Pháp luật về nhập khẩu và Thực trạng áp dụng tại Công ty Cổ Phần Thiết bị Thắng Lợi - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Sau ngày Đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất hai miền Nam Bắc, thì
trong suốt một thời gian dài chúng ta phải sống trong nền kinh tế bao cấp, kế hoạch
hóa tập trung, hoạt động kinh doanh hoàn toàn là của các cơ quan nhà nước, không có
kinh tế tư nhân, và không có sự giao lưu với các nước bên ngoài. Đến năm 1986,
nhận thấy những vấn đề bất cập, không còn phù hợp của nền kinh tế bao cấp, Đảng
và Nhà nước đã quyết định “mở cửa nền kinh tế nước ta”, khuyến khích hoạt động
ngoại thương, tăng cường giao lưu với bạn bè thế giới trên mọi lĩnh vực, mà khởi đầu
là giao lưu kinh tế.
Dưới sự tác động của xu thế phát triển nền kinh tế tri thức, Việt nam có cơ hội
và điều kiện đón nhận những thành tựu khoa học của Thế giới vào phát triển kinh tế
Quốc gia. Xuất phát từ điều kiện và trình độ phát triển kinh tế, để có thể tiến tới nền
kinh tế tri thức, Việt nam tiến hành Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. Thực
chất, công nghiệp hóa nền kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế
nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, gia tăng sản xuất và thu nhập từ công nghiệp
trong nền kinh tế Quốc dân. Hiện đại hóa là quá trình chuyển cơ cấu kinh tế từ kinh
tế vật chất sang kinh tế tri thức, bằng việc đầu tư phát triển các ngành kinh tế tri thức,
các ngành sản xuất công nghệ cao, các ngành dịch vụ. Sự phát triển các ngành này là
cơ sở cho sự phát triển một cách vững chắc nền kinh tế quốc dân.
Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa tạo ra nhiều thuận lợi cho Việt Nam thực
hiện chính sách kinh tế mở. Trong quá trình thực hiện, Việt nam đã đưa ra các quan
điểm rất đúng đắn: đa phương hóa các quan hệ kinh tế thương mại (“muốn làm bạn
với tất cả các nước trên Thế giới”), đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Những năm qua, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam rất phát triển, Việt Nam
đã có quan hệ với hơn 170 nước, tham gia vào các tổ chức Quốc tế Khu vực và Thế
giới, vào các diễn đàn kinh tế Quốc tế. Hoạt động ngoại thương, hợp tác đầu tư nước
ngoài, dịch vụ Quốc tế. Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, Việt Nam có điều kiện
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

ngày càng phát triển và diễn ra ngày càng phức tạp. Khi sản xuất xã hội phát triển đến
trình độ nhất định, các mối quan hệ kinh tế phát triển không chỉ trong phạm vi một
Quốc gia mà còn vươn ra bên ngoài, hình thành các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và
kinh tế Quốc tế.
Quan hệ kinh tế đối ngoại được hiểu là quan hệ kinh tế của một nước với các
nước khác và với các tổ chức Quốc tế được xem xét từ góc độ nền kinh tế của nước
đó.
Quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ kinh tế lẫn nhau của hai hay nhiều nước, là
tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước.
Trong phạm vi kinh tế Thế giới, quan hệ kinh tế quốc tế ảnh hưởng trở lại đến
sự phát triển lực lượng sản xuất của từng nước và sự phát triển của phân công lao
động Quốc tế. Quan hệ thương mại hàng hóa Quốc tế chính là một hình thức của
quan hệ kinh tế quốc tế.
Theo quy định của Luật Thương mại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2005: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao
gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lời khác.
Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt nam năm 2003 thì có quy định chi tiết
hơn, theo đó: Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương
mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư
vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận
chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt,
đường bộ; và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.
Điều 28 Luật Thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về hoạt động nhập khẩu:
“Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước
ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt nam được coi là khu vực hải

