Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. - Pdf 27

Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây Việt Nam có những điều kiện rất thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh phát triển. Việt Nam luôn được các nước trên thế
giới đánh giá cao về sự ổn định chính trị và được nhiều tập đoàn kinh tế lớn
trên thế giới dành sự quan tâm đầu tư, có được sự quan tâm đó là do nước
ta có nguồn nhân lực dồi dào với hơn 84 triệu người, là thị trường tiêu thụ
tiềm năng, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao và ổn định ( trên 8%).
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức thứ 150 của WTO, và
là một trong các thành viên tích cực của các tổ chức quốc tế và khu vực
như: APEC, ASEAN...Điều này, mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho các nhà
kinh doanh cả trong và ngoài nước. Trong bối cảnh như vậy, rõ ràng việc
quyết định lựa chọn hình thức kinh doanh nào đảm bảo cho nhà đầu tư có
được hiệu quả tốt nhất về sử dụng vốn, phát triển nhanh thị trường, mở
rộng nhanh thị phần và kiểm soát được hệ thống nhằm tạo được tiếng nói
với thị trường là điều rất được quan tâm. Với sự phát triển mạnh mẽ của
thương mại và để đáp ứng nhu cầu chính đáng đó, nhiều phương thức kinh
doanh đã ra đời, phát triển rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
những người hoạt động kinh doanh. Một trong những phương thức hiệu
quả được nhiều thương nhân lựa chọn đó là phương thức “nhượng quyền
thương mại”, tiếng Anh là “Franchise”.
Nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh tiên tiến,
được nhiều doanh nhân lựa chọn để kinh doanh và nó đang là phương thức
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các doanh nhân. Đặc biệt, với sự hội
nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới kể từ khi Việt Nam gia
nhập WTO, cụm từ “nhượng quyền thương mại” bắt đầu gây được sự chú ý
của nhiều người, nhiều giới bởi ngày càng có nhiều thương hiệu lớn của
nước ngoài “đổ bộ” vào Việt Nam thông qua hình thức kinh doanh này,
Hoàng Minh Tuấn Trang 1
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
NQTM là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật
nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các qui định của pháp luật về NQTM được qui định
trong Luật thương mại, các văn bản liên quan như: Luật cạnh tranh 2004,
Luật sở hữu trí tuệ 2005, Bộ Luật dân sự 2005, Luật chuyển giao công
nghệ 2006, Nghị định 35/2006/NĐ - CP, Thông tư số 09/2006/BTM...
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về nhượng
quyền thương mại trong quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển hoạt động
NQTM tại Việt Nam.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Về lý luận: Đề tài này nghiên cứu về quy định của pháp luật về
NQTM được quy định tại Luật thương mại và các văn bản liên quan như:
Luật cạnh tranh 2004; Luật sở hữu trí tuệ 2005; Luật chuyển giao công
nghệ 2006; Nghị định 35/2006/NĐ-CP...
2.2.2. Về thực tiễn: Nghiên cứu thực tiễn hoạt động NQTM. Trên cơ
sở đó, tìm ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các quy
định của pháp luật về NQTM để đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định về NQTM.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích của đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, mục đích của tác giả nhằm:
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về NQTM trên cơ
sở các quy định của Luật thương mại và các văn bản liên quan về NQTM.
- Đưa ra những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
Hoàng Minh Tuấn Trang 3

Hoàng Minh Tuấn Trang 4
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
theo Luật thương mại 2005 và các văn bản trước đây, các văn bản có liên
quan khác.
5. Bố cục của đề tài
Đề tài với tiêu đề: “Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise)
và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” được chia làm 3 phần: phần mở đầu,
phần nội dung và phần kết luận. Trong đó, phần nội dung gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về nhượng quyền thương mại và pháp luật về
nhượng quyền thương mại
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về nhượng quyền
thương mại tại Việt Nam
Ngoài ra, còn có Lời cảm ơn; Bảng viết tắt; Phụ lục; Mục lục và Danh
mục tài liệu tham khảo.
Hoàng Minh Tuấn Trang 5
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
VÀ PHÁP LUẬT NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về nhượng quyền thương mại
1.1.1. Lịch sử và các quan điểm về nhượng quyền thương mại
1.1.1.1. Lịch sử về nhượng quyền thương mại
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của phương thức
kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII tại
Châu Âu. Tuy nhiên, hoạt động franchise được chính thức thừa nhận khởi
nguồn và phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ XIX, khi mà Nhà máy
Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu
tiên cho đối tác của mình.
Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi

