Báo cáo tốt nghiệp “ Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại
NHNo & PTNT Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội” MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 9
I. Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng. 9
1. Khái niện về bảo lãnh ngân hàng, đặc điểm và vai trò của hoạt động bảo
lãnh ngân hàng. 9
1.1. Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng. 9
2. Đặc điểm, chức năng, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh
ngân hàng. 11
2.1. Đặc điểm, chức năng của bảo lãnh ngân hàng. 11
2.1.1. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng. 11
2.1.2. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng. 13
2.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng. 14
2.2.1. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng. 14
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng. 15
2.7.4. Giải quyết tranh chấp bằng toà án. 30
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NGÂN
HÀNG TẠI NHNo & PTNT CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI 31
I. Tổng quan về sự hình thành và phát triển NHNo & PTNT Việt Nam Chi
Nhánh Tây Hà Nội. 31
1. Lịch sử hình thành và phát triển NHNo & PTNT Việt Nam. 31
2. Giới thiệu về NHNo & PTNT Việt Nam Chi Nhánh Tây Hà Nội. 33
2.1. Lịch sử hình thành. 33 2.2. Cơ cấu tổ chức. 34
2.2.1 Bộ máy tổ chức. 34
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Chi Nhánh Tây Hà Nội và các phòng ban
trực thuộc Chi Nhánh. 35
II. Tình hình hoạt động của Chi Nhánh Tây Hà Nội trong những năm gần
đây. 38
1. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Việt Nam Chi Nhánh
Tây Hà nội. 38
1.1. Công tác huy động vốn. 38
1.2. Các hoạt động dịch vụ kinh doanh khác. 39
1.3. Phương hướng phát triển của Chi nhánh trong năm 2010. 39
2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng tại NHNo & PTNT
Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội. 41
2.1. Các hình thức bảo lãnh tại ngân hàng. 41
2.2. Đối tượng áp dụng. 42
2.3. Điều kiện bảo lãnh. 42
2.4. Tài sản đảm bảo cho bảo lãnh. 45
2.5. Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng. 47
2.6. Nhận xét tình hình thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh tại NHNo &PTNT
Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội. 48
2.1. Hỗ trợ các NHTM trong việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. 66
2.2. Tăng cường việc kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng. 68
3. Kiến nghị đối với NHNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội 71
3.1. Các hình thức bảo lãnh. 71
3.2. Điều kiện bảo lãnh. 72 3.3. Năng cao chất lượng thẩm định. 73
3.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý. 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 78
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.
Luật các TCTD. Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 ( sửa đổi
và bổ sung năm 2004).
5
Luật CTCTD
1997.
Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 ( sửa đổi
và bổ sung năm 2004).
6
Nghị định số
163.
Nghị định số 163/2006/NĐ – CP của Chính
phủ ngày 26 tháng 6 năm 2006 về giao dịch
đảm bảo.
7
NHNH. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
8
NHNo & PTNT
Chi nhánh Tây
Hà Nội.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội.
9
NHNo & PTNT
Việt Nam.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
TP. Hồ Chí
Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh.
17
WTO. Tổ chức thương mại thế giới (World Trade
Ogranization).
