Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thương mại và Dịch Vụ Nguyen Dũng - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
TÓM LƯỢC
Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ đem lại cho đất nước ta nhiều cơ hội và thử thách to
lớn. Nền kinh tế nước ta thật sự đang phải đối mặt với nhiều vận hội và thử thách mới.
Tuy nhiên với sự lãnh đạo tài tình và nhạy bén của Đảng và chính phủ, mức tăng trưởng
kinh tế trong mấy năm gần đây của nước ta đều xếp vào loại hàng đầu trên thế giới. Việt
Nam thực sự là điểm đến của các nhà đầu tư trong nước cũng như quốc tế.
Mua bán hàng hoá là một nhân tố quan trọng nhất trong nền kinh tế và nó đặc biệt
quan trong trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như ở nước ta hiện nay.
Hợp đồng mua bán hàng hoá là một đề tài đã rất quen thuộc đối với sinh viên
chuyên ngành Luật kinh tế cũng như một vài chuyên ngành khác của các trường đại học.
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đã thực sự hội nhập vào nền kinh tế
quốc tế (gia nhập WTO), hàng loạt các đạo luật mới ra đời (trong đó có Luật Thương mại
2005) thì việc tìm hiểu và nghiên cứu các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá là
thực sự cần thiết.
Với sự ra đời của các đạo luật nêu trên, quy định về pháp luật hợp đồng hiện nay đã
khá đầy đủ và có hệ thống. Tuy nhiên việc áp dụng các chính sách mới trong việc kí kết
và thực hiện hợp đồng vẫn đang có nhiều vấn đề cần bàn luận. Bài khóa luận “Hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và thực tiễn áp dụng
tại Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên Dũng” dưới đây trình bày một cách
khái quát về tình hình áp dụng pháp luật trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa ở Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên Dũng.
1
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng
hóa trong thương mại và thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thương mại và Dịch Vụ
Nguyen Dũng ”, Em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh
đạo, các anh chị trong Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên Dũng cùng với

mại , bởi thông qua đó , chúng ta có thể tự điều tiết các hành vi thương nhân trong quá
trình thực hiện hợp đồng tạo ra sự ổn định tương đối cho sự phát triển của nền kinh tế .
Các điều luật và chế định này càng được các bên sử dụng nhiều hơn như 1biện pháp hữu
hiệu để đảm bảo quyền lợi của mình trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa thương
mại .Tuy nhiên các hành vi có vi phạm hợp đồng hay những điều khoản chưa phù hợp
với quy định của luật điều chỉnh trong thời gian qua vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi do
các quy định hiện hành chưa thực sự rõ ràng, thiếu đồng đều giữa việc áp dụng các
nguyên tắc đó trong luật, gây ra các khó khăn cho các chủ thể khi tham gia hợp đồng .
Những vấn đề này xuất phát từ sự bất cập của các quy định luật trong hợp đồng thuơng
mại .
Tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam nói chung , công ty TNHH Thương Mại và Dịch
Vụ Nguyên Dũng nói riêng còn tồn tại nhiều bất cập liên quan đến các điều khoản quy
định trong hợp đồng thương mại khi tham gia ký kết hợp đồng . Các thương nhân thường
lung túng trong việc áp dụng luật khi tham gia hợp đồng thương mại nhất là việc lựa
chọn chế tài nào , vì với mỗi loại chế tài sẽ áp dụng cho 1 loạt vi phạm, tùy theo tính
chất, mục đích của chế tài đó. Việc áp dụng dựa trên căn cứ gì, thực hiện và giải quyết vi
phạm hợp đồng như thế nào?
Do vậy, việc nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
thương mại rất cấp bách trong hội nhập kinh tế quôc dân của Việt Nam ,cần có sửa đổi
,bổ sung sao cho phù hợp.
4
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
2.TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Một vài suy nghĩ và định hướng sửa đổi luật thương mại 2005
TSTrần Thanh Hương –Luật sư Tp.Hồ Chí Minh
Ts Dương Anh Sơn –Giảng viên .ĐH Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
Đặt vấn đề ra
Để nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả, hoạt động kinh doanh thương mại
diễn ra có trật tự, cần thiết phải thiết kế và xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật

ta pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời từ những năm đầu của thời kỳ quá độ sang kinh tế
thị trường tạo cơ sở pháp lý cho việc ký kết hợp đồng kinh tế , đã có tác dụng thúc đẩy
các hoạt động kinh tế phát triển .Tuy nhiên , pháp lệnh này cho tới nay vẫn chưa 1 lần
được sửa đổi , bổ sung đã bộc lộ nhiều bất cập. Những bất cập đó ngày càng gia tăng
cùng với việc nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm tạo
dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh như : Bộ Luật
Dân Sự , Luật Thương Mại , Luật Doanh Nghiệp những quy định bất hợp lý trong pháp
luật về hợp đồng kinh tế đã “đóng khung ” các hoạt động kinh doanh hết sức mềm dẻo ,
linh hoạt , linh động và nhiều tính sáng tạo. Trong điều kiện mới, pháp luật về hợp đồng
kinh tế không những không tạo được sự điều chỉnh pháp lý thuận lợi hơn cho việc giao
kết và thực hiện hợp đồng mà còn gây những trở ngại, thậm chí là thiệt hại về kinh tế cho
các chủ thể. Chính vì vậy mà vấn đề hoàn thiện pháp luật về hợp đồng phục vụ cho hoạt
động kinh doanh đang được đặt ra hết sức bức xúc.
Hoàn thiện chế định này, theo chúng tôi phải giải quyết được hai vấn đề: Một là,
mô hình pháp luật về hợp đồng phải được thiết kế như thế nào? Hai là, hệ thống các văn
bản pháp luật hiện hành về hợp đồng phải được hoàn thiện như thế nào cho phù hợp với
mô hình đó?
3. XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ ĐỀ TÀI NGUYÊN CỨU
Sau khi nghiên cứu kỹ các công trình nghiên cứu ,tác giả thừa kế những vấn đề sau:
Thứ nhất, nhìn chung các đề tài nghiên cứu đều tập trung trên vấn đề hoàn thiện
pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa thương mại, những vấn đề cần bổ sung sao cho
phù hợp với nền kinh tế thị trường trong nước cũng như quốc tế, đồng thời chỉ ra những
hạn chế, vướng mắc và cách giải quyết trên phương diện lý luận .
Thứ 2 ,lý luận ,lập luận về những hoàn thiện pháp luật trong hợp đồng mua bán
hàng hóa thương mại của các công trình nghiên cứu, các bài viết rất chặt chẽ và sâu sắc
và đầy thuyết phục, các công trình nghiên cứu trên là cơ sở khoa học để tác giả tham
khảo để làm bài khóa luận .
Sau khi nghiên cứu phân tích 1 số đề tài thì tác giả thấy đây là 1 đề tài không mới,
đã được nhiều người nghiên cứu về luật nghiên cứu nhưng nó cũng là 1 vấn đề đang rất
được quan tâm. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đa phần các hình thức bổ sung, sửa

giao kết.Thực hiện và giải quyết tranh chấp như thế nào . Thực trạng tại công ty TNHH
Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên Dũng thuận lợi và khókhăn gặp phải, có những giải
pháp nào?
Ba là: từ những điểm thuận lợi cùng như những bất cập gặp phải của luật đề ra các
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa thương mại .
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại được quy định tại luật thương mại 2005 và bộ luật dân sự 2005 pháp lệnh về hợp
đồng và các văn bản pháp luật liên quan khác .
Nghiên cứu tình huống thực tế tại công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên
Dũng và 1 số công ty khác.
7
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Những vấn đề nghiên cứu trong đề tài tập trung chủ yếu vào các quy định các chế
định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại. Mục tiêu của đề tài tập trung vào
các vấn đề cần giải quyết sau:
Về mặt lý luận : làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật quy định và điều chỉnh các mối
quan hệ trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại cũng như hình thức giao
kết, những thảo luận điều khoản các bên khi tham gia.Cách thức thực hiện quyền và
nghĩa vụ của các bên, nếu trường hợp vi phạm hay tranh chấp xảy ra có những chế tài
nào được áp dụng giải quyết được quy định tại luật thương mại 2005-bộ luật dân sự 2005
cũng như 1 số điều ước quốc tế .
Về thực tiễn : trên cơ sở lý luận đã nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa
thương mại cùng với việc khảo sát thực tế tại công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ
Nguyên Dũng để thấy được doanh nghiệp việc áp dụng luật như thế nào trong giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại , qua đó cũng tìm ra được những khó khăn
bất cập khi áp dụng luật của các doanh nghiệp để có những giải pháp hoàn thiện pháp