(Franchise development program) với mục tiêu gia tăng số lượng doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, thúc đẩy và
phát triển việc bán franchise ra bên ngoài quốc gia. Singapore, quốc gia
láng giềng của Malaysia, cũng có các chính sách tương tự nhằm thúc đẩy,
phát triển hoạt động nhượng quyền trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ như
đào tạo, y tế, du lịch, khách sạn, nhà hàng... Gần đây nhất, kể từ thời điểm
năm 2000, Chính phủ Thái Lan cũng đã có các chính sách khuyến khích,
quảng bá, hỗ trợ việc nhượng quyền của các doanh nghiệp Thái Lan tại thị
trường nội địa và quốc tế.
Trung Quốc đang trở thành thị trường tiềm năng của các thương hiệu
nước ngoài như: Mc Donald's, KFC, Hard Rock Cafe, Chilli's... đồng thời
đây là cứ địa đầu tiên để các tập đoàn này bán franchise ra khắp Châu Á.
Thông qua đó, hoạt động franchise của Trung Quốc trở nên ngày càng phát
triển, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi thái độ từ e dè chuyển sang
khuyến khích, nhiều thương hiệu đang được “đánh bóng” trên thị trường
Hoàng Minh Tuấn Trang 7
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
quốc tế thông qua các cuộc mua bán, sáp nhập nhằm chuẩn bị cho kế hoạch
đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền ra bên ngoài, được xem là một trong
những động thái quan trọng để phát triển nền kinh tế vốn đang rất nóng của
Trung Quốc.
Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển,
hỗ trợ và quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập. Điển hình là Hội
đồng Franchise Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994,
có thành viên là các hiệp hội franchise của nhiều quốc gia. Ngoài ra, một tổ
chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội Franchise Quốc tế (International
Franchise Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành
viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise. Thông qua các tổ chức
này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc gia
đã được thực hiện như: tổ chức các hội chợ franchise quốc tế; xây dựng

dụng lệ phí đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Đây chính là
những căn cứ pháp lý cơ bản nhất, tương đối đầy đủ để điều chỉnh và tạo
điều kiện cho franchise phát triển tại Việt Nam.
Năm 2004, Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới (WFC) đã
tiến hành một cuộc điều tra với kết quả khẳng định rằng: đã tồn tại hơn 65
hệ thống franchise hoạt động tại Việt Nam, đa số là các thương hiệu nước
ngoài. Mặc dù còn khá ít so với các quốc gia láng giềng, nhưng với tình thế
hiện nay, khi franchise đã được luật hóa, Việt Nam chính thức bước qua
cửa WTO, đã có nhiều nhận định rằng hoạt động franchise sẽ phát triển
như vũ bão.
1.1.1.2. Các quan điểm về nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều
nước trên thế giới áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều
trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các đối tượng có nhu
cầu thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại đạt hiệu quả. Tuy nhiên
vì sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa
các quốc gia nên các khái niệm có sự khác nhau.
Hoàng Minh Tuấn Trang 9
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Vậy thực chất thuật ngữ nhượng quyền thương mại “Franchise” có
nghĩa là gì? Theo Từ điển của Viện Ngôn Ngữ học thì Franchise là: “cho
phép ai đó chính thức được bán hàng hóa hay dịch vụ của một công ty ở
một khu vực cụ thể nào đó”. Còn Từ điển Webster của Anh thì định nghĩa
“franchise là một đặc quyền được trao cho một người để phân phối hay bán
sản phẩm của chủ thương hiệu”. Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy cả
hai định nghĩa đều nêu ra nội dung cơ bản của NQTM nhưng quá ngắn gọn,
chưa lột tả hết nội dung của từ “Franchise”. Để tìm hiểu kỹ hơn về khái
niệm NQTM, chúng ta nghiên cứu một số khái niệm khác về NQTM:
- Khái niệm NQTM theo quan điểm của một số nước trên thế giới
Thứ nhất, theo Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế (The

hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm,
hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative
methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ
thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng
(prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới
thương hiệu đó”.
Thứ năm, khái niệm nhượng quyền thương mại của Nga: Chương 54,
Bộ luật dân sự Nga Khái niệm bản chất pháp lý của “sự nhượng quyền
thương mại” như sau: “Theo Hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên
(Bên có quyền) phải cấp cho bên kia (Bên sử dụng) với một khoản thù lao,
theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt
động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của
bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền
đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với
các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ...” [26, tr 2].
- Khái niệm nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm NQTM đã được quy định tại các văn bản như:
Luật thương mại 2005 có hiệu lực ngày 1/1/2006 tại mục 8, điều 284 đã đề
cập đến khái niệm nhượng quyền thương mại và các điều 284, 286, 287,
288, 289, 290, 291 qui định chi tiết các vấn đề liên quan đến hoạt động
Hoàng Minh Tuấn Trang 11
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
nhượng quyền thương mại. Điều 284 qui định: “Nhượng quyền thương mại
là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu
bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
theo các điều kiện sau đây:
1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với
nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

thiết kế và bài trí nội thất, thuê và đào tạo nhân công, quảng cáo và tiếp thị,
cung cấp sản phẩm… Đây là hình thức nhượng quyền thương mại phổ biến
nhất hiện nay [4, tr 15].
Thứ hai, Căn cứ vào cách thức tiến hành nhượng quyền
Có thể chia NQTM thành 2 hình thức: nhượng quyền cho từng cơ sở
(single-unit franchise) và nhượng quyền đa cơ sở (multiple-unit franchise).
- Nhượng quyền thương mại cho từng cơ sở (single-unit franchise):
Nhượng quyền thương mại cho từng cơ sở là cách thức nhượng quyền
thương mại trong đó bên nhượng quyền tiến hành nhượng quyền trực tiếp
cho từng đối tác riêng lẻ để mở một cơ sở kinh doanh. Đây là hình thức
nhượng quyền thương mại đơn giản nhất và phổ biến nhất.
- Nhượng quyền thương mại đa cơ sở (multi-unit franchise): Đây là
cách thức nhượng quyền thương mại thông qua đó thiết lập nhiều hơn một
cơ sở kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại [5, tr 9].
Thứ ba, Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Có hai loại nhượng quyền là nhượng quyền thương mại trong nước và
nhượng quyền thương mại quốc tế.
- Nhượng quyền thương mại trong nước là quan hệ nhượng quyền
thương mại trong phạm vi một quốc gia, do pháp luật quốc gia điều chỉnh.
- Nhượng quyền thương mại quốc tế là quan hệ nhượng quyền thương
mại có yếu tố nước ngoài, do pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế, tập
quán quốc tế điều chỉnh.
1.1.3. Đặc điểm của nhượng quyền thương mại
Thứ nhất, về chủ thể
Hoàng Minh Tuấn Trang 13
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Chủ thể của quan hệ NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận
quyền. Các chủ thể này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, là công dân trong
nước hoặc người nước ngoài. Trong thực tế, đa số các bên tham gia quan
hệ NQTM là thương nhân. Tuy nhiên, cũng có khi họ không phải là thương

Lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Việc tiến hành hoạt động kinh doanh tốt hay xấu của bất kỳ
một thành viên nào trong hệ thống NQTM đều có thể làm tăng hay giảm uy
tín của toàn bộ hệ thống, từ đó sẽ gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến
lợi ích của các thành viên còn lại.
Như vậy, mặc dù độc lập với nhau về tư cách pháp lý, bên nhượng
quyền và bên nhận quyền vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Để đảm
bảo tính thống nhất trong hệ thống NQTM, đảm bảo bên nhận quyền sẽ là
một “bản sao” hoàn hảo của mình, bên nhượng quyền phải có sự hỗ trợ và
sự kiểm soát thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình kinh doanh của
bên nhận quyền. Bởi vì nhượng quyền thương mại không phải là một cơ sở
kinh doanh mà là một cách thức kinh doanh.[25, tr 46]
1.1.4. Những ưu điểm và hạn chế của hình thức NQTM
1.1.4.1. Những ưu điểm của NQTM
Nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh rất tiên
tiến, mới mẻ và đang là sự lựa chọn hàng đầu của giới kinh doanh. Vậy
thực chất sức hấp dẫn của phương thức này nằm ở đâu? Xin trả lời rằng sức
hấp dẫn nằm ngay trong những ưu điểm “riêng biệt”, mà chỉ có thể tìm thấy
ở NQTM, đó là:
Thứ nhất, đối với bên nhận quyền (Franchisees)
Mục đích chủ yếu của nhượng quyền chính là giảm thiểu rủi ro.
Những nghiên cứu mới đây cho thấy mức độ thành công của các cửa hàng,
cơ sở kinh doanh mới đều kết luận rằng: việc mở cửa hàng, cơ sở kinh
doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ lệ thất bại cao.
Theo con số thống kê tại Mỹ thì trung bình chỉ có 23% doanh nghiệp
nhỏ kinh doanh độc lập có thể tồn tại sau 5 năm kinh doanh, trong khi con
Hoàng Minh Tuấn Trang 15
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
số này đối với các doanh nghiệp kinh doanh theo NQTM là 92%.[22, tr 19]
Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người

quyền lớn trên thế giới đều chủ động đàm phán, thuyết phục ngân hàng ủng
hộ các đối tác nhận nhượng quyền của mình bằng cách cho vay với lãi suất
thấp. Người nhận nhượng quyền trong trường hợp này chỉ phải bỏ ra 30%
tiền vốn đầu tư.
Cơ hội để giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng thành công là những
gì mà một nhà kinh doanh khôn ngoan không thể bỏ qua. Những ưu điểm
này là động lực để thúc đẩy họ tham gia vào hệ thống nhượng quyền.
Thứ hai, đối với bên nhượng quyền (Franchisors)
Vốn luôn là một vấn đề lo ngại lớn nhất khi mở rộng sản xuất kinh
doanh. Nhưng trong hệ thống nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng
hoạt động kinh doanh lại chính là bên nhận quyền. Điều này giúp cho bên
nhượng quyền có thể mở rộng hoạt động kinh doanh bằng chính đồng vốn
của người khác và giảm chi phí cho việc thâm nhập thị trường. Đồng thời
việc phải bỏ vốn kinh doanh là động lực thúc đầy bên nhận quyền phải cố
gắng hoạt động có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho bên
nhượng quyền.
Ngày nay trên thị trường có những thay đổi hết sức mạnh mẽ và một
lẽ dĩ nhiên là nếu bạn không thay đổi, phát triển và mở rộng cùng với thị
trường thì bạn sẽ bị các đối thủ cạnh tranh qua mặt. Những cơ hội kinh
doanh cũng sẽ trôi qua tầm tay. Thật may, hình thức nhượng quyền sẽ giúp
bạn mở rộng hoạt động kinh doanh, xây dựng sự hiện diện ở khắp mọi nơi
một cách nhanh chóng với hàng trăm cửa hàng trong và ngoài nước mà
không một hình thức kinh doanh nào có thể làm được.
Khi sử dụng hình thức nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ tạo ra
được những lợi thế trong việc quảng cáo, quảng bá thương hiệu của mình.
Mở rộng kinh doanh và sự xuất hiện ở khắp nơi của chuỗi cửa hàng sẽ đưa
hình ảnh về sản phẩm đi sâu vào tâm trí khách hàng một cách dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó chi phí quảng cáo sẽ được trải rộng cho rất nhiều cửa hàng,
Hoàng Minh Tuấn Trang 17
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
phẩm. Trong nhượng quyền, bên nhận quyền có thể không quan tâm về
chất lượng như bên nhượng quyền đề nghị và kết quả là chất lượng kém,
doanh thu thấp làm giảm uy tín của công ty trên toàn cầu. Để vượt qua bất
lợi này bên nhượng quyền cần soạn thảo hợp đồng nhượng quyền một cách
chặt chẽ, cụ thể và rõ ràng. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh hiệu quả hoạt động
của hệ thống nhượng quyền khiến họ không muốn tách rời khỏi hệ thống
nhượng quyền.
- Điều hành quản lý hệ thống
Trong hệ thống NQTM, số lượng cửa hàng có thể lên tới con số hàng
trăm, do đó vấn đề về quản lý hệ thống hoạt động một cách thống nhất và
hiệu quả là hết sức khó khăn. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây
dựng cho mình một đội ngũ nhân viên đủ mạnh để quản lý hệ thống
nhượng quyền là hoàn toàn cần thiết. Bằng tiềm lực kinh tế mạnh, qui mô
lớn của một số doanh nghiệp cộng với sự nỗ lực to lớn, thì có thể dễ ràng
xây dựng được đội ngũ nhân viên giỏi giúp cho hệ thống nhượng quyền
hoạt động thành công. Nhưng trên thực tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tiến hành mở rộng được hệ thống nhượng quyền nhưng việc kiểm soát,
điều hành quản lý hệ thông NQTM một cách có hiệu quả như các doanh
nghiệp trên lại là một vấn đề không phải doanh nghiệp nào cũng làm được.
- Mâu thuẫn có thể xảy ra giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền
Tồn tại những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích kinh tế giữa bên nhận
quyền và bên nhượng quyền đang là một trong những nhược điểm gây
nhiều tranh luận trong phương thức nhượng quyền. Nếu bên nhận quyền
hoạt động có hiệu quả, làm ăn phát đạt, thu được nhiều lợi nhuận thì mọi
chuyện sẽ rất tốt và không có gì để nói. Nhưng nếu họ làm ăn thua lỗ thì
mâu thuẫn sẽ nảy sinh. Nếu không lường trước được việc này và có những
giải pháp thỏa đáng, bên nhận quyền có thể kiện bên nhượng quyền đã
không huấn luyện, hỗ trợ chặt chẽ cho bên nhận quyền trong việc quản lý
điều hành kinh doanh.

