chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ- thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Mộc Dũng - Pdf 27

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mở đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một yêu cầu tất yếu,
cấp bách đối với Việt Nam. Thời gian qua, nước ta đã tích cực chuẩn bị để tham gia
ngày càng sâu rộng hơn vào tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như gia nhập
ASEAN năm 1995, APEC năm 1998, ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa
Kỳ năm 2000. Mốc quan trọng nhất để đánh giá mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế
giới là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Để làm được việc đó, chúng ta phải chấp nhận các luật chơi nêu trong
tất cả các Hiệp định đa phương của WTO, trong đó có Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ GATS (General Agreement on Trade in Servicies).
Thương mại dịch vụ là lĩnh vực kinh tế rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội. Thương mại dịch vụ phát triển phong phú, đa dạng phụ thuộc
vào sự phát triển của nền kinh tế, trình độ phát triển khoa học công nghệ và tri thức
của con người trong xã hội. Điều này có thể thấy rõ ở các nước công nghiệp phát
triển như Mỹ, EU, Nhật Bản các ngành dịch vụ chiếm tới 70-80% GDP, còn đối với
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tỷ lệ này dừng ở mức 30-40%, ở các
nước kém phát triển tỷ lệ này thường ở mức trên dưới 10%. Xét trên bình diện
thương mại toàn cầu, theo báo cáo của WTO, các giao dịch thương mại dịch vụ
chiếm xấp xỉ 50% tổng giá trị thương mại toàn cầu. Bởi vậy, WTO đã đưa thương
mại là một trong các nội dung đàm phán quan trọng được điều chỉnh bằng một văn
kiện pháp lý riêng rẽ - Hiệp định GATS, trong đó có đưa ra các nguyên tắc quốc tế
chung để điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ trên phạm vi toàn cầu.
Để bắt kịp với xu thế hội nhập trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam
đã là thành viên WTO thì việc không ngừng hoàn thiện các quy định pháp lý về
thương mại dịch vụ là một vấn đề cấp bách.Thương mại dịch vụ gồm nhiều ngành
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh
K45
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghề khác nhau, tác động tới nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ như hoạt động trang

1. Sự cần thiết của hợp đồng dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
Theo điều 3 Luật thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay
nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận
hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội.
Trong đó, hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động
thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc
giữa thương nhân với các bên có liên quan. Theo quy định của pháp luật, thì hành vi
thương mại gồm các hành vi: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới
thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công trong
thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giao nhận hàng hóa; dịch
vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bài giới thiệu
hàng hóa; hội chợ, triển lãm thương mại.
Hoạt động dịch vụ là loại hoạt động kinh tế rất quan trọng trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Bên cạnh việc thường xuyên tham gia vào các hợp đồng mua bán,
các doanh nghiệp luôn chú trọng tham gia vào các quan hệ để bảo đảm cung ứng
những điều kiện cần thiết cho sản xuất, vận tải, áp dụng tiến bộ KH-KT và công nghệ
mới, tăng năng suất lao động, cải tiến các dây chuyền sản xuất và phục vụ các nhu
cầu sinh hoạt xã hội.
Trong thương mại truyền thống thì hoạt động mua bán hàng hóa chiếm vị trí
chủ yếu và quan trọng. Nhưng ngày nay, hoạt động dịch vụ cũng chiếm một vị trí
đáng kể và nó có xu hướng ngày càng gia tăng. Nhiều tổ chức, cá nhân có uy tín
trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ thương mại đã khẳng định vị trí của mình trên
thương trường. Và ngành dịch vụ đã ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế
quốc dân. Cụ thể:
Bảng 1: Tỷ lệ tăng trưởng và mức độ đóng góp cho tăng trưởng GDP của
các lĩnh vực kinh tế giai đoạn 1995-2001
(Tỉ lệ : %)
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
3

theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan
để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc
của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Và người làm dịch
vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch
vụ giao nhận hàng hóa. Còn giám định hàng hóa là hành vi thương mại do một tổ
chức giám định độc lập thực hiện để xác định tình trạng thực tế của hàng hóa theo
yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
4
4
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Luật thương mại năm 2005 thì quy định cụ thể hơn. Trong đó, hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo
đó, cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, trong đó một bên (sau đây gọi là bên
cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh
toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên
cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Như vậy, cung ứng dịch vụ là
một hoạt động thương mại do đó chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và pháp
luật có liên quan.
2. Yêu cầu của hợp đồng dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
Qua khái niệm về hoạt động cung ứng dịch vụ ở trên cho thấy, hoạt động cung
ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc nhằm
thực hiện các chính sách kinh tế xã hội. Mỗi doanh nghiệp có những phương thức
kinh doanh với những ngành nghề kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên mục đích cuối
cùng vẫn là lợi nhuận. Lợi nhuận là kết quả mà doanh nghiệp đạt được trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm trước đây thì chỉ có hoạt động mua bán
hàng hóa mới đem lại lợi nhuận cao, hoạt động cung ứng dịch vụ tuy đã xuất hiện

tính hiệu lực của các giao dịch đó, pháp luật về hợp đồng ra đời và ngày càng chứng
tỏ được vai trò đặc biệt quan trọng của mình. Có thể nói, pháp luật về hợp đồng là
một trong những chế định lâu đời nhất liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương
mại, dân sự. Nếu như sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảm trên cơ sở
những quy định trong Bộ Luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh
doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng. Không những chế định hợp đồng là một công cụ
pháp lý mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưu của người được thực thi và bảo đảm,
giúp cho luồng lưu thông hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội
và nền kinh tế. Do vậy, hợp đồng ngày càng được xác lập một cách phổ biến hơn,
thường xuyên hơn và trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta.
Trong nền kinh tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó
mà hợp đồng không những là công cụ mà còn là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế
hoạch của các chủ thể kinh doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ phù
hợp với thị trường. Qua đây, các nhà sản xuất kinh doanh có căn cứ để xây dựng kế
hoạch sản xuất kinh doanh cho đơn vị mình. Đó là mục tiêu đầu vào, nơi tiêu thụ sản
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
6
6
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phẩm đầu ra, chất lượng, số lượng, giá thành,….sự thỏa thuận đó đảm bảo sự bình
đẳng thực sự của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của họ.
Hợp đồng ra đời từ rất lâu và nó được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
như khế ước, thỏa thuận… Tuy nhiên, hợp đồng trong hoạt động kinh tế được quy
định một cách cụ thể lần đầu tiên trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
Theo đó, hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các
bên giao kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên
cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ- kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục
đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng

các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn
bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
Như vậy, hợp đồng dịch vụ có các đặc điểm:
Thứ nhất, các bên trong quan hệ hợp đồng dịch vụ có địa vị pháp lý bình đẳng
với nhau. Việc bảo đảm bình đẳng giữa các bên là một điều kiện kiên quyết để hình
thành hợp đồng.
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ luôn thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên bình đẳng
với nhau.Đó là sự thỏa thuận về việc thực hiện một công việc nào đó của một bên
đối với bên kia. Quá trình hình thành hợp đồng là quá trình các bên bàn bạc, thương
lượng để đi đến thỏa thuận. Quá trình này, các bên được tự do bày tỏ ý chí để đi đến
hợp đồng. Hợp đồng thể hiện trung thành ý chí của các bên.
Hình thức của hợp đồng được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được
xác lập bằng hành vi cụ thể tức là ghi nhận lại các điều mà các bên đã thỏa thuận.
Thứ ba, các bên trong hợp đồng dịch vụ luôn có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất
định. Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng do các bên thỏa thuận mà ra. Tuy nhiên,
quyền và nghĩa vụ đó phải không trái pháp luật, đạo đức xã hội, và được pháp luật
công nhận và bảo vệ,
Cụ thể, chủ thể của hợp đồng dịch vụ là người cung ứng dịch vụ (người cung
ứng) và người thuê dịch vụ (khách hàng). Trong đó, khách hàng có nghĩa vụ cung cấp
các thông tin và tài liệu cần thiết và trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng. Khách hàng
cũng có quyền yêu cầu bên cung ứng thực hiện công việc theo đúng thỏa thuận trong
hợp đồng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
8
8
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên cung ứng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng theo thỏa thuận, giữ bí mật và
báo cáo về việc không đầy đủ thông tin, tài liệu cho khách hàng trong việc thực hiện
hợp đồng. Nếu vi phạm phải bồi thường thiệt hại. Bên cung ứng có quyền yêu cầu