nước, giá cả thanh toán trong mua bán hàng hóa Quốc tế là đồng ngoại tệ của ít nhất
một bên tham gia nên có thêm vấn đề về chuyển đổi ngoại tệ, và việc thanh toán cũng
thực hiện qua biên giới Quốc gia nên thường phải tiến hành thông qua dịch vụ thanh
toán của Ngân hàng.
 Thủ tục hải quan: cũng xuất phát từ lí do các bên có trụ sở thương mại ở
các Quốc gia khác nhau nên hàng hóa trong hoạt động thương mại quốc tế phải được
chuyên chở qua biên giới các quốc gia, có thể chỉ là giữa biên giới Quốc gia của các
bên mà cũng có thể là phải qua biên giới của nhiều Quốc gia khác. Vì thế các bên cần
thỏa thuận để phân chia trách nhiệm trong việc thực hiện các thủ tục thông quan và
việc chi trả các khoản lệ phí có liên quan.
 Mối quan hệ mật thiết với một số hoạt động khác: biểu hiện rõ ràng nhất
là hoạt động mua bán hàng hóa Quốc tế không thể tách rời các hoạt động dịch vụ
Quốc tế như chuyên chở, bảo hiểm, vay tín dụng ,… Mỗi hoạt động này lại có chủ
thể, đối tượng, điều kiện,luật áp dụng riêng. Vì thế để đảm bảo thực hiện có hiệu quả
thì cần có sự thống nhất đồng bộ các hoạt động này.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Tính tất yếu và vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và
nhập khẩu nói riêng đối với nền kinh tế Việt Nam:
 Xu thế toàn cầu hóa:
Vài thập niên gần đây, thuật ngữ toàn cầu hóa được nhắc nhiều trên sách báo,
trên các diễn đàn kinh tế Quốc tế và khu vực, và ngay cả trong các cuộc gặp gỡ cấp
cao giữa các nguyên thủ Quốc gia.
Xu thế toàn cầu hóa xuất hiện và phát triển như một tất yếu khách quan do sự
phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, sự đổi mới nhanh chóng về công nghệ,
công cụ sản xuất và năng suất lao động tăng ngày càng cao hơn. Sự phát triển đó đã
phá vỡ khuôn khổ chật hẹp của nền sản xuất khép kín trong phạm vi từng vùng, từng
nước, làm cho sản xuất và tiêu dùng của các nước mang tính chất Quốc tế.
Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng không chỉ tác động mạnh mẽ đến

riêng rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển như Việt
Nam, là do sự khác nhau về những điều kiện tái sản xuất: vốn, khoa học công nghệ,
kinh nghiệm quản lí. Do đó đòi hỏi các Quốc gia cần có sự trao đổi các yếu tố sản
xuất.
 Phân công lao động Quốc tế:
Ngày nay, trên Thế giới, tất cả các nước đều lựa chọn mô hình kinh tế thị
trường. Có nhiều loại mô hình kinh tế thị trường như: kinh tế thị trường tự do (mô
hình kinh tế Mỹ), kinh tế thị trường xã hội (mô hình kinh tế Đức, Thụy Điển), kinh tế
thi trường hỗn hợp, và kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa. Mô hình kinh tế các nước
lựa chọn có thể khác nhau, song đặc điểm chung nhất của mô hình kinh tế thị trường
là nền kinh tế phát triển gắn liền với sự phát triển thị trường trong nước và thị trường
ngoài nước. Để phát triển kinh tế, các nước cần khai thác được nguồn lực cả trong và
ngoài nước, tham gia vào quá trình phân công lao động và trao đổi Quốc tế.
Ngày nay, hoạt động sản xuất của một Quốc gia không chỉ phụ thuộc vào các
nguồn lực trong nước mà còn phụ thuộc vào các nguồn lực ngoài nước. Để phát triển
nền kinh tế Quốc dân, một Quốc gia cần có 4 yếu tố kinh tế cơ bản: điều kiện tự
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiên (tài nguyên), lao động, vốn và khoa học công nghệ. Trên Thế giới, không có
Quốc gia nào có đủ lợi thế hoàn toàn cả 4 yếu tố kinh tế này. Vì thế, muốn phát triển
kinh tế, các nước cần biết khai thác lợi thế bên ngoài để khắc phục những hạn chế
của nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi các nước cần thiết tham gia trao đổi Quốc tế.
 Sự hình thành các Tổ chức Quốc tế:
Trong vài chục năm trở lại đây, các Tổ chức quốc tế phát triển nhanh về số
lượng và đa dạng về hình thức. Các tổ chức Quốc tế được hình thành trên cấp độ toàn
cầu hay khu vực, hoạt động trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa
xã hội… mà nhiều nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Hoạt động của các tổ chức Quốc tế
nhằm phối hợp các nước giải quyết các vấn đề Quốc tế, làm gia tăng các mối quan hệ
kinh tế Quốc tế. Điển hình như những hoạt động của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế

hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa
thuận
1
.
Cơ sở pháp lí của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng
hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được lý kết
giữa các thương nhân có trụ sở ở các Quốc gia khác nhau. Như vậy, hợp đồng mua
bán hàng hóa Quốc tế trước hết là một hợp đồng mua bán hàng hóa, do đó nó mang
đầy đủ đặc trưng của một hợp đồng mua bán hàng hóa, có nghĩa rằng nó cũng là sự
thỏa thuận giữa người mua và người bán về việc xác lập quyền và nghĩa vụ của các
bên. Ngoài ra, hợp đồng này còn có thêm một yếu tố Quốc tế- là yếu tố vượt ra khỏi
phạm vi một Quốc gia nên nó còn phải thỏa mãn một số yêu cầu do yếu tố này đòi
hỏi. Hoạt động Thương mại Quốc tế có các hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu; tạm
nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập; hàng hóa chuyển khẩu. Các hợp đồng thỏa thuận về
các hoạt động này đều được gọi chung là Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế.
Do hoạt động mua bán hàng hóa Quốc tế được điều chỉnh bằng rất nhiều
nguồn luật khác nhau nên hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được ký kết và
1
Điều 2 khoản 8 Luật thương mại 2005
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thực hiện trên cở sở nhiều nguồn luật khác nhau, mà thông thường người ta quy về
Luật thương mại Quốc tế và pháp luật Quốc gia.
Luật Thương mại Quốc tế được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật được
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt
động Thương mại Quốc tế- những hoạt động thương mại phát sinh giữa các chủ thể
có Quốc tịch khác nhau ở các Quốc gia khác nhau.
Luật Thương mại Quốc tế được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:

1.3.2. Chế độ pháp lý về hợp đồng nhập khẩu
1.3.2.1 Quy định về chủ thể của hợp đồng nhập khẩu
Công ước Viên 1980 đưa ra quan điểm về Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc
tế một cách gián tiếp ngay tại Điều 1 của Công ước này: “Công ước này áp dụng đối
với những Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương
mại tại các Quốc gia khác nhau”. Như vậy, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa
Quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có
yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ pháp lí giữa các chủ thể đó với nhau.
Chủ thể của Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế là những thương nhân có
trụ sở tại các Quốc gia khác nhau. Phù hợp với quy định này của công ước Viên,
pháp luật Thương mại Việt Nam cũng đã có sự thay đổi để kịp thời điều chỉnh các
hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế. So với Luật Thương mại năm 1997, đối tượng
áp dụng của Luật Thương mại năm 2005 không chỉ dừng lại ở các thương nhân hoạt
động thương mại tại Việt Nam mà còn cả những thương nhân có hoạt động thương
mại tại nước ngoài mà các bên thỏa thuận áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài,
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
áp dụng Luật này. Điều này tạo thuận lợi cho các hoạt động ngoại thương và góp
phần bảo vệ quyền lợi của thương nhân Việt Nam.Các quy định cụ thể được nêu
trong Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết
thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa Quốc tế và các hoạt động
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài (sau đây gọi là Nghị
định 12). Hiện nay, các thương nhân Việt Nam đều có quyền kinh doanh kinh doanh
xuất nhập khẩu những mặt hàng mà pháp luật không cấm, không phụ thuộc vào
ngành nghề đăng ký kinh doanh
2
. Như vậy là Nghị định 12 có quy định nới lỏng hơn