bên mua franchise (Bên nhận quyền), một tài liệu được gọi là UFOC hay
Hoàng Minh Tuấn Trang 20
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
còn gọi là bản giới thiệu về NQTM. Tài liệu này phải chuyển cho bên mua
franchise ngay từ lần gặp đầu tiên hoặc chậm nhất là 10 ngày trước khi ký
hợp đồng hay trả phí franchise. Nếu việc này không được thực hiện đúng
theo quy định thì chủ thương hiệu hay người bán franchise có nguy cơ bị
thưa kiện bởi đối tác mua franchise. Ngoài ra theo quy định, thì trước khi
công bố tài liệu UFOC người bán phải đăng ký và trình duyệt tài liệu này
với chính quyền bang sở tại. Còn nếu người bán franchise mà cố tình đưa
sai lệch các thông tin - dù đã đăng ký hoặc không đăng ký, thì đều phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật (dân sự hoặc hình sự tùy theo mức độ sai
phạm) [23,tr 71].
Thứ hai, Pháp luật nhượng quyền thương mại của Australia
Ở Australia nhượng quyền thương mại được thực hiện theo các quy
định về nhượng quyền thương mại theo mã số (Code of Conduct), một số
vùng điều này là bắt buộc được quy định trong Đạo luật thực tiễn thương
mại năm 1974. Theo mã số thì chủ thương hiệu nhượng quyền phải công
bố tài liệu về NQTM cho phía nhận quyền ít nhất 14 ngày trước khi hợp
đồng NQTM được ký kết. Mã số nhượng quyền cũng quy định rất rõ các
nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại, như: các quy định liên
quan đến ngân quỹ tiếp thị, cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh bằng
hình thức trọng tài...[30].
Thứ ba, Pháp luật nhượng quyền thương mại của Ka-dắc-xtan
Cho đến năm 2002, quy định nhượng quyền thương mại tại Ka-dắc-
xtan cũng đã được qui định tại Chương 45 của Bộ luật Dân sự Kazakh (CC).
Áp dụng các biện pháp hỗ trợ của nhà nước nhượng quyền thương mại thông
thường được đề cập trong chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Áp
dụng các biện pháp để thúc đẩy nhượng quyền thương mại đã được quy định
tại Khoản 2.4.1 của nhà nước hỗ trợ cho các chương trình phát triển doanh

