Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
MỤC LỤC
Lời mở đầu..................................................................................................................3
Chương I: Cơ sở pháp lý về chế độ hợp đồng quy định ở Việt Nam....................5
I. Quá trình phát triển pháp luật hợp đồng..........................................................5
1. Hợp đồng kinh tế (HĐKT) trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
(KHHTT)..........................................................................................................5
2. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 (PL HĐKT)...............................................5
3. Hệ thống pháp luật hợp đồng với sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995 và Luật
thương mại 1997...............................................................................................8
II. Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hoá
............................................................................................................................11
1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá.......................................................11
2. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá..........................................................12
2.1. Chủ thể giao kết hợp đồng......................................................................12
2.2. Hình thức hợp đồng................................................................................12
2.3. Mục đích, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá.............................13
2.4. Hợp đồng mua bán hàng hoá vô hiệu......................................................14
3. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá........................................................15
3.1. Những vấn đề có tính nguyên tắc...........................................................15
3.2. Thanh toán (Điều 50).............................................................................16
3.3. Chuyển rủi ro (từ Điều 57 đến Điều 61).................................................16
3.4. Chuyển quyền sở hữu (Điều 62).............................................................17
4. Trách nhiệm vật chất khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng..................................17
5. Giải quyết tranh chấp...................................................................................18
Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng tại Công ty TNHH IPC....20
I. Khái quát quá trình hình thành và phát triển.................................................20
1. Lịch sử hình thành và phát triển...................................................................20
2. Cơ cấu tổ chức của Công ty.........................................................................21
3. Quản lý lao động.........................................................................................23
4. Hoạt động phân phối sản phẩm và kết quả kinh doanh của Công ty.............24
bán hàng hoá....................................................................................................44
III. Về phía Công ty............................................................................................48
1. Phát huy vai trò của hợp đồng mua bán hàng hoá từ khâu giao kết hợp đồng
........................................................................................................................48
1.1. Lựa chọn đối tác.....................................................................................48
1.2. Tìm kiếm khách hàng.............................................................................49
1.3. Đàm phán...............................................................................................49
1.4. Giao kết hợp đồng..................................................................................50
2.Thực hiện hợp đồng......................................................................................51
Kết luận......................................................................................................................53
Danh mục tài liệu tham khảo..................................................................................55
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
2
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Mua bán hàng hoá là hoạt động chính trong hoạt động thương mại, là cầu nối giữa
sản xuất và tiêu dùng và không chỉ giới hạn ở phạm vi mỗi quốc gia mà còn mở rộng
ra cả các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới.
Khi hai bên tiến (thường gọi bên mua và bên bán) tiến hành mua bán hàng hoá
với nhau thì nảy sinh một hình thức được hai bên ký kết có thể bằng miệng, bằng văn
bản, bằng email, fax… mà người ta gọi là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hợp đồng
mua bán hàng hoá rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá phổ
biến trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Nhà xã hội nổi
tiếng người Pháp A.Foullier đã nhận định, hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ
luật hiện hành và đến khi nào đó, trong các bộ luật quy định về hợp đồng ở các điều
khoản, từ điều khoản thứ nhất đến điều khoản cuối cùng. Trong hệ thống pháp luật
nước ta đã có những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại
1997… và hiện tại tiêu biểu là hai văn bản pháp luật mới được ban hành: Bộ luật dân
sự 2005 và Luật Thương mại 2005.