3
.
Còn theo pháp luật Việt Nam, mua bán hàng hóa Quốc tế phải được thực hiện
trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương
đương. (Điều 27 khoản 2 Luật Thương mại 2005)
1.3.2.3 Quy định về nội dung của hợp đồng nhập khẩu
Hợp đồng là văn bản có giá trị pháp lí để đảm bảo quyền và việc thực hiện
nghĩa vụ của các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa nói chung và hoạt động mua
bán hàng hóa Quốc tế nói riêng. Do đó, những quy định về nội dung của bản hợp
đồng là những quy định cơ bản nhất và cũng là quan trọng nhất để các bên có thể
đảm bảo lợi ích của mình khi tham gia hoạt động thương mại Quốc tế. Một hợp đồng
mua bán hàng hóa Quốc tế được ký kết bằng văn bản thường bao gồm các điều khoản
chủ yếu sau:
1.3.2.3.1 Đ i ề u kho ả n tên hàng (Commodity Article)- đối tượng của hợp đồng
Tên hàng là một trong những điều khoản quan trọng, không thể thiếu trong
hợp đồng nhằm xác định đối tượng cụ thể của hợp đồng, giúp các bên phân biêt rõ
với những sản phẩm khác, tránh được những yếu tố có thể dẫn đến tranh chấp sau
này. Trong thực tiễn Thương mại Quốc tế, có nhiều cách diễn đạt tên hàng:
o Tên hàng bao gồm tên thông thường, tên Thương mại, tên khoa học của
hàng hóa. Ví dụ: Cooking Oil Marvela,…
o Tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra hàng hóa đó (xuất xứ
sản phẩm) nếu nơi sản xuất ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (ví dụ: rượu vang
Bordeaux, nước mắm Phú Quốc,…); hoặc kèm theo tên hãng sản xuất ra hàng hóa đó
(ví dụ: cà phê Trung Nguyên, Điện thoại Nokia,…)
o Tên hàng kèm theo quy cách chính của hàng hóa đó (ví dụ: Tivi màn
hình phẳng,…)
o Tên hàng kèm theo nhãn hiệu hàng hóa (Bia Hà Nội, xe máy Future,…)
3
Điều 11 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh

14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đồng và khoảng chênh lệch đó gọi la dung sai về số lượng (ví dụ: 10000 tấn gạo ±
5%). Phương pháp này thường được dùng trong khi mua bán hàng hóa có khối lượng
lớn. khó có thể cân đong đo đếm một cách chính xác được. Để diễn đạt khoảng dung
sai, người ta thường dùng các từ ngữ sau: khoảng (about), trên dưới (more or less),
xấp xỉ (approximately), từ… đến… (from… to…).
 Phương pháp xác định trọng lượng
Để xác định trọng lượng hàng hóa, người ta thường dùng các phương pháp
sau:
 Trọng lượng cả bì là trọng lượng của hàng hóa cùng với trọng lượng của các
loại bao bì bảo quản hàng hóa.
 Trọng lượng tịnh: là trọng lượng thực tế của bản thân hàng hóa
 Trọng lượng thương mại: là phương pháp áp dụng trong mua bán những mặt
hàng hút ẩm, có độ ẩm không ổn định và có giá trị kinh tế tương đối cao.
1.3.2.3.3 Điều khoản phẩm chất
Đây là điều khoản thể hiện chi tiết về chất lượng hàng hóa (tính năng, quy
cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất). Việc xác định cụ thể phẩm chất của
hàng hóa rất quan trọng vì nó là cơ sở để xác định giá cả của hàng hóa.
Để xác định phẩm chất, những tiêu chuẩn mà hàng hóa phải đạt được, có một
số phương pháp chủ yếu sau:
o Xác định phẩm chất dựa vào mẫu hàng do người bán đưa ra và người
mua chấp nhận. Trong trường hợp người mua đưa ra mẫu hàng trước thì người bán
phải có mẫu đối chiếu. Trong tập quán thương mại Quốc tế, người ta thường ký hoặc
đóng dấu vào 3 mẫu hàng: một mẫu giao cho người bán lưu, một mẫu giao cho
người mua và một mẫu giao cho người thứ ba được hai bên thỏa thuận chỉ định giữ
hàng mẫu để đối chiếu khi cần thiết.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368