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại hiện đại,
đem lại cho ngân hàng nhiều lợi ích thiết thực, làm đa dạng hoá các sản phẩm dịch
vụ của ngân hàng, làm tăng vị thế của ngân hàng, mở rộng quan hệ đại lý trên thị
trường quốc tế, thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở
trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong lĩnh vực dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm
chất lượng sản phẩm… Đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã có những thay đổi về cơ cấu và hoạt
động của ngân hàng để phù hợp với những cam kết về dịch vụ ngân hàng của Việt
Nam. Đồng thời, quá trình thực hiện những cam kết đòi hỏi phải thay đổi những
quy định pháp luật thực định về lĩnh vực ngân hàng nói chung và bảo lãnh ngân
hàng nói riêng phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế. Trên thực tế, hoạt động
ngân hàng có tác động nhanh và mạnh tới nền kinh tế, bất kỳ sự điều tiết nào tới
loại hình này ngay lập tức nền kinh tế sẽ có những biến động. Trong điều kiện đó,
để tránh những tác động tiêu cực, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, toàn diện
đồng thời vấn đề lý luận về bảo lãnh ngân hàng và thực trạng pháp luật về bảo lãnh
ngân hàng để thông qua đó hoàn thiện hệ thống pháp luật này là hết sức cần thiết và
cấp bách. Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài : “ Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân
khác của đời sống kinh tế xã hội. Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính
chất và đối tượng của bảo lãnh đó là : “ Bảo lãnh đối nhân” [
1
] và “ Bảo lãnh đối
vật” [
2
]. Cùng với lịch sử phát triển của đời sống kinh tế xã hội thuật ngữ bảo lãnh
được hiểu nhiều cách khác nhau như trong từ điển pháp luật của Mỹ thì : “ Bảo lãnh
là sự thoả thuận, mà theo đó người bảo lãnh chấp thuận nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ
khi bên nợ không trả nợ; là việc bên bảo lãnh đảm bảo hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ
của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện” [
3
]. Theo
pháp luật dân sự Việt Nam thì : “ Bảo lãnh là việc người thứ 3 ( sau đây gọi là bên
bảo lãnh) cam kết với bên có quyền ( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến
thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ
khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình” [
4
].
[
1
] Bảo lãnh đối nhân được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản như trong lĩnh vực hình sự, chế tài
hành chính và các quan hệ phi tài sản trong dân sự.
[
2
] Bảo lãnh đối vật được áp dụng trong quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự có yếu tố tài sản.
[
vốn của mình trong kinh doanh. Ở một số nước nghiệp vụ tín dụng cụ thể này được
biết đến với tên gọi là tín dụng bằng chữ ký, ở Việt Nam LCTCTD 1997 cũng thừa
nhận nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng của các
tổ chức tín dụng”[
6
]. Theo quan điểm của các nhà làm luật thì : “ Bảo lãnh ngân
hàng là cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín
dụng số tiền đã được trả thay” [
7
]. Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Quy
chế bảo lãnh ngân hàng ban hành theo Quyết định số 26/2006/QĐ – NHNN ngày 26
tháng 6 năm 2006 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ( gọi tắt là Quy
[
5
]Ngô Quốc Kỳ, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của Ngân hàng”, NXB Chính trị Quốc Gia,
1995, trang 67 – 77.
[
6
]Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007
[
7
]Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007 chế bảo lãnh ) thì bảo lãnh ngân hàng được hiểu là : “ Cam kết bằng văn bản của tổ
chức tín dụng ( bên bảo lãnh) với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng khôn thực hiện hoặc thực
8
]Trần Phương Minh, “ Bạn đã quan tâm đến bảo lãnh ngân hàng?”,
lãnh, phí bảo lãnh, giới hạn bảo lãnh, và các chế tài đối với các bên vi phạm cam kết
trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng[
9
].
- Bảo lãnh là mối quan hệ của nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau : Để thiết lập
quan hệ bảo lãnh thì sự thoả thuậ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là điều
kiện bắt buộc. Bảo lãnh xét về biểu hiện bên ngoài thì bao gồm bên bảo lãnh, bên
nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh; nhưng về mặt pháp lý thì quan hệ bảo lãnh chỉ
đòi hỏi bắt buộc phải có hai bên là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Về mặt
nguyên tắc thì các bên có các bên có thể ký kết hợp đồng bảo lãnh gồm 3 bên, là
bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Tuy nhiên, do bên nhận bảo
lãnh và bên được bảo lãnh không phải là chủ thể thuộc cấu trúc chủ thể của hợp
đồng bảo lãnh, nên họ không có các quyền và nghĩa vụ tương ứng như trong quan
hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và
bên nhận bảo lãnh thì tư cách của họ không phải là tư cách của các bên ký hợp đồng
bảo lãnh, mà là tư cách của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người bảo
lãnh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lãnh.
