùng
kinh doanh, cùng làm các dịch vụ và phân phối lợi nhận theo nguyên tắc “lời ăn, lỗ
chịu” . Các thành viên trong hợp tác xã được Nhà nước đảm bảo quyền tự chủ trong
sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhưng pháp luật cũng yêu cầu họ phải tự chịu trách
nhiệm về các hoạt động của mình.
1.5. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
Nguyên tắc và hoạt động của hợp tác xã là những khuôn khổ pháp lý để xây
dựng các văn bản pháp luật về tổ chức quản lý và hoạt động của các hợp tác xã. Nó
còn là tiêu chí để phân biệt các hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác.
Căn cứ vào nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về
hợp tác xã, đồng thời, tiếp thu kinh nghiệm phát triển phong trào hợp tác xã quốc tế
và kế thừa những quy định của Luật hợp tác xã năm 1996, Luật hợp tác xã năm
2003 quy định nguyên tắc và tổ chức hoạt động của hợp tác xã như sau:
1.5.1. Nguyên tắc tự nguyện[6]

viên có quyền đưa ra Đại hội xã viên để giải quyết.
Khi đề ra phương hướng hoạt động sản xuất, kinh doanh thì mọi xã viên đều
có quyền như nhau bàn bạc về việc thực hiện phương án nào sao có hiệu quả nhất
trong việc đáp ứng nhu cầu chung của xã viên. Mặt khác, hợp tác xã phải công khai
đến từng xã viên trong Đại hội xã viên hoặc thông báo bằng văn bản định kỳ trực
tiếp tới từng xã viên, nhóm xã viên cùng sinh sống theo địa bàn hoặc thông tin trên
bản tin hàng ngày tại trụ sở hợp tác xã về: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh;
việc trích lập các quỹ; chia lãi theo vốn góp, theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp
tác xã; các đóng góp xã hội; các quyền lợi, nghĩa vụ của từng xã viên, trừ những
vấn đề thuộc về bí mật kinh doanh, bí quyết công nghệ sản xuất do Đại hội xã viên
quy định.
Với cách thức như vậy, rõ ràng hợp tác xã được quản lý một cách dân chủ
bởi các xã viên; mỗi xã viên có một lá phiếu biểu quyết như nhau; xã viên được thụ
hưởng lợi ích từ nhiều cách: vốn góp, mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, …
Như vậy, lợi ích của hợp tác xã đều thuộc về xã viên; lợi ích được phân phối công
bằng theo nhiều sự đóng góp mà không bình quân chủ nghĩa cào bằng. Đây là
nguyên tắc mang tính tất yếu do bản chất của hợp tác xã quy định.
1.5.3. Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi[8]
Luật hợp tác xã năm 2003 quy định: “hợp tác xã tự chủ và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thu
nhập. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của hợp
tác xã, lãi được trích một phần vào các quỹ của hợp tác xã, một phần chia theo vốn
góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ
sử dụng dịch vụ của hợp tác xã”.
Xét cho cùng, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự quản của các xã viên, mang lại
lợi ích cho xã viên, tự chủ về tài chính, thì đương nhiên tự chủ về hoạt động và
trong mọi hoạt động của mình. Hợp tác xã phải tự hạch toán sản xuất kinh doanh, tự
quyết định về bộ máy quản lý, huy động nguồn vốn chọ hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, cũng như chấp nhận chịu những rủi ro mà trong quá trình hoạt
động sản xuất, kinh doanh mang lại trên tinh thần “lời ăn, lỗ chịu”. Không một cá

1.6.1. Những điểm giống nhau
Hợp tác xã, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn đều là tổ chức
kinh tế có tư cách pháp nhân và đều có sự bình đẳng như nhau trước pháp luật; đều
được Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của
pháp luật.
Khi tham gia hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, xã
viên hợp tác xã, thành viên công ty đều phải góp vốn theo quy định theo Điều lệ
hợp tác xã hoặc Điều lệ công ty và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã hoặc vào công ty (đối với công ty trách
nhiệm hữu hạn là số vốn đã cam kết, đối với công ty cổ phần là số cổ phần đã mua).
1.6.2. Những điểm khác nhau
Về Mục tiêu: Mục tiêu của hợp tác xã nhằm giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau bên
cạnh mục tiêu lợi nhuận trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Còn mục tiêu
của công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn là lợi nhuận.
Về loại hình tổ chức: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế - xã hội. Hoạt động của
hợp tác xã không chỉ hướng tới lợi ích kinh tế, mà còn quan tâm đáp ứng các nhu
cầu và nguyện vọng của xã viên về xã hội, văn hóa và các nhu cầu khác. Còn công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp, thực hiện các
hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Về sở hữu: Trong hợp tác xã có sở hữu tập thể và sở hữu xã viên. Sở hữu
tập thể của hợp tác xã gồm các nguồn vốn tích lũy từ quá trình hoạt động sản xuất,
kinh doanh, các tài sản do Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
tài trợ làm tài sản không chia và các quỹ không chia của hợp tác xã. Sở hữu của xã
viên là vốn góp. Còn công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần không có sở hữu
tập thể, chỉ có sở hữu thành viên là vốn góp cổ phần.
Về nguyên tắc quản lý: Quản lý trong hợp tác xã dựa trên cơ sở “đối
nhân”, tức là yếu tố con người sẽ quyết định đến mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh, tổ chức, quản lý, sự tồn tại và phát triển của hợp tác xã. Còn quản lý trong
công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần dụa trên cơ sở “đối vốn”, nghĩa là,
trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tổ chức, quản lý và vận mệnh của công