hàng hóa nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng. Thông thường,
điều khoản này xác định các vấn đề quan trọng: đồng tiền tính giá, mức giá, phương
pháp quy định mức giá, phương pháp xác định mức giá…
Đồng tiền tính giá: Đồng tiền tính giá và thanh toán trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phải là ngoại tệ đối với ít nhất một bên trong quan hệ hợp đồng.
Giá cả của hàng hóa có thể được xác định ngay trong lúc ký kết hợp đồng,
cũng có thể xác định trong thời hạn hiệu lực hợp đồng hoặc khi thực hiện hợp đồng.
Thông thường, giá cả trong hợp đồng được xác định theo một trong 3 cách sau:
• Định giá trung lập (Neutral pricing) là định giá có căn cứ rõ rang, không
nhằm mục đích cơ hội nào. Có 2 căn cứ để xác định giá trung lập:
i. Định giá căn cứ vào sản xuất;
ii. Định giá căn cứ vào thị trường.
• Định giá thâm nhập (Penetration Pricing) là cách định giá cơ học để nhằm
thâm nhập vào thị trường. Giá thâm nhập bao giờ cũng thấp, thậm chí cũng có lúc nó
thấp hơn cả giá thành.
• Định giá hớt váng (Skim Pricing) là xác định giá thời cơ để nhằm tận dụng
cơ hội có lợi cho mặt hàng của mình. Giá hớt váng bao giờ cũng cao hơn giá trung
lập.
Cũng có thể phân biệt các loại giá dựa trên cơ sở các tiêu chí định giá khác
như:
• Giá xác định ngay (hay giá cố định- fixed price) là giá được quy định vào
lúc ký kết hợp đồng và không được sửa đổi nếu không có sự thỏa thuận khác.
• Giá quy định sau là giá được định trong quá trình thực hiện hợp đồng.
• Giá có thể xét lại (rivesable price) là giá quy định trong hợp đồng nhưng có
thể được xem xét lại nếu sau này, vào lúc giao hàng, giá thị trường của hàng hóa có
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sự biến động đến mức đáng kể. Trong hợp đồng vận dụng giá này, các bên phải thỏa
thuận với nhau nguồn tài liệu phán đoán sự biến động giá cả và thỏa thuận quy định