thế phát triển của nền kinh tế thì lĩnh vực tư vấn thiết kế trang trí nội thất đang là một
nhu cầu không thể thiếu của mọi gia đình và các công trình lớn nhỏ.
III. Hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trí nội thất
1. Hoạt động tư vấn, thiết kế trang trí nội thất
Ngày nay có rất nhiều hoạt động dịch vụ khác nhau như: dịch vụ tư vấn, dịch vụ
thiết kế, dịch vụ giám định, dịch vụ thuê, cho thuê…Tuỳ từng đặc điểm của doanh
nghiệp mà có kinh doanh những ngành dịch vụ tương ứng.
Như trên đã nói, hoạt động dịch vụ là một ngành đang được các doanh nghiệp
chú ý tới. Trong những ngành dịch vụ đó có lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trí nội thất.
Trước đây, lĩnh vực này chưa được chú ý tới, vì với mỗi một công trình xây dựng,
việc trang trí nội thất trở thành một khâu nhỏ trong quá trình xây dựng nên không
được mọi người chú ý. Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với việc mở
rộng quan hệ hợp tác quốc tế, các doanh nghiệp đã nhận thấy điểm mạnh trong ngành
nghề này, và nhận thấy ngành nghề này sẽ ngày càng phát triển. Bởi nhu cầu của con
người lúc này không phải là ăn no mặc ấm như ngày xưa, mà nhu cầu chủ yếu của
con người là làm đẹp. Không những làm đẹp cho chính họ mà còn làm đẹp cho
những vật dụng xung quanh ngôi nhà của họ.
Đáp ứng được yêu cầu đó, cùng với sự học hỏi của các nước đi trước, các doanh
nghiệp Việt Nam đã chú trọng hơn và phát triển tới ngành nghề kinh doanh này. Và
một số doanh nghiệp đã thành công trong lĩnh vực này như: công ty Hoà Phát, công
ty Xuân Hoà, Công ty Mộc Dũng…
2. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế
trang trí nội thất
Theo khoản 1 điều 3 Luật thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Trong đó, cung
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
10
10
11

11
11
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Nguyên tắc giao kết hợp đồng
Nguyên tắc giao kết hợp đồng đó là những tư tưởng chỉ đạo được quán triệt
trong những quy phạm pháp luật về hợp đồng, có tính chất bắt buộc đối với các chủ
thể trong khi tiến hành ký kết hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường, việc giao kết
hợp đồng, về nguyên tắc không còn là kỷ luật của nhà nước, là nhiệm vụ của các tổ
chức, cơ quan và các đơn vị kinh tế nữa. Đó là quyền tự do hợp đồng, một trong
những nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh.
Theo điều 389 Bộ Luật dân sự, thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các
nguyên tắc: tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái phápluật, đạo đức xã hội;
Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
• Căn cứ giao kết hợp đồng
Căn cứ để giao kết hợp đồng đó là: theo định hướng kế hoạch của nhà nước, các
chính sách chế độ, các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành; căn cứ theo nhu cầu thị
trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng; căn cứ vào khả năng phát triển
sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế của đơn vị mình; căn cứ vào tính
hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng bảo đảm về tài sản của các
bên cùng ký kết hợp đồng.
• Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia quan hệ hợp đồng bình đẳng, tự
nguyện thỏa thuận để xác định những quyền và nghĩa vụ với nhau. Chủ thể của hợp
đồng dịch vụ là các thương nhân. Theo điều 6 Luật thương mại 2005 thì thương nhân
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một
cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Để trở thành thương nhân các
cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân tổ hợp
tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp
luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp

trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người cư trú
tại Việt Nam và sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài; cung ứng dịch vụ cho người không
cư trú tại Việt nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.
Đối với hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trí nội thất thì
đối tượng chủ yếu của hợp đồng là tư vấn, thiết kế các sản phẩm Modun (tức là các
sản phẩm vách ngăn văn phòng).
• Hình thức của hợp đồng
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
13
13
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Về hình thức của hợp đồng, theo điều 74 Luật thương mại, hợp đồng dịch vụ
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối
với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì
phải tuân theo các quy định đó.
Yêu cầu về hình thức hợp đồng dịch vụ như vậy tương đối phù hợp với thực
tiễn kinh tế xã hội hiện nay, khi mọi hình thức giao dịch thông qua các phương tiện
kỹ thuật hiện đại mang tính trung gian như internet, điện tử viễn thông đang rất phát
triển. Bên cạnh đó, sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ quốc gia, quốc tế
trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, kinh tế đòi hỏi các hình thức giao lưu phải hết
sức thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả.
• Mục đích của hợp đồng
Mục đích chủ yếu của hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang
trí nội thất là nhằm thực hiện các công trình trang trí nội thất. Cụ thể như: việc sản
xuất các sản phẩm vách ngăn văn phòng, thực hiện tư vấn, thiết kế trang trí nội thất
theo từng yêu cầu của đối tác, …
• Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận của các bên. Các bên
có thể thỏa thuận về các nội dung chủ yếu (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005 ) như:

Nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng,
chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác thể hiện: bên cung ứng dịch
vụ phải cung ứng các sản phẩm đúng theo quy định trong hợp đồng như: về đối
tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, và thời hạn. Bên thuê dịch vụ phải thanh
toán đủ các chi phí nhận hàng và thanh toán theo đúng phương thức thanh toán quy
định trong hợp đồng hay theo quy định cụ thể trong pháp luật.
Nguyên tắc thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi
nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau, thể hiện: trong quá trình thực hiện hợp
đồng, các bên không được lừa dối nhau, không cung cấp các sản phẩm không đúng
yêu cầu của hợp đồng, không sử dụng những thủ đoạn trái pháp luật để thực hiện hợp
đồng.Các bên trong quan hệ hợp đồng phải hợp tác trên tinh thần cùng có lợi.
Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thể hiện: việc thực hiện hợp đồng
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
15
15
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không được xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng. Không
vì việc thực hiện hợp đồng mà xâm phạm quyền và lợi ích của người khác, lợi ích
nhà nước và lợi ích công cộng.
• Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
Bên cung ứng dịch vụ sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa vụ cung ứng
các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ phù hợp
những thỏa thuận như thực hiện công việc đúng số lượng, chất lượng, thời hạn, địa
điểm và các thỏa thuận khác. Không được giao cho người khác thực hiện thay công
việc, nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ. Sau khi hoàn thành công việc,
bên cung ứng dịch vụ phải bảo quản và giao lại cho khách hàng những tài liệu và
phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ. Nếu những thông tin, tài liệu không đầy
đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành công việc thì phải thông báo ngay cho