- Tính độc lập : Đây là đặc tính rất quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Mặc
dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn những thiệt hại từ việc không thực
hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên được bảo lãnh cho bên
nhận bảo lãnh. Tính độc lập thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng,
trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với ngân hàng và người được bảo lãnh.
Về tính độc lập của bảo lãnh, tại khoản b, điều 2 của “ Quy tắc thống nhất về
bảo lãnh theo yêu cầu - Ấn bản số 458 của Phòng thương mại Quốc tế ICC -1992”
[
2.1.2. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng.
Thứ nhất, bảo lãnh là chức năng bảo đảm : Là chức năng quan trọng nhất
của bảo lãnh ngân hàng, cung cấp cho người thụ hưởng một sự đảm bảo chắc chắn
với quyền lợi của họ. Theo đó thì người thụ hưởng sẽ được hưởng một khoản bồi
thường về tài chính nếu người được bảo lãnh vi phạm cam kết, từ đó hình thành nên
sự đảm bảo chắc chắn cho người nhận bảo lãnh. Chính sự đảm bảo này tạo ra sự tin
tưởng khiến cho các hợp đồng được ký kết một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây là
điểm khác biệt giữa bảo lãnh và tín dụng chứng từ.
Thứ hai, bảo lãnh là công cụ tài trợ vốn : Không chỉ là bảo đảm, bảo lãnh
còn là công cụ tài trợ cho người được bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh người được bảo
lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ hoặc được kéo dài
thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ… Do vậy, mặc dù không trực tiếp cấp
vốn như trong cho vay nhưng bảo lãnh ngân hàng giúp cho khách hàng được hưởng
những thuận lợi về ngân quỹ như trong trường hợp cho vay.
Thứ ba, bảo lãnh mang chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng : Bảo lãnh
cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi
phạm hợp đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng
có quyền đòi lại những khoản tiền này. Do đó, ngân hàng luôn phải theo dõi kiểm
tra giám sát và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Mặt khác
trong trường hợp ngân hàng bảo lãnh phải thanh toán tiền bồi hoàn cho bên nhận
bảo lãnh thì bên được bảo lãnh cũng sẽ phải có trách nhiệm nợ và hoàn trả khoản
bồi hoàn đó cho ngân hàng bảo lãnh. Vì về thực chất bảo lãnh là lấy tiền vi phạm trả
cho người hưởng lợi. Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực cho việc bồi hoàn bảo lãnh. Như
vậy, bảo lãnh có chức năng đôn đốc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp
đồng đã ký kết. Điều này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người thụ hưởng và
có mối liên quan chặt chẽ giữa chức năng bảo đảm và chức năng đôn đốc hoàn
thành hợp đồng. Mặc dù vậy, khi ký kết hợp đồng và thụ hưởng bảo lãnh, người thụ
11
]. Bộ kế hoạch và đầu tư, Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ : “ Báo cáo thường niên doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam”, 2008, trang 7 – 8. lãnh ngân hàng đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng thông qua chi phí bảo lãnh,
phí này đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng không nhỏ trong
tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng góp
phần không nhỏ trong việc mở rộng quan hệ của ngân hàng với khách hàng. Bảo
lãnh ngân hàng cũng hỗ trợ các hình thức thanh toán khác của ngân hàng như thanh
toán quốc tế ( bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh L /C trả chậm ….).
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng.
Nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính rủi do, bảo toàn vốn, nâng cao
thu nhập và lợi tức từ các hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và hoạt động
bảo lãnh ngân hàng nói riêng ta cần phải xác định được nhân tố ảnh hưởng đến bảo
lãnh ngân hàng. Các nhân tố có thể được chia thành hai nhóm : nhóm nhân tố chủ
quan và nhóm nhân tố khách quan. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng
mà hai nhóm nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng [
12
].