nhận hàng hóa tại một nơi nào đó là giao nhận sơ bộ hay giao nhận cuối cùng, giao
nhận về số lượng và chất lượng.
Giao nhận sơ bộ là bước đầu xem xét hàng hóa và xác nhận sự phù hợp về số
lượng, chất lượng hàng so với hợp đồng.
Giao nhận cuối cùng là xác nhận việc người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng.
Giao nhận hàng hóa về số lượng là xác định số lượng thực tế hàng hóa được
giao bằng các phương pháp cân, đong, đo, đếm.
Giao nhận hàng hóa về chất lượng là việc kiểm tra hàng hóa về tính năng,
công dụng, hiệu suất, kích thước, hình dáng…
Hoạt động giao nhận hàng hóa có thể tiến hành trên toàn bộ hàng hóa hoặc chỉ
tiến hành kiểm tra điển hình.
 Điều kiện giao hàng: thường dựa theo các tập quán Thương mại Quốc tế
Các tập quán thương mại là một nguồn quan trọng hình thành nên pháp luật
thương mại quốc tế. Tập quán thương mại là thói quen trong hoạt động thương mại
được lặp đi lặp lại nhiều lần, và được công nhận bởi đông đảo các thương nhân. Có 2
hệ thống tập quán thương mại thông dụng trên Thế giới là Incoterms và UCP.
Incoterms được viết tắt từ 3 chữ International Commercial Terms (các điều
kiện thương mại Quốc tế) và mỗi điều kiện của Incoterms được chọn sẽ trở thành
một điều khoản của Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế chứ không phải là của hợp
đồng chuyên chở hàng hóa.
Phiên bản Incoterms đầu tiên được xuất bản năm 1937 và đã ngay lập tức
được đông đảo giới thương nhân Quốc tế hưởng ứng. Để đảm bảo các tập quán của
Incoterm không trở nên lạc hậu và để theo kịp sự thay đổi nhanh chóng hàng ngày,
hàng giờ của nền kinh tế Thế giới, các phiên bản Incoterm cũng liên tục được quan
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tâm sửa đổi, và ngày nay thì cứ 10 năm người ta lại sửa đổi Incoterm một lần. Hai
bản Incoterms được sử dụng nhiều nhất là phiên bản Incoterm 1990 và 2000.

người mua một vận đơn đã bốc hàng hoàn hảo, lưu thông được, và một đơn bảo hiểm
lưu thông được, chịu mọi rủi ro và chi phí về hàng hóa cho đến khi hàng đã qua hẳn
lan can tàu ở cảng bốc hàng. Người mua phải trả tiền hàng và nhận các chứng từ phù
hợp với hợp đồng, và chịu mọi rủi ro và chi phí về hàng hóa kể từ khi hàng đã qua
hẳn lan can tàu \ tại cảng bốc hàng.
Cả hai điều kiện này đều chỉ được áp dụng khi hàng hóa được vận chuyển
bằng đường biển và đường thủy nội địa. Điều kiện giao hàng FOB quy trình người
mua chịu mọi phí tổn và để đảm bảo an toàn cho tài sản của mình, bên nhập khẩu sẽ
mua bảo hiểm, đồng thời có nghĩa vụ thuê tàu và trả cước phí vận chuyển. Điều kiện
giao hàng CIF cũng quy định trách nhiệm của người bán kết thúc khi hàng đã qua
khỏi lan can tàu tại cảng gửi, nhưng xác định cụ thể người bán phải trả cước vận
chuyển và ký hợp đồng bảo hiểm hàng hải tránh cho bên mua những rủi ro đối với
hàng hóa có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển. Đơn bảo hiểm này được phía xuất
khẩu ký hậu và chuyển giao cho phía nhập khẩu.
Đối với hoạt động nhập khẩu nếu nhập theo điều kiện CIF, quyền vận tải và
quyền bảo hiểm thuộc phía nước ngoài. Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tùy ý
thuê tàu và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường họ ký hợp đồng với các công ty của nước
mình. Các công ty bảo hiểm nước ngoài vì thế có điều kiện phát triển hơn.
1.3.2.3.6 Điều khoản về thanh toán:
Các cách thức quy định thời hạn thanh toán thường được áp dụng trong hợp
đồng mua bán hàng hóa Quốc tế:
 Trả tiền trước khi giao hàng: thỏa thuận người mua trả một khoản tiền theo tỷ
lệ giá trị lô hàng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Thanh toán ngay: thường được áp dụng sau khi giao hàng xong và thực hiện
trong một thời gian nhất định do các bên thỏa thuận.
 Phương thức thanh toán: bao gồm thanh toán bằng tiền mặt, séc, điện chuyển
tiền, hối phiếu, thư tín dụng, bao thanh toán.