do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch
vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động của bên cung ứng dịch vụ để
không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào và phải trả tiền
dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo như thỏa thuận trong hợp đồng.
Theo tinh thần điều 86 Luật thương mại 2005, khoản 3 điều 524 Bộ Luật dân
sự 2005 thì trường hợp có thỏa thuận về giá dịch vụ, không có thỏa thuận về phương
pháp tính giá dịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá
dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về
phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh
toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ.
Khách hàng phải trả tiền dịch vụ tại thời điểm hoàn thành dịch vụ, nếu không
có thỏa thuận khác. Trường hợp dịch vụ được cung ứng không đạt được như thỏa
thuận hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì khách hàng có quyền
giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
3.3 Sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng
• Sửa đổi hợp đồng
Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc
sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
17
17
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng
thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức
đó.
• Chấm dứt hợp đồng
Điều 525 Bộ Luật dân sự quy định: trong trường hợp việc thực hiện công việc
không có lợi cho khách hàng thì khách hàng có quyền đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng nhưng phải báo ngay cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời

• Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Điều 426 Bộ luật dân sự 2005 quy định chi tiết việc đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng. Cụ thể:
Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có
thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải
thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt tại
thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. các bên không phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán. Bên
có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại.
3.4 Các chế tài áp dụng khi vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại
Trong trường hợp vi phạm hợp đồng mà một bên gây thiệt hại cho bên kia đến
mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng, thì bên vi
phạm có thể bị áp dụng một trong các chế tài sau, tùy theo mức độ vi phạm: buộc
thực hiện đúng hợp đồng; phạt vi phạm; buộc bồi thường thiệt hại; tạm ngừng thực
hiện hợp đồng; đình chỉ thực hiện hợp đồng; hủy bỏ hợp đồng; các biện pháp khác.
Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp: xảy ra
trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận; xảy ra sự kiện bất khả
kháng; hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm
của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền
mà các bên không biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp bên vi phạm không chứng minh được hành vi vi phạm của
mình thuộc trường hợp miễn trách thì bị áp dụng các hình thức chế tài trên. Các hình
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
19
19
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thức này được quy định cụ thể trong điều 297,300,302,307,308,310,312,Luật thương

20
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyết các tranh chấp phải bảo đảm: giải quyết nhanh, thuận lợi, hạn chế mức tối đa
sự gián đoạn của quá trình thực hiện hợp đồng, đảm bảo dân chủ trong quá trình giải
quyết tranh chấp, bảo vệ uy tín của các bên trên thương trường, bảo đảm yếu tố bí
mật trong kinh doanh, đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả
lợi ích hợp pháp của các bên.
Trước yêu cầu đó, mục tiêu đặt ra là tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh
chấp khác nhau để các nhà kinh doanh có thể thực hiện quyền tự do của mình. Đồng
thời, bảo đảm các phương thức đó được xây dựng theo hướng từng bước phù hợp với
thông lệ, tập quán quốc tế.
Thể chế kinh tế thị trường cho phép các chủ thể kinh doanh có quyền tự do
kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật không cấm. Xuất phát từ quyền tự do kinh
doanh, các chủ thể tự do thỏa thuận và đưa ra các nguyên tắc xử sự, các chủ thể có
những lựa chọn khác nhau cho hành vi của mình trên cơ sở các quy phạm pháp luật
mang tính tùy nghi, các chủ thể có những hành vi và thỏa thuận mà pháp luật không
dự liệu những vẫn không bị xem là trái pháp luật. Đứng trước góc độ Nhà nước thì
Nhà nước được quyền chủ động đưa các tranh chấp đó ra xét xử. Tuy nhiên, quyền tự
do thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh phù hợp với pháp luật là một quyền trong
quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh có
quyền lựa chọn hình thức giải quyết các tranh chấp nhằm bảo vệ lợi ích cho mình mà
không chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước. Theo quy định của pháp luật, các phương
thức được sử dụng để giải quyết tranh chấp gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài,
tòa án.
Trong đó, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai
trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình
bày quan điểm, chính kiến, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thỏa thuận thống
nhất. Yêu cầu của quá trình thương lượng là: đòi hỏi các bên phải có thiện chí, hợp
tác và có đầy đủ những am hiểu cần thiết về chuyên môn. Kết quả của thương lượng

chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận
chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ
phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm
dò, khai thác;
Phương thức giải quyết thông qua Tòa án hay Trung tâm Trọng tài là những
thủ tục giải quyết tranh chấp mang tính chất tài phán. Trong đó, Trọng tài được coi là
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
22
22
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tòa án tư trong việc giải quyết tranh chấp. Thẩm quyền của Tòa án và Trọng tài đều
là giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại, tuy nhiên thủ tục tố tụng của
hai phương thức này được tiến hành khác nhau. Tòa án nhân danh quyền lực của Nhà
nước trong việc xét xử, còn trọng tài nhân danh ý chí tối cao của các bên đương sự.
Trong quá trình xét xử tại Tòa án, các bên không có quyền lựa chọn Thẩm phán và
Tòa án xét xử, còn trọng tài thì ngược lại, các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên,
trung tâm trọng tài để giải quyết tranh chấp của mình.
Mỗi phương thức đều có những ưu thế cũng như những hạn chế của nó, do đó
khi tranh chấp xảy ra các bên có thể thỏa thuận chọn phương thức giải quyết tranh
chấp thích hợp nhất. Để tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh, trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay, thời gian là vàng là bạc, do đó việc giải quyết tranh chấp cũng
phải được tiến hành nhanh chóng thuận lợi cho các bên.
I. Tổng quan về công ty TNHH Mộc Dũng
Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Mộc Dũng (MODUN) được thành lập năm 1999 theo giấy
phép số 4432GP/TLDN tại Hà Nội.
Tên viết tắt : Modun Co.,Ltd
Trụ sở chính : 395 Kim Mã – Q.Ba Đình- Hà Nội
Điện thoại: 8318 308-8316 770

thành viên:
* Ông Phạm Anh Dũng - nam
Ngày sinh: 13/12/1969
Địa chỉ thường trú: số 107, tổ 27, cụm 5, Đê La Thành, phường Ngọc Khánh,
quận Ba Đình, Hà Nội.
Chỗ ở hiện tại: số 107, tổ 27, cụm 5, Đê La Thành, phường Ngọc Khánh,
quận Ba Đình, Hà Nội.
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh doanh k45
24
24
25
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hộ chiếu số:AN0045406 do cục quản lý Xuất nhập cảnh cấp ngày 01/03/1999
Giá trị vốn góp: 1.400.000.000 đồng (93.33%)
* Bà Nguyễn Thuý Nga - nữ
Sinh ngày: 31/01/1970
Địa chỉ thường trú: số 107, tổ 27, cụm 5, Đê La Thành, phường Ngọc Khánh,
quận Ba Đình, Hà Nội.
Chỗ ở hiện tại: số 107, tổ 27,cụm 5, Đê La Thành, phường Ngọc Khánh, quận
Ba Đình, Hà Nội.
CMND số 011 426 730 do công an TP Hà Nội cấp ngày 25/02/2003
Giá trị vốn góp: 100.000.000 đồng (3.67%)
Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực đồ gỗ và trang trí nội thất, trọng điểm
đầu tư của công ty là sản phẩm hàng nội thất cao cấp có công nghệ phức tạp trong
sản xuất và đòi hỏi trình độ quản lý cao. Phương châm kinh doanh của Mộc Dũng là
phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng và hàm lượng chấp xám cao, phức tạp về
cấu trúc để đi tiên phong trên thị trường.
Sản phẩm mũi nhọn của công ty là hệ thống vách ngăn nhôm bọc nỉ cho văn
phòng(sản phẩm này đạt tiêu chuẩn TCVN 0199 và đạt được huy chương vàng tại hội
chợ triển lãm hàng công nghệ năm 1999). Hiện nay công ty đã trở thành một trong ba


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status