(1) Nhóm nhân tố chủ quan : đây chính là các nhân tố bên trong nội bộ của
ngân hàng như năng lực tài chính, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất
lượng của lao động.v.v.
- Năng lực tài chính của ngân hàng là khả năng mở rộng nguồn vốn, tiềm
lực về vốn của chủ sở hữu. Kế tiếp là khả năng sinh lời của nguồn vốn vì nó thể
hiện hiệu quả của nguồn vốn kinh doanh. Cuối cùng là khả năng sinh lời và chống
đỡ rủi ro, tức khi món nợ xấu của ngân hàng tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng
theo để bù đắp rủi do điều này chứng tỏ năng lực tài chính bù đắp tài chính cho các
khoản chi phí này được mở rộng.
đề để ngân hàng phát triển nhanh và bền vững. Thực tiễn cho thấy, nếu hệ thống
pháp luật được xây dựng không đồng bộ, phù hợp với phát triển của nền kinh tế thì
nó sẽ là rào cản cho quá trình phát triển nền kinh tế. Mặt khác, nếu hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh sẽ tạo nên môi trường pháp lý để giải quyết các tranh chấp khiếu
nại, nảy sinh trong hoạt động kinh tế xã hội từ đó đảm bảo được lợi ích chung của
xã hội nói chung và lợi ích của các ngân hàng nói riêng trong quá trình phát triển
của nền kinh tế.
3. Phân loại bảo lãnh ngân hàng.
Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà bảo lãnh ngân hàng được chia thành các loại
khác nhau.
3.1. Theo phương thức phát hành có 3 loại:
- Bảo lãnh trực tiếp[
13
] : là hình thức ngân hàng trực tiếp thanh toán tiền bảo
lãnh cho người hưởng thụ mà không thông qua một trung gian nào, sau đó truy đòi
nợ từ người bảo lãnh sau đó truy đòi nợ từ người được bảo lãnh. Việc phát hành thư
bảo lãnh cho người thụ hưởng có thể thực hiện thông qua một ngân hàng trung gian
có thể là ngân hàng đại lý hoặc ngân hàng phục vụ người thụ hưởng nhưng đều gọi
chung là ngân hàng thông báo.
[
13
] Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 142. - Bảo lãnh gián tiếp[
14
] : là hình thức bảo lãnh qua đó người yêu cầu bảo
lãnh không trực tiếp liên hệ với ngân hàng phát hành mà thông qua một ngân hàng
trung gian thông thường là ngân hàng phục vụ mình hoặc là một ngân hàng có điều
19
].
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm (bảo lãnh bảo hành) : Bảo lãnh
đảm bảo chất lượng sản phẩm là cam kết của của TCTD với bên nhận bảo lãnh, bảo
đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm
[
14
]Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 143.
[
15
]Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 144.
[16]
Khoản 1 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[17]
Khoản 2 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[18]
: Khoản 3 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
[19]:
Khoản 4 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng . theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm
chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ thì TCTD sẽ thực hiện thay[
20
].