khẩu mở một tài khoản, trên đó ghi các khoản tiền mà người nhập khẩu nợ về tiền
mua hàng hóa hay các khoản chi phí khác liên quan đến việc mua hàng. Người nhập
khẩu định kỳ (hàng tháng, hàng quý hoặc nửa năm 1 lần) thanh toán khoản nợ hình
thành trên tài khoản của người xuất khẩu.
Phương pháp này thực chất là một hình thức tín dụng thương nghiệp, ít được
áp dụng trong thanh toán Quốc tế bởi nó không có sự bảo đảm đầy đủ cho người xuất
khẩu cho người xuẩt khẩu có thể kịp thời thu được tiền hàng.
- Hối phiếu:
Hối phiếu là một lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một
người khác, yêu cầu người này, khi nhin thấy phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất
định hoặc có thể xác định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một
người nào đó theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc cho người cầm
phiếu.
Trước đây, người ta phân biệt hối phiếu và kỳ phiếu: Hối phiếu là giấy đòi nợ,
còn kỳ phiếu là giấy cam kết trả nợ.
Hiện nay, hối phiếu được chia thành 2 loại: hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận
nợ (tương đương với kỳ phiếu trước đây), được quy định chi tiết trong Luật các công
cụ chuyển nhượng, số 49/2005/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam.
- Tín dụng thư chứng từ:
Phương thức thanh toán bằng tín dụng thư chứng từ (L/C) chỉ được áp dụng
khi trong hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế giữa người bán và người mua có điều
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoản thỏa thuận thanh toán bằng L/C, tức là hai bên thỏa thuận có ngân hàng bảo
đảm thanh toán.
Theo đó, người mua phải chọn một ngân hàng để mở thư tín dụng, và hợp
đồng này chỉ bắt đầu có hiệu lực khi người mua mở được thư tín dụng. Việc người
mua có mở được thư tín dụng hay không là phụ thuộc vào độ tín nhiệm của ngân

quyền đòi nợ và phải được người mua chấp nhận.
Khi được chấp nhận thì nhà xuất khẩu mới chuyển hàng đi và chuyển hồ sơ
chứng từ cho ngân hàng. Khi đó, nếu hồ sơ đầy đủ, ngâng hang sẽ thanh toán cho
người bán theo một tỷ lệ nhất định trong phạm vi bảo đảm an toàn cho ngân hàng.
Đến khi người mua thanh toán đầy đủ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ thanh toán nốt
cho người bán, trừ đi khoản phí cho ngân hàng mà người bán phải chịu.
Như vậy, bao thanh toán và thư tín dụng có điểm khác nhau cơ bản là ở chỗ:
theo phương thức thư tín dụng thì người mua là người trả phí ngân hàng, còn theo
phương thức bao thanh toán thì người bán phải trả phí.
1.3.2.3.7Điều khoản về thỏa thuận áp dụng luật điều chỉnh
Điều khoản này rất quan trọng đối với cả hai bên trong quá trình thực hiện hợp
đồng, và vai trò của nó đặc biệt được thể hiện trong trường hợp giữa các bên phát
sinh tranh chấp do vi phạm hợp đồng. Các bên tự nguyện thỏa thuận chọn một trong
các nguồn của Pháp luật Thương mại Quốc tế để điều chỉnh hợp đồng một cách thuận
tiện nhất cho các bên, và thường phải là những quy định mà cả hai bên đều nắm rõ.
Trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng thì việc lựa chọn sẽ thuộc về
cơ quan Giải quyết tranh chấp mà các bên đã lựa chọn dựa theo nguyên tắc “áp dụng
luật có liên quan gần nhất”, nghĩa là luật của nơi xảy ra vi phạm, phát hiện ra vi
phạm, hoặc nơi thực hiện chủ yếu hợp đồng. Ví dụ: một công ty hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam ký hợp đồng mua hàng của một đối tác Trung Quốc, theo hợp
đồng hang được chuyển sang Singapore theo một thời hạn cụ thể. Sau khi hàng được
giao, bên Việt Nam phải chuyển vào tài khoản của bên bán tại Trung Quốc một
khoản tiền là 1triệu $, nhưng Ngân hàng của Việt Nam lại quy định mức phí chuyển
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trịnh Tú Anh
25

Trích đoạn Hoàn thiện về chủ thể của hoạt động nhập khẩu Công cụ tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status