hành lang pháp lý để hợp tác xã thuận lợi trong quá trình hoạt động của mình.1.7.1. Quyền của hợp tác xã
Trong việc tổ chức quản lý và sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các hợp tác xã
có những quyền chủ yếu như sau[10]:
- Lựa chọn ngành, nghề sản xuất, kinh doang mà pháp luật không cấm;
- Quyết định hình thức và cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh của hợp tác
xã;
- Trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức cá
nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để mở rộng sản xuất, kinh doanh
theo quy định của pháp luật;
- Thuê lao động trong trường hợp xã viên không đáp ứng được yêu cầu sản
xuất, kinh doanh của hợp tác xã theo quy định của pháp luật;
- Quyết định kết nạp xã viên mới, giải quyết việc xã viên ra hợp tác xã, khai
trừ xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã;
- Quyết định việc phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ của hợp tác xã;
- Quyết định khen thưởng những xã viên có nhiều thành tích trong xây dựng
và phát triển hợp tác xã; thi hành kỷ luật những xã viên vi phạm Điều lệ hợp tác xã;
quyết định việc xã viên phải bồi thường các thiệt hại đã gây ra cho hợp tác xã;
- Vay vốn tổ chức tín dụng và huy động các ngồn vốn khác; tổ chức tín dụng
nội bộ theo quy địn của pháp luật;
- Được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật;
- Từ chối yêu cầu của tổ chức, cá nhân trái với quy định của pháp luật;
- Khiếu nại các hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
1.7.2. Nghĩa vụ của hợp tác xã
Bên cạnh việc thực hiện các quyền, các hợp tác xã còn phải thực hiện các
nghĩa vụ nhất định. Đó là hai mặt của một vấn đề, giữa quyền và nghĩa vụ của hợp
tác xã có những mối quan hệ khăng khít với nhau. Luật hợp tác xã quy định hợp tác


2.1. Đối tượng và điều kiện trở thành xã viên hợp tác xã
2.1.1 Đối tượng
Đối tượng tham gia hợp tác xã được ấn định ngay tại Điều đầu tiên của Luật
hợp tác xã năm 2003. Tuy nhiên, so với Luật hợp tác xã năm 1996 quy định chung
về đối tượng tham gia hợp tác xã là “người lao động”, trong khi đó, Điều 22 lại quy
định hộ gia đình cũng có thể trở thành xã viên hợp tác xã. Như vậy, giữa hai điều
luật trên có sự mâu thuẫn, không thống nhất về đối tượng tham gia hợp tác xã. Để
khắc phục mâu thuẫn nói trên, đồng thời quán triệt tinh thần Nghị quyết số 13-
NĐ/TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX chủ trương
mở rộng đối tượng tham gia hợp tác xã, cho phép “thành viên tham gia hợp tác xã
bao gồm cả thể nhân và pháp nhân; các bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với
tư cách là xã viên”. Luật hợp tác xã năm 2003 đã bổ sung và khẳng định những đối
tượng tham gia hợp tác xã gồm[12]: cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi
ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức thành lập.
2.1.2. Điều kiện trở thành xã viên hợp tác xã
* Đối với cá nhân:
Cá nhân muốn trở thành xã viên hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu
sau[13]:
- Là công dân Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ;
- Có đơn xin gia nhập hợp tác xã; tán thành Điệu lệ, Nội quy, Quy chế của
hợp tác xã;
- Góp vốn theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; góp sức với các hình thức
trực tiếp quản lý, trực tiếp tham gia lao động sản xuất, tư vấn cung cấp kiến thức,
kinh doanh và khoa học kỹ thuật cho hợp tác xã tùy thuộc vào nhu cầu của hợp tác
xã;
Cá nhân không đủ các điều kiện nói trên, cá nhân đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, cá nhân đang phải chấp hành hình phạt tù, cá nhân bị Tòa án tước
quyền hành nghề do phạm các tội theo quy định của pháp luật và cá nhân đang