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước (bảo lãnh hoàn thanh toán) : Bảo lãnh
hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh về việc bảo
đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với
[21]
: Khoản 6 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng. 196/QĐ – NH14 ngày 16 tháng 9 năm 1994 về việc ban hành “ Quy chế về nghiệp
vụ bảo lãnh của ngân hàng” đã đánh dấu sự phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân
hàng. Tiếp theo đó là sự ra đời của Quyết định số 217/QĐ – NH1 của Thống Đốc
ngân hàng Nhà nước ngày 17 tháng 8 năm 1996 về việc ban hành quy chế thế chấp,
cầm cố tài sản và bảo lãnh bay vốn ngân hàng cũng góp phần tạo nên nền tảng pháp
lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng trong thời kỳ này. Đến năm 1997 thời kỳ diễn
ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ các nước trong khu vực , việc đổ bể của
nhiều TCTD và việc phá sản hàng loạt các doanh nghiệp lớn đã ảnh hưởng không
nhỏ tới hoạt động của ngân hàng tại Việt Nam. Các khuôn khổ pháp lý được quy
định tại Pháp lệnh ngân hàng trở nên không còn phù hợp và không bảo vệ được
quyền lợi của các TCTD, có nhiều xung đột pháp lý giữa Pháp lệnh về ngân hàng
với các văn bản có liên quan như : Bộ luật dân sự năm 1995, Luật Công ty…. Từ
thực tiễn đó, Luật các TCTD được xây dựng và được Quốc Hội thông qua ngày
12/12/1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1998. Luật các TCTD ra đời đã đáp
ứng được yêu cầu quản lý và định hướng cho hoạt động phát triển các TCTD trong
thời kỳ dài và góp phần tạo sự ổn định về môi trường pháp lý cho hoạt động ngân
hàng. Lần đầu tiên thuật ngữ “ Bảo lãnh ngân hàng được đề cập” ( khoản 12 Điều
20 Luật các TCTD) và những quy định về “ bảo lãnh ngân hàng” ( tại các Điều 58,
Điều 59 Luật các TCTD) cũng được thừa nhận.
Trên cơ sở quy định của Luật các TCTD, Thống đốc NHNN đã ban hành
Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 về việc ban hành Quy chế
bảo lãnh ngân hàng. Quyết định này được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số
386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/4/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều trong Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000; Quyết định số 1348/2001/QĐ-NHNN
ngày 29/10/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi một số quy định liên quan
chức và cá nhân trong quan hệ pháp luật đó ta cần phải xác định rõ những tổ chức,
cá nhân nào được phép tham gia vào cá quan hệ pháp luật và những điều kiện cần
để tham gia với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật. Tổ chức, cá nhân nào thoả
mãn được những điều kiện đó thì có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật
đó[
22
]. Quan hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng cũng quy định những điều kiện cần
thiết để tổ chức, cá nhân có thể tham gia với tư cách là chủ thể. Chủ thể trong quan
hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng chủ yếu : Bên bảo lãnh, Bên nhận bảo lãnh, Bên
được bảo lãnh.
2.1.1. Bên bảo lãnh.
[
22
]Giáo trình, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Tư Pháp năm 2006. Bên bảo lãnh trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là các tổ chức tín dụng có
đủ điều kiện theo quy định. Các tổ chức tín dụng này bao gồm ngân hàng thương
mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, một số tổ
chức tín dụng khác được ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo
lãnh đối với khách hàng. Theo đó để ngân hàng có thể thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh
thì ngân hàng cần phải đáp ứng những điều kiện sau :
- Được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng (
thường được ghi rõ trong giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng do
NHNN cấp).
- Có đăng ký kinh doanh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và nghiệp vụ này
phải được ghi rõ trong giấy đăng ký kinh doanh đã được cấp.
2.1.2. Bên nhận bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng được hiểu là những người có
bên tham gia. Trong các điều kiện đó thì điều kiện về năng lực pháp luật dân sự và năng
lực hành vi dân sự là yếu tố có tính quyết định đến việc thực hiện hoạt động cho vay. Bởi
lẽ, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì người mất năng lực hành vi dân sự khi
thực hiện giao dịch thì phải do người đại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện[
23
]. Do
đó nếu không kiểm tra kỹ tiêu chí này thì sẽ dẫn đến rủi ro cho các bên tham gia quan hệ
bảo lãnh ngân hàng. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân sinh ra ở Việt
Nam, tổ chức được thành lập tại Việt Nam thì năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam. Như vậy, cá nhân nước ngoài, hoặc pháp
nhân nước ngoài sẽ được xác định theo hệ thống pháp luật nào? Nếu như có xung đột giữa
luật Việt Nam và luật nước ngoài được căn cứ để xác định năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự sẽ được giải quyết như thế nào?