trong chương 2 nhằm thu thập dữ liệu để làm rõ các vấn đề nêu trên phần lý luận .
Thứ 2, phương pháp so sánh : phương pháp so sánh giúp bài nghiên cứu được rõ
ràng hơn, dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu các văn bản luật để tiến hành so sánhvà
phương pháp này được sử dụng tại chương 1 nhằm cho người đọc hiểu rõ được sự khác
biệt về sự quy định các điều luật điều chỉnh mối quan hệ khi tham gia hợp đồng mua bán
hàng hóa thương mại ở các văn bản pháp luật khác nhau .
Thứ 3, phương pháp phân tích tác giả sử dụng phương pháp này kết hợp với nhiều
phương pháp khác, phương pháp này giúp cho việc phân tích thực trạng áp dụng luật khi
tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa thương mại tại công ty TNHH Thương Mại và
Dịch Vụ Nguyên Dũng cũng như các doanh nghiệp để thấy rõ những ưu, nhược điểm của
khi áp dụng luật đem lại cho công ty những thuận lợi và khó khăn gì? Những bất cập của
luật để từ đó có thể đưa ra những giải pháp để hoàn thiện . Phương pháp này được sử
dụng hầu hết các chương trong bài khóa luận.
Ngoài những phương pháp chính này tác giả cũng sử dụng kết hợp các phương pháp
khác như đã nêu trên để vấn đề được giải quyết 1 cách triệt để nhất.
6. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Kết cấu của bài khóa luận bao gồm nội dung sau đây :
Chương 1 những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh trong hợp đồng mua bán
hàng hóa trong thương mại .
Chương 2 thực trạng áp dụng luật điều chỉnh trong quan hệ hợp đồng trong thương
mại khi tham gia hợp đồng thương mại của công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ
Nguyên Dũng .
Chương 3 một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng
hóa trong thương mại .
9
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG
THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG

mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.
10
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
HĐ mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của HĐ mua bán tài sản
trong dân sự như:
+ Là hợp đồng ưng thuận - tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa
thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của HĐ không phụ thuộc vào
thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên
bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của HĐ mua bán đã có hiệu lực.
+ Có tính đền bù – bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ
nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng
khoản tiền thanh toán.
+ Là hợp đồng song vụ - mỗi bên trong HĐ mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi
nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện
nghĩa vụ đối với mình. Trong HĐ mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính
chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa
cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán
Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, HĐ mua bán hàng
hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua
bán hàng hóa:
+ Về chủ thể, HĐ mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là
thương nhân. LTM 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập
hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký
kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở
thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa. Theo khoản3 Điều 1 LTM, hoạt động của bên
chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ
mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM.
+ Về hình thức, HĐ mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói,
bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp

+Hợp đồng mua bán hàng hóa quôc tế(hợp đồng ngoại thương )
1.1.3 Phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường với hợp đồng mua bán hàng hóa
trong thương mại
Thứ nhất ,về đối tượng :hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có đối tượng
hàng hóa,tuy nhiên không thể hiểu theo thông thường, hàng hóa là sản phẩm lao động của
con người được tạo ra nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của con người hay chỉ bao gồm
máy móc, thiết bị nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật liệu hàng tiêu dùng, các động sản khác
được lưu thông trên thị trường nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua ,
bán (khoản 3 Điều 5 Luật Thương Mại 1997) . Luật thương mại 2005 có quy định “hàng
hóa bao gồm :
a.tất cả các loại động sản ,kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b.những vật gắn liền với đất đai.”
Như vậy, hàng hóa trong thương mại là đối tượng mua bán có thể là hàng hóa hiện
đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản
được phép lưu thông thương mại và phải loại trừ 1 số hàng hóa đặc biệt chịu sự điều
chỉnh riêng như cổ phiếu trái phiếu.
Thứ hai,về chủ thể : chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương
nhân. Khái niệm thương nhân được đề cập trong khoản 1 Điều 6 luât thương mại 2005
12
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại 1 cách
độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế).Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân
không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng
hóa. Hoạt động của chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lời
trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ tuân theo luật thương mại khi chủ thể này
lựa chọn áp dụng luật thương mại.
Trong khi chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường có thể là mọi

1.2.2 Doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh
Chủ thể là cá nhân, là tổ chức kinh tế có dăng ký giấy phép kinh doanh khi tham gia
mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lời cho doanh nghiệp ngoài ra bên cạnh đó nhằm
mục đích tiêu dùng hay phục vụ nhu cầu khác của cá nhân khác hoặc phục vụ lợi ích cho
chủ thể tham gia.
1.2.3 Pháp luật điều chỉnh:
Để điều chỉnh mối quan hệ trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
của các chủ thể, các doanh nghiệp khi tham gia, pháp luật Việt Nam đã ban hành luật
điều chỉnh:
Luật Doanh Nghiệp 2005
Bộ Luật Dân Sự 2005
Luật Thương mại 2005
Cùng với những văn bản luật liên quan khác nhằm giúp các chủ thể tham gia quan
hệ hợp đồng tuân thủ đúng pháp luật và nhằm bảo đảm quyền lợi cho bên bán cùng bên
mua 1 cách công bằng.
1.3 NGUYÊN TẮC VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA TRONG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
Tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nguyên tắc tự
do hợp đồng cho phép các cá nhân, tổ chức được tự do quyết định trong việc giao kết hợp
đồng và việc ký kết hợp đồng với ai, như thế nào, với nội dung, hình thức nào. Hợp đồng
phải xuất phát từ ý muốn chủ quan và lợi ích của các chủ thể. Tuy nhiên, sự tự’ do thỏa
thuận muốn được pháp luật bảo vệ khi có sự vi phạm quyền và nghĩa vụ, dẫn đến tranh
chấp thì phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Vì lợi ích của mình, các chủ thể phải hướng tới việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích
hợp pháp của người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội
Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác trung thực và ngay thẳng. Theo nguyên tắc
này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa và phải
bảo đảm nội dung của quan hệ đó thể hiện được sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ của
các bên, bảo đảm lợi ích cho các bên chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng mua bán