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CHẾ ĐỘ HỢP ĐỒNG QUY ĐỊNH Ở VIỆT NAM
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
4
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
I. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
1. Hợp đồng kinh tế (HĐKT) trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
(KHHTT)
Hợp đồng kinh tế trong cơ chế KHHTT: Theo điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT
theo Nghị định đô 04/TTg ngày 4/6/1960 thì HĐKT là hợp đồng về sản xuất, vận tải
và xây dựng bao thầu. Từ đó ta rút ra rằng điều lệ tạm thời mới khái quát được một
vài lĩnh vực cụ thể của HĐKT mà chưa nêu ra được khái niệm chung về HĐKT. Sau
đó điều lệ về chế độ HĐKT ban hành theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 mới
đưa ra định nghĩa về HĐKT: HĐKT là công cụ pháp lý của nhà nước trong việc xây
dựng và phát triển kinh tế quốc dân XHCN. Nghị định này đã xây dựng khá rõ rằng
mối quan hệ XHCN giữa các bên có liên quan dẫn đến việc ký kết và thực hiện
HĐKT đã ký đồng thời cũng quy định nghĩa vụ và chịu trách nhiệm của từng bên đối
với nhau, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia ký kết, định hướng cho các
bên bằng những kế hoạch cụ thể giúp các thành viên thực hiện được mục tiêu ban
đầu đặt ra.
Từ những đặc điểm kinh tế và những quy tắc, những quy định về HĐKT trên ta
rút ra được kết luận sau: HĐKT trong cơ chế KHHTT có đặc điểm:
- HĐKT là hình thức pháp lý của các quan hệ mang tính chất tổ chức kế hoạch
- Mục đích của HĐKT là thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước
- Chủ thể của HĐKT là các đơn vị, tổ chức được giao chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước
2. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 ( PL HĐKT)
Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế giữa các đơn
vị kinh tế mang một nội dung mới về chất. Trong điều kiện đó, điều lệ về chế độ
HĐKT ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 không còn phù hợp nữa.
Nhà nước đã ban hành PL HĐKT ngày 25/9/1989 và nhiều văn bản khác để điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng theo quan điểm đổi mới. PL HĐKT 1989 ra đời đánh
khả năng, nhu cầu, và sự thỏa thuận của mỗi bên khi chưa có quy định của Nhà nước
hoặc đã có quy định của nhà nước nhưng các bên được phép vận dụng linh hoạt trong
hoàn cảnh thực tế của mình và không trái pháp luật.
* HĐKT vô hiệu khi HĐKT đó ký kết trái với quy định của pháp luật. Có hai loại
HĐKT vô hiệu là HĐKT vô hiệu từng phần và HĐKT vô hiệu toàn bộ. Tòa án là cơ
quan có thẩm quyền quyết định HĐKT vô hiệu.
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
6
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Trong những văn bản được pháp luật xây dựng và ban hành sau khi Đảng và nhà
nước ta khởi xướng chính sách đổi mới thì PL HĐKT được coi là một trong những
bước đi lập pháp tiên phong, một trong những phản ứng nhanh chóng trước đòi hỏi
của kinh tế.
Điểm thành công nhất trong số những thành công ít ỏi của pháp lệnh HĐKT là sự
khẳng định nguyên tắc tự do hợp đồng bằng quy định ký kết HĐKT là quyền của các
đơn vị kinh tế, không cơ quan, cá nhân, tổ chức nào được áp đặt ý chí của mình cho
các chủ thể khác khi ký kết các HĐKT. Pháp lệnh đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của
cơ chế KHHTT trong lĩnh vực hợp đồng nơi mà các chủ thể phải được tự do tự
nguyện thể hiện ý chí của mình. Tuy nhiên, pháp lệnh HĐKT vẫn còn tồn đọng một
số bất cập sau:
+ Xét từ góc độ lý luận, điểm đầu tiên là sự mâu thuẫn giữa tư tưởng xuyên suốt
của cơ quan soạn thảo pháp lệnh này đó là quyền tự do hợp đồng được thể hiện trên
một số nguyên tắc chung về ký kết và thực hiện hợp đồng. Với những quy định của
nó trong việc xử lý các khía cạnh cụ thể của đời sống sản xuất kinh doanh. Khi xem
xét các quy định cụ thể trong pháp lệnh thì quyền tự do hợp đồng lại bị ràng buộc và
triệt tiêu một cách khó giải thích. PL HĐKT chỉ cho phép pháp nhân và cá nhân có
đăng ký kinh doanh tham gia các quan hệ hợp đồng, trong khi đó tự do HĐKT đòi
hỏi trước hết là tự do lựa chọn đối tác. Điểm thứ hai, các chủ thể tham gia ký kết còn
bị hạn chế bởi nguyên tắc chịu trách nhiệm trực tiếp về tài sản đồng nghĩa với việc
không cho các chủ thể tham gia ký kết HĐKT dưới sự bảo lãnh của chủ thể khác.