định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại.
- Thông tư số 09/2006/TT-BTM ngày 25/05/2006 của Bộ Thương Mại
hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại.
Hoàng Minh Tuấn Trang 22
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
- Quyết định số 106/2008/QĐ-BTC ngày 17/11/2008 của Bộ Tài
Chính về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí
đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại.
Ngoài ra, do tính chất đặc thù của mình, hoạt động NQTM còn chịu sự
điều chỉnh của các quy định pháp luật khác có liên quan như: pháp luật về
dịch vụ phân phối, pháp luật về thuế, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật
về đầu tư, pháp luật phá sản, pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo
chào bán quyền thương mại, pháp luật hành chính, pháp luật hình sự,…
Như vậy, với việc ban hành các văn bản pháp luật trên, một khung
pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam đã hình
thành, bước đầu tạo cơ sở cho sự phát triển NQTM và góp phần hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam.
Chúng ta sẽ tìm hiểu một số nội dung cơ bản về NQTM, được quy
định trong các văn bản pháp luật chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về hợp đồng NQTM
Hợp đồng NQTM là nội dung quan trọng của NQTM, thông qua hợp
đồng này quan hệ giữa các bên được xác lập. Khi tìm hiểu về hợp đồng
NQTM, chúng ta cần lưu ý các nội dung:
Một là, điều kiện trở thành chủ thể hợp đồng NQTM
Pháp luật quy định khá rõ về điều kiện trở thành chủ thể hợp đồng
NQTM, từ đó góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các bên.
Tại Điều 5, 6, 7 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, chủ thể tham gia hợp
đồng NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Bên nhượng
quyền là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả bên nhượng
quyền thứ nhất (bên nhượng quyền sơ cấp) và bên nhượng lại quyền (bên

thức khác theo quy định của pháp luật. Việc quy định như vậy nhằm đảm
bảo tính minh bạch, rõ ràng của hợp đồng NQTM, tạo căn cứ vững chắc
cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và tạo
thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp.
Ba là, nội dung hợp đồng NQTM
Hoàng Minh Tuấn Trang 24
Pháp luật nhượng quyền thương mại (Franchise) và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Các qui định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, về cơ
bản đã có sự phù hợp với pháp luật của các nước. Theo nội dung của Điều
286, 287, 288, 289 Luật thương mại 2005, các bên sẽ có những quyền và
nghĩa vụ cơ bản sau:
Bên nhượng quyền, có ba quyền cơ bản là: thứ nhất, nhận tiền
nhượng quyền; thứ hai, tổ chức quảng cáo cho hệ thống NQTM; thứ ba,
kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm bảo
đảm sự thống nhất của hệ thống NQTM và sự ổn định về chất lượng hàng
hoá, dịch vụ.
Đi đôi với quyền, bên nhượng quyền cũng có những nghĩa vụ nhất
định, đó là: thứ nhất, cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống NQTM cho
bên nhận quyền; thứ hai, đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật
thường xuyên cho bên nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ
thống NQTM; thứ ba, thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch
vụ bằng chi phí của bên nhận quyền; thứ tư, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ
đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng NQTM; thứ năm, đối xử bình
đẳng với các bên nhận quyền trong hệ thống NQTM.
Bên nhận quyền, có hai quyền: thứ nhất, yêu cầu bên nhượng quyền cung
cấp đầy đủ sự trợ giúp kỹ thuật có liên quan đến hệ thống NQTM; thứ hai,
yêu cầu bên nhượng quyền đối xử bình đẳng giữa các bên nhận quyền trong
hệ thống NQTM.
Bên nhận quyền được sử dụng, khai thác quyền thương mại thuộc sở
hữu của bên nhượng quyền, do đó phải chịu nhiều ràng buộc từ phía bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status