tử trong đó ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch. Trình tự ký kết hợp đồng theo
phương thức này bao gồm hai giai đoạn:
Chào hàng
Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong một thời hạn
nhất định, được chuyển cho một hay nhiều người đã xác định. Ở giai đoạn này, một bên
đưa ra lời chào hàng, tùy theo nội dung có thể là chào bán hàng hoặc chào mua hàng,
đồng thời đưa ra một thời hạn đế bên kia xem xét quyết định lập hợp đồng. Luật Thương
mại không quy định hình thức bắt buộc của chào hàng nói chung, song để chuyển tải
được những nội dung cần thiết và tránh hiếu lầm, nhất là khi các bên có tiếng nói khác
15
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
nhau thì hình thức văn bản là cần thiết. Tuy nhiên, hình thức văn bản không phải là điều
kiện bắt buộc để chào hàng có hiệu lực.
Bên chào hàng có trách nhiệm đối với lời chào hàng của mình trong thời hạn đã đưa
ra trong lời chào hàng. Neu bên nhận được chào hàng đồng ý với toàn bộ chào hàng và
trả lời chấp nhận trong thời hạn được quy định trong chào hàng thì quan hệ hợp đồng đã
được hình thành. Neu bên nhận được chào hàng có những đề nghị thay đổi nội dung chủ
yếu của chào hàng thì hành vi đó được coi là từ chối chào hàng và hình thành một chào
hàng mới. Neu bên được chào hàng chỉ thay đổi những nội dung không chủ yếu thì chào
hàng được coi là đã được chấp nhận, trừ trường hợp người chào hàng ngay lập tức từ chối
những thay đối đó.
Chào hàng hết hiệu lực khi thời hạn chấp nhận quy định trong chào hàng đã hết
hoặc chào hàng bị từ chối. Chào hàng cũng có thể được coi là bị từ chối nếu chào hàng
này không được chấp nhận một cách vô điều kiện mà bị bên nhận được chào hàng đưa ra
những yếu cầu mới. về mặt thực tế, chào hàng đương nhiên được coi là hết hiệu lực nếu
bên chào hàng, vì một nguyên nhân nào đó mà ngay khi chưa hết thời hạn chấp nhận
chào hàng quy định, đã không tham gia kinh doanh nữa. Đó có thể là trường hợp bên
chào hàng bị giải thể, bị phá sản, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Chấp nhận chào hàng

được chào hàng về việc mình chấp nhận dù quá hạn.
1.3.3 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
Sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa đã được xác lập và có hiệu lực pháp lý các bên
thực hiện hợp đồng theo những nguyên tắc sau đây:
- Thực hiện đúng nghĩa vụ mà mình đã cam kết trong hợp đồng;
- Thực hiện hợp đồng một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, có lợi nhất cho
các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau;
- Thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, quyền và lợi ích họp pháp của người khác.
17
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ NGUYÊN DŨNG
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
2.1.1 Giới thiệu về công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên Dũng
Lịch sử hình thành và phát triển công ty
Tên công ty : Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Nguyên Dũng
Địa chỉ : số 158 ngõ 165 Chùa Bộc – Đống Đa- Hà Nội
Điện thoại : (04) 3564 0808
(04) 3568 0739
Email : [email protected]
2.1.2. Nhiệm vụ và ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp
2.1 2.1Lĩnh vực kinh doanh của công ty
- Kinh doanh các dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước và quốc tế
- Dịch vụ làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu quốc tế, dịch vụ nhận , ký gửi hàng
hóa kinh doanh xuất nhập khẩu
- Dịch vụ vận chuyển giao nhận , ký gửi hàng hóa kinh doanh xuất nhập khẩu
- Dịch vụ môi giới và xúc tiến thương mại

có thể giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Hình thức của hợp đồng là
do các bên giao kết hợp đồng lựa chọn trừ trường hợp pháp luật có quy định hình thức
bắt buộc, thủ tục nhất định. Song không phải bất cứ chủ thể nào được phép kinh doanh
những mặt hàng nhất định. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội của một số
loại hàng hoá, pháp luật quy định, chỉ có một số thương nhân được kinh doanh một số
mặt hàng nhất định. Bao gồm những loại hàng hoá:
- Chỉ được một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh do Thủ tướng quy định theo
đề nghị của Bộ trưởng, Tổng cục quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật
- Chỉ được các doanh nghiệp kinh doanh, cá nhân không được phép kinh doanh
- Chỉ được các doanh nghiệp hoặc cá nhân nhất định sau khi được Bộ trưởng, Tổng
cục trưởng ngành kinh tế, kỹ thuật hoặc chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh xem xét và
cho phép
Ngoài ra, đối với những loại hàng hóa này, khi kinh doanh thương nhân phải có một
số điều kiện như:
- Điều kiện về cơ sở vật chất
- Điều kiện về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người kinh doanh…
2.2.1.3. Hợp đồng mua bán hàng hoá vô hiệu
Trong LTM 2005 không đề cập đến hợp đồng mua bán hàng hoá vô hiệu nhưng
BLDS 2005 lại có những quy định điều chỉnh khá đầy đủ về vấn đề này (từ Điều 127 đến
Điều 138). Một hợp đồng vô hiệu khác với hợp đồng mất hiệu lực vì việc mất hiệu lực có
thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào khi xuất hiện các điều kiện cần thiết và không mang
tính hiệu lực hồi tố. Hợp đồng bị vô hiệu trong các trường hợp sau:
- Nội dung, mục đích của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã
hội (Điều 128)
- Trong giao dịch hợp đồng có sự giả tạo (Điều 129)
19
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
- Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130)

Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp đồng.
Nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chung của
pháp luật
20
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
Khi thực hiện hợp đồng thì bên bán phải có nghĩa vụ bảo đảm tính hợp pháp của
hàng hoá, bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hoá, bảo đảm tính hợp pháp
về sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá đó, chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá.
Địa điểm giao hàng (Điều 35 LTM)
Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận. Trường hợp không có
thoả thuận thì địa điểm giao hàng được xác định như sau:
Nếu hàng hoá gắn liền với đất đai thì nơi giao hàng chính là nơi có hàng hoá đó
Nếu hàng giao qua người vận chuyển thì nơi giao hàng là tại địa điểm bốc xếp, kho
giao hàng hoặc nơi sản xuất (của bên bán) mà cả hai bên đều biết
Trong các trường hợp khác nơi giao hàng sẽ coi như tại địa điểm kinh doanh của
bên bán hoặc nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của bên bán
Thời gian giao hàng (Điều 37 LTM)
Nếu có thoả thuận về thời điểm thì bên bán phải giao hàng đúng như đã thoả thuận
Nếu chỉ thoả thuận thời hạn thì các bên có thể giao hàng vào bất cứ thời điểm nào
trong thời hạn đó
Nếu không có thoả thuận gì thì bên bán phải giao hàng trong thời hạn hợp lý (theo
quy định, thói quen, tập quán thương mại)
Trách nhiệm do giao hàng không phù hợp với hợp đồng (Điều 39 LTM) : Bên mua
có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng. Bên bán phải
chịu trách nhiệm trừ trường hợp những khiếm khuyết của hàng hoá bên mua phải biết
hoặc đã biết khi ký hợp đồng
2.2.2.2 Thanh toán (Điều 50)
Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng theo thoả thuận nếu không có thoả
thuận gì thì thanh toán khi giao hàng. Giá thanh toán phải do thoả thuận nếu không có

thực hiện hợp đồng thì các bên có thể lựa chọn con đường giải quyết sau:
- Thương lượng
- Hoà giải
- Trọng tài thương mại (theo thủ tục tố tụng trọng tài được quy định trong Pháp lệnh
trọng tài thương mại 2003)
- Toà án (theo thủ tục tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004)
Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 2 năm kể từ thì điểm
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều
237 của LTM (Điều 319 LTM 2005).
Như vậy, sự ra đời của hai văn bản pháp luật quan trọng này đã góp phần giải quyết
những vấn đề bất cập còn tồn tại của cơ chế pháp luật trước đây. Đó là:
Vấn đề chồng chéo, trùng lắp và thiếu nhất quán giữa các văn bản pháp luật cùng
điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá đã được giải quyết bằng cách: BLDS 2005 đưa ra
các khái niệm, phạm trù mang tính quy định chung mà các văn bản pháp luật điều chỉnh
các chủng loại hợp đồng khác nhau không cần quy định chỉ cần dẫn chiếu tới quy định
chung đó là được.
BLDS 2005 không quy định nội dung nào là nội dung chủ yếu, bắt buộc đối với tất
cả các hợp đồng mà chỉ quy định có tính chất định hướng (Điều 402). Quy định mới tạo
22
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật
ra tính khả thi áp dụng cho cả hợp đồng và cho thấy các quy định về hợp đồng trong
BLDS đã thể hiện vai trò là quy phạm pháp luật về đối tượng hợp đồng.
BLDS 2005 có quy định mới ghi nhận vấn đề phát sinh từ thực tế, cụ thể về quyền
cầm giữ tài sản trong hợp đồng dân sự (Điều 416), quy định về quyền hoãn thực hiện
nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng song vụ, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và về hụi,
họ, biểu, phường (Điều 479). Do đó, BLDS 2005 đã điều chỉnh vấn đề nguy cơ không
thực hiện hợp đồng, các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống dân sự mà nhiều vụ
kiện toà án chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp.
LTM 2005 chỉ quy định những nội dung mang tính chuyên ngành về hợp đồng