thiết về mặt pháp lý. Trong khi đó, PL HĐKT lại bắt buộc các chủ thể khi ký kết thì
hợp đồng phải được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc những giấy tờ có giá trị tương
đương.
Như vậy, với những quy định mở rộng về chủ thể giao kết và hình thức giao kết
mà BLDS 1995 và LTM 1997 đã phần nào giải quyết mâu thuẫn giữa tư tưởng xuyên
suốt của PL HĐKT về quyền tự do hợp đồng với các quy định của nó, mở rộng phạm
vi điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp mà PL HĐKT không điều chỉnh.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện quy định về hợp đồng đang tồn tại này ngày
càng nổi lên nhiều vấn đề bất cập. Đó là:
- Trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng, chúng ta thấy có ba
khái niệm cùng tồn tại: hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại.
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
8
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Một mặt các hợp đồng này có những điểm đặc trưng về hợp đồng nhưng mặt khác
giữa chúng lại có điểm thiếu sót như:
- Sự trùng lặp, thiếu nhất quán và không đồng bộ gây ra không ít sự vướng mắc,
sự lúng túng trong việc áp dụng pháp luật để tiến hành giao kết hợp đồng và giải
quyết tranh chấp.
- Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, pháp luật hợp đồng của Việt
Nam chưa tương thích với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế.
- Với thực trạng pháp luật về hợp đồng như hiện nay thì việc duy trì khái niệm
hợp đồng kinh tế và hệ thống các văn bản pháp luật quy định riêng về nó là không
cần thiết trong khi có nguy cơ nảy sinh những vấn đề phức tạp trong việc xây dựng
pháp luật và áp dụng pháp luật.
- BLDS 1995 và các văn bản về hợp đồng chưa giải quyết mối quan hệ giữa pháp
luật hợp đồng với điều lệ, quy chế của doanh nghiệp cũng như các điều kiện giao
dịch mà các doanh nghiệp tự ban hành.
- Các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng chưa thực sự phù hợp
với điều kiện kinh tế thị trường nên gây nhiều khó khăn khi áp dụng gây ra nguy cơ
hệ thống pháp luật hiện hành được cụ thể ở những nội dung sau:
1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá
Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được
tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu
của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triển
phong phú và đa dạng. Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành của Việt Nam tại
Điều 3 khoản 2 LTM 2005: “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất
động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. Cũng tại Điều 3
Luật này có quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó các bên
có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh
toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng
hoá theo đúng thoả thuận”. Việc mua bán hàng hoá được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng. Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm cụ thể nào về hợp đồng mua bán
hàng hoá mà lại đưa ra khái niệm chung về hợp đồng mua bán tài sản tại Điều 428
BLDS 2005: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên
bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận
tài sản và trả tiền cho bên bán”.
Cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá với các hợp đồng khác, ví dụ như thuê
mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng hoá, gia công hàng hoá… Mua bán hàng hoá
khác với quan hệ thuê mua tài sản. Khi thuê tài sản, quyền sử dụng và chiếm hữu
được chuyển cho người thuê nhưng quyền sở hữu lại không được người cho thuê
chuyển giao cho người đi thuê. Mua bán hàng hoá khác với các dịch vụ giao nhận
hàng hoá, vì người giao nhận hàng hoá chỉ thực hiện chức năng trung gian.
2. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
11
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được giao kết giữa thương nhân với thương
nhân hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân. Thương nhân
Để hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực, thì mục đích và nội dung các thoả
thuận trong hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ví dụ: theo quy
định của pháp luật Việt Nam những loại hàng hoá mà trong quá trình sử dụng hoặc
lưu thông có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng tới an ninh, quốc phòng, chính trị, xã
hội, truyền thông văn hoá dân tộc, môi trường và sức khoẻ của nhân dân thì bị cấm
kinh doanh. Danh mục hàng hoá cấm kinh doanh do Thủ tướng Chính phủ quy định
tuỳ theo yêu cầu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn.
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận của các bên về những
vấn đề chủ yếu sau (Điều 402 BLDS 2005)
- Tên hàng
- Số lượng
- Quy cách, chất lượng
- Giá cả
- Phương thức thanh toán
- Địa điểm và thời hạn giao hàng
- Quyền và nghĩa vụ của các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Các nội dung khác.
Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những nội dung mà khi các bên giao kết với
nhau đều phải thoả thuận, nếu chưa thoả thuận được thì coi như chưa giao kết hợp
đồng. Khi đã thoả thuận được nội dung chủ yếu thì hợp đồng mua bán hàng hoá coi
như đã có hiệu lực pháp lý. Nội dung khác các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp
đồng, khi các bên không ghi vào hợp đồng thì mặc nhiên chấp nhận những quy định
chung của pháp luật về vấn đề đó hoặc chấp nhận những tập quán thói quen trong
hoạt động thương mại.
2.4. Hợp đồng mua bán hàng hoá vô hiệu
Trong LTM 2005 không đề cập đến hợp đồng mua bán hàng hoá vô hiệu nhưng
BLDS 2005 lại có những quy định điều chỉnh khá đầy đủ về vấn đề này (từ Điều 127
đến Điều 138). Một hợp đồng vô hiệu khác với hợp đồng mất hiệu lực vì việc mất
một bên gây ra thì bên có lỗi gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi thường (Điều 137).
3. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá
3.1. Những vấn đề có tính nguyên tắc
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
14
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
* Nguyên tắc chung về giao hàng (LTM 2005)
- Bên bán giao hàng đúng như đã thoả thuận đồng thời phải kèm theo chứng từ có
liên quan đến hàng hoá (Điều 42). Nếu trong hợp đồng mua bán hàng hoá mà hàng
hoá phải qua người vận chuyển thì bên bán phải ký hợp đồng vận chuyển, hợp đồng
bảo hiểm rủi ro trên đường vận chuyển. Nếu hợp đồng quy định bên bán không ký
hợp đồng bảo hiểm mà bên mua ký thì bên bán phải cung cấp cho bên bán những
thông tin về hàng hoá để họ tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm.
- Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp đồng.
Nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chung của
pháp luật
- Khi thực hiện hợp đồng thì bên bán phải có nghĩa vụ bảo đảm tính hợp pháp của
hàng hoá, bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hoá, bảo đảm tính hợp
pháp về sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá đó, chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá.
* Địa điểm giao hàng (Điều 35)
- Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận. Trường hợp không
có thoả thuận thì địa điểm giao hàng được xác định như sau:
- Nếu hàng hoá gắn liền với đất đai thì nơi giao hàng chính là nơi có hàng hoá đó
- Nếu hàng giao qua người vận chuyển thì nơi giao hàng là tại địa điểm bốc xếp,
kho giao hàng hoặc nơi sản xuất (của bên bán) mà cả hai bên đều biết
- Trong các trường hợp khác nơi giao hàng sẽ coi như tại địa điểm kinh doanh của
bên bán hoặc nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của bên bán
* Thời gian giao hàng (Điều 37)
- Nếu có thoả thuận về thời điểm thì bên bán phải giao hàng đúng như đã thoả
thuận
4. Trách nhiệm vật chất khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Trách nhiệm pháp lý thường được hiểu là sự áp dụng chế tài cho một chủ thể vi
phạm hợp đồng. Trong quan hệ hợp đồng, bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi mang tính vật chất. Điều kiện để xuất hiện trách nhiệm vật
chất là sự vi phạm hợp đồng được hiểu là không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm. Pháp luật Việt Nam tuân thủ nguyên tắc
chỉ chịu trách nhiệm khi có lỗi (Điều 312 BLDS 2005) do đó nếu chững minh mình
không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm vật chất. Người bán phải chịu
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
16
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
tráchnhiệm về việc hàng không phù hợp với hợp đồng trừ trường hợp chứng minh là
mình không có lỗi.