Theo các Điều 760, 761,762,763 và 764 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 , nếu trong
quan hệ bảo lãnh ngân hàng có cá nhân là người nước ngoài tham gia với tư cách là bên
được bảo lãnh thì việc xác định năng lực pháp luật sẽ tương đương hoặc bằng với công dân
của nước sở tại còn năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó sẽ áp dụng theo pháp
luật của người nước ngoài đó là công dân. Nếu trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng có pháp
nhân nước ngoài tham với tư cách là bên được bảo lãnh thì việc xác định năng lực chủ thể
trở nên khó khăn hơn. Do pháp luật của có nước có những quy định khác nhau về năng lực
pháp luật của pháp nhân ( có nước quy định năng lực pháp luật của pháp nhân được tính từ
khi pháp nhân được thành lập, có nước quy định năng lực pháp luật của pháp nhân được
tính khi pháp nhân đăng ký kinh doanh; có nước cho phép pháp nhân được kinh doanh
trong một số lĩnh vực ngành nghề nhưng có nước lại không cho phép kinh doanh trong
lĩnh vực đó) vì vậy đã làm nảy sinh hiện tượng xung đột pháp luật về năng lực chủ thể của
[
23
] Khoản 2 Điều 22 Bộ Luật dân sự năm 2005.
lãnh hoặc giữa TCTD, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan (nếu
có) về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh.
2.2.2. Hợp đồng cấp bảo lãnh.
Hợp đồng cấp bảo lãnh là văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng với
khách hàng và các bên có liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên
trong việc thực hiện bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho khách hàng ơ [
24
]
Hợp đồng cấp bảo lãnh có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nếu các
bên liên quan thoả thuận. Nội dung hợp đồng cấp bảo lãnh bao gồm: [
25
]
- Tên, địa chỉ của bên bảo lãnh, khách hàng và thời gian ký hợp đồng;
- Số tiền, thời hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh
- Mục đích bảo lãnh;
- Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
- Hình thức bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng đối với tổ chức tín dụng
bảo lãnh, giá trị tài sản làm đảm bảo;
- Quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Quy định về hoàn trả của khách hàng sau khi tổ chức tín dụng thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh;
- Quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh;
- Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên;
- Những thoả thuận khác.
ứng trước;
- Các nghĩa vụ hợp pháp khác do các bên thỏa thuận cam kết trong các hợp
đồng liên quan.
Ngoài ra, các tổ chức tín dụng còn bị giới hạn trị giá hợp đồng bảo lãnh theo
quy định sau: [
27
]
- Tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho một khách hàng không được
vượt quá 15% (mười lăm phần trăm) vốn tự có của tổ chức tín dụng. Trường hợp tổ
chức tín dụng phải trả thay cho khách hàng dẫn đến tổng dư nợ cho vay và dư nợ do
trả thay vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng phải
ngừng ngay việc cho vay và bảo lãnh mới đối với khách hàng đó, đồng thời thu hồi
nợ để đảm bảo tổng mức dư nợ cho vay đối với một khách hàng theo quy định.
- Tổng số dư bảo lãnh cho một khách hàng của Chi nhánh Ngân hàng nước
ngoài không được vượt quá 15% vốn tự có của Ngân hàng nước ngoài.
- Tổ chức tín dụng xác định tổng mức bảo lãnh phù hợp với khả năng tài
chính của mình, bảo đảm thực hiện theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà
nước về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
Nếu khách hàng có yêu cầu bảo lãnh vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín
dụng thì tổ chức tín dụng cùng với các tổ chức tín dụng khác thực hiện việc bảo
lãnh theo hình thức đồng bảo lãnh, tức là nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho
một nghĩa vụ của khách hàng.
2.4. Nội dung bảo lãnh
[27]
: Điều 7 Quy chế bảo lãnh ngân hàng