hộ phải có đủ các điều kiện như đối với cá nhân như quy định trên và theo quy định
của Điều lệ hợp tác xã. Khi muốn thay đổi người đại diện, hộ gia đình phải có đơn
đề nghị Ban quản trị xem xét, quyết định;
Hộ gia đình không có đủ các điều kiện theo trên không được là xã viên hợp
tác xã.
* Đối với pháp nhân:
Pháp nhân muốn trở thành xã viên hợp tác xã phải đáp ứng các yêu cầu
sau[16]:
- Là các tổ chức, cơ quan (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện) theo quy định của Bộ
luật Dân sự và theo quy định của Điều lệ hợp tác xã;
- Có đơn xin gia nhập hợp tác xã. Người đứng tên trong đơn phải là đại diện
theo pháp luật của pháp nhân và tham gia vào hoạt động của hợp tác xã, thực hiện
các nghĩa vụ của một xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã. Người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân khác là người trong bộ
máy lãnh đạo của pháp nhân làm đại diện tham gia hợp tác xã nếu Điều lệ hợp tác
xã không quy định khác;
- Góp vốn, góp sức theo quy định của Điều lệ hợp tác xã;
Cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân không được sử
dụng tài sản của Nhà nước và công quỹ để góp vốn vào hợp tác xã;
Pháp nhân không có đủ các điều kiện quy định như trên không được là xã
viên hợp tác xã.
Để tạo điều kiện cho người lao động có thể phát huy những tìm năng về tư
liệu sản xuất, tiền vốn, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của họ và tăng
cường thu nhập cho họ, Luật hợp tác xã quy định cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
có thể là xã viên của nhiều hợp tác xã trong trường hợp Điều lệ hợp tác xã không
cấm.
Từ những quy định trên cho thấy, hai đối tượng mới được tham gia hợp tác
xã là cán bộ, công chức và pháp nhân. Việc quy định bổ sung hai đối tượng này có ý
nghĩa rất lớn, thể hiện một cách nhìn mới về loại hình kinh tế hợp tác xã trong tầm
quản lý vĩ mô của Nhà nước, coi hợp tác xã là một loại hình tổ chức kinh tế như các

đất, sử dụng hợp pháp đất của tổ chức, cá nhân để phát triển sản xuất kinh doanh.
2.2.2. Đối với hợp tác xã phi nông nghiệp[18]
Hợp tác xã được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc
hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật đất đai.
Diện tích đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm của hợp tác xã phục vụ xây
dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh và làm dịch vụ trực tiếp cho xã viên được xác định
theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy
định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và pháp luật về đất đai.
Trường hợp đất do hợp tác xã đang sử dụng mà chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định tại Điều 53 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm
2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày
19 tháng 10 năm 2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
2.2.3. Chính sách ưu đãi về thuế[19]
Hợp tác xã được ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập
từ các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh của xã viên theo quy định tại
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11
tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008.
Đối với các hợp tác xã nông nghiệp ngoài được hưởng ưu đãi như trên còn
được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập tạo ra từ hoạt động
dịch vụ trực tiếp phục vụ đời sống xã viên.
2.2.4. Chính sách hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại[20]
Các hợp tác xã sản xuất hàng hóa xuất khẩu không thuộc đối tượng được hỗ
trợ kinh phí từ chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia, nếu có dự án
xúc tiến thương mại được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được hỗ trợ 50% kinh
phí theo quy định của chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia cho
các nội dung hoạt động sau đây: Thông tin thương mại, tuyên truyền xuất khẩu; Tư
vấn xuất khẩu; Đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng kinh doanh xuất khẩu; Tham

kiện của từng chương trình; tiếp nhận, xem xét và phê duyệt đơn đăng ký tham gia
chương trình của hợp tác xã; giúp hợp tác xã làm các thủ tục cần thiết để tham gia
chương trình; kiểm tra, giám sát và giải quyết các phát sinh trong quá trình triển
khai dự án giao cho hợp tác xã thực hiện.
2.2.7. Chính sách hỗ trợ tín dụng[23]

Trích đoạn Hồ sơ đăng ký kinh doanh Điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh[26] Nơi đăng ký kinh doanh Chi nhánh, văn phòng đại diện và doanh nghiệp trực thuộc hợp tác xã
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status