Tuỳ theo từng loại nghĩa vụ hợp đồng, các bên có thể thoả thuận hoặc bên vi
phạm có thể lựa chọn các loại chế tài sau đây (Điều 292 LTM 2005):
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
- Phạt vi phạm
- Bồi thường thiệt hại
- Huỷ hợp đồng
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng
- Các trường hợp khác do các bên thoả thuận không trái với quy định của pháp
luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại
quốc tế.
Trường hợp các bên có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp
dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các bên
không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại, trừ trường hợp LTM có quy định khác (Điều 307 LTM 2005)
Các bên được miễn trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng trong các trường
hợp sau (Điều 294 LTM 2005):
quyết sau:
- Thương lượng
- Hoà giải
- Trọng tài thương mại (theo thủ tục tố tụng trọng tài được quy định trong Pháp
lệnh trọng tài thương mại 2003)
- Toà án (theo thủ tục tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự
2004)
Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 2 năm kể từ thì điểm
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1
Điều 237 của LTM (Điều 319 LTM 2005).
Như vậy, sự ra đời của hai văn bản pháp luật quan trọng này đã góp phần giải
quyết những vấn đề bất cập còn tồn tại của cơ chế pháp luật trước đây. Đó là:
- Vấn đề chồng chéo, trùng lắp và thiếu nhất quán giữa các văn bản pháp luật
cùng điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá đã được giải quyết bằng cách: BLDS
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
18
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
2005 đưa ra các khái niệm, phạm trù mang tính quy định chung mà các văn bản pháp
luật điều chỉnh các chủng loại hợp đồng khác nhau không cần quy định chỉ cần dẫn
chiếu tới quy định chung đó là được.
- BLDS 2005 không quy định nội dung nào là nội dung chủ yếu, bắt buộc đối với
tất cả các hợp đồng mà chỉ quy định có tính chất định hướng (Điều 402). Quy định mới
tạo ra tính khả thi áp dụng cho cả hợp đồng và cho thấy các quy định về hợp đồng trong
BLDS đã thể hiện vai trò là quy phạm pháp luật về đối tượng hợp đồng.
- BLDS 2005 có quy định mới ghi nhận vấn đề phát sinh từ thực tế, cụ thể về
quyền cầm giữ tài sản trong hợp đồng dân sự (Điều 416), quy định về quyền hoãn
thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng song vụ, hợp đồng chuyển quyền sử dụng
đất và về hụi, họ, biểu, phường (Điều 479). Do đó, BLDS 2005 đã điều chỉnh vấn đề
nguy cơ không thực hiện hợp đồng, các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống
dân sự mà nhiều vụ kiện toà án chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp.
1. Ông Phí Phong Hà
2. Ông Lâm Quang Hiếu
3. Ông Hoàng Thái Học
Công ty được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 0102000425 ngày 28/04/2000
- Vốn điều lệ của công ty là: 22 tỷ đồng
- Thời gian hoạt động: 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh
Sau 6 năm hoạt động, công ty TNHH IPC đã và đang dần lớn mạnh. Khi mới
thành lập, công ty chỉ có 6 người; đến nay, số nhân viên của công ty đã tăng gấp 10
lần, tức là khoảng 60 người. Số vốn điều lệ của công ty cũng tăng tương ứng từ 4 tỷ
đồng khi mới thành lập lên mức 22 tỷ đồng vào thời điểm hiện nay.