-Công ty Cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đại Lộc Phát
-Công ty cổ phần vận tải và phân phối Thăng Long
Hình thức của hợp đồng :
Theo quy định của pháp luật, công ty có thể lựa chọn bất cứ hình thức nào để giao
kết hợp đồng. Do đó, tuỳ vào từng trường hợp, từng đối tác, từng khách hàng mà công ty
có thể ký hợp đồng dưới các hình thức: văn bản, fax, email hoặc chỉ thông qua điện thoại
để giao kết.
Thông thường, đối với các đối tác, nếu công ty có nhu cầu đối với một mặt hàng
nào đó với một khối lượng nhất định, công ty sẽ gửi một bảng hỏi giá cho công ty có khả
năng đáp ứng, yêu cầu họ gửi cho mình báo giá. Sau khi có bảng báo giá, hai bên tiến
hành đàm phán về các điều khoản và yêu cầu đối tác soạn thảo hợp đồng dưới hình thức
văn bản ký vào đó rồi gửi sang cho công ty. Do các đối tác thường là các doanh nghiệp
nước ngoài nên quá trình đàm phán chủ yếu diễn ra qua điện thoại hoặc email.
Đối với khách hàng, chủ yếu là khách hàng trong nước nên việc đàm phán diễn ra
dễ dàng hơn. Cán bộ kinh doanh của từng nhóm mặt hàng sẽ trực tiếp liên hệ với các
công ty, cơ sở kinh doanh thép để tìm kiếm khách hàng cho mình và nếu công ty hay cơ
sở kinh doanh đó có nhu cầu các mặt hàng như sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà công ty
có khả năng đáp ứng nhu cầu đó thì nhân viên kinh doanh sẽ gửi lời chào hàng và bảng
báo giá cho đối tác. Nếu bên được chào hàng chấp nhận lời chào hàng thì cán bộ kinh
doanh sẽ trực tiếp soạn thảo hợp đồng dưới dạng văn bản để hai bên tiến hành giao kết
hoặc có thể thông qua fax, email…
Do hình thức hợp đồng công ty giao kết rất đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi mở
rộng giao kết, tưng số lượng hợp đồng.
Mục đích, nội dung của hợp đồng
Mặt hàng mà công ty kinh doanh không nằm trong dạnh mục hàng hoá cấm hoặc
hạn chế kinh doanh của TTg. Mặt khác, mục đích của hợp đồng là trao đổi hàng hoá
nhằm tìm kiếm lợi nhuận nên không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Nội dung của hợp đồng là kết quả của quá trình đàm phán giữ hai bên với nhau về
các điều khoản trong hợp đồng. Nội dung của hợp đồng thương bao gồm các vấn đề sau:
Tên hàng

nguyên tắc như:
+ Chỉ mang tính chất bổ sung cho các nghĩa vụ chính
+ Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất
+ Phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã xác định trong nội dung
các nghĩa vụ chính của hợp đồng.
+ Chỉ áp dụng khi các có sự vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
+ Phải có sự thoả thuận giữa các bên về các biện pháp bảo đảm
Các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng sau: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký quỹ; bảo lãnh.
Trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng: Trong hợp đồng mua bán hàng hoá,
điều khoản này quy tụ những điều cam kết rất cụ thể về sự quyết tâm thực hiện nghiêm
túc mọi điều khoản đã thoả thuận. Trong đó, xác định một cách cụ thể những trường hợp
25
GVHD: TS. Trần Thành Thọ SVTH: Nguyễn Thị Hương

Trích đoạn Tìm kiếm khách hàng SÁCH BÁO THAM KHẢO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status