2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Với hình thức là một công ty trách nhiệm hữu hạn, quy mô về tài chính và nhân
sự không lớn lắm, công ty được tổ chức theo cơ cấu của mô hình trực tuyến.
Công ty có một giám đốc là ông Phí Phong Hà và ba phó giám đốc:
- Phó giám đốc 1: Ông Nguyễn Hồng Kiên
- Phó giám đốc 2: Ông Hoàng Hà
- Phó giám đốc 3: Ông Lâm Quang Hiếu
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
20
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Công ty có hai phòng nghiệp vụ là: phòng Kinh doanh, phòng Kế toán tại Hà Nội
và một xưởng sản xuất tại Hải Phòng.
Đứng đầu các phòng là các trưởng phòng. Phòng kinh doanh được chia thành 5
nhóm để thuận tiện cho việc kinh doanh các mặt hàng khác nhau.
- Nhóm 1: Nhóm kinh doanh mặt hàng dây cáp thép
- Nhóm 2: Nhóm kinh doanh thép cuộn và kiện cán nóng, thép xả băng.
- Nhóm 3: Nhóm kinh doanh thép ống, phôi thép
- Nhóm 4: Nhóm kinh doanh thép cuộn và kiện cán nguội và thép tròn chế tạo.
+ Trực tiếp làm thủ tục với hải quan để nhận và bàn giao hàng hoá cho kho của
công ty
- Phòng kế toán: Có trách nhiệm tổ chức công tác kế toán theo quy định của nhà
nước. Thực hiện chức năng giám sát, thu nhận xử lý cung cấp thông tin về hoạt
động kinh tế tài chính, giúp ban giám đốc lập phương án kinh doanh tối ưu. Chịu
trách nhiệm công tác quản lý tài chính trước giám đốc và cơ quan chủ quản cấp trên.
3. Quản lý lao động
Công ty đã xây dựng thoả ước lao động tập thể vào nội quy lao động để thực
hiện việc quản lý lao động trong công ty cũng như để xác định cụ thể quyền, nghĩa
vụ của người sử dụng lao động và người lao động. Theo nội quy lao động của công
ty, thời gian làm việc của công nhân viên trong công ty là làm 8h/ngày, sáng từ
8h-12h, chiều từ 1h30-5h30, một tuần làm việc không quá 48 tiếng.
- Hình thức trả lương: trả bằng tiền mặt, do Kế toán trưởng trực tiếp đảm nhận.
Tền lương được trả vào ngày 25 hàng tháng.
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
23
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Công ty liên tục có chính sách tăng lương cho công nhân viên điều này đã gáp
phần quan trọng trong viêc khuyến khích việc hăng say và sự nhiệt tình làm việc
của công nhân viên. Bên cạnh đó, trong dịp tết dương lịch, âm lịch, tổng kết hàng
tháng, hàng năm, tuỳ theo kết quả kinh doanh và hiệu quả làm việc của mỗi người
mà công ty đưa ra những mức tiền thưởng tương ứng từ 100.000 đồng đến
20.000.000 đồng. Theo kết quả thống kê được thì tổng quỹ tiền thưởng năm 2006 là
658.650.000 đồng.
- Hàng năm công ty trích nộp đầy đủ BHXH theo đúng quy định cho tất cả lao
động làm việc trong công ty:
BẢNG 1: TỔNG HỢP TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, QUỸ LƯƠNG, SỐ
PHẢI NỘP BHXH
Năm
Chỉ tiêu
Đặc biệt mặt hàng phế và phôi thép công ty chỉ đóng vai trò là đại lý của các công
ty thép nước ngoài.
Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD
25