Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ- thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Mộc Dũng - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mở đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một yêu cầu tất yếu,
cấp bách đối với Việt Nam. Thời gian qua, nước ta đã tích cực chuẩn bị để tham gia
ngày càng sâu rộng hơn vào tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như gia nhập
ASEAN năm 1995, APEC năm 1998, ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa
Kỳ năm 2000. Mốc quan trọng nhất để đánh giá mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế
giới là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Để làm được việc đó, chúng ta phải chấp nhận các luật chơi nêu trong
tất cả các Hiệp định đa phương của WTO, trong đó có Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ GATS (General Agreement on Trade in Servicies).
Thương mại dịch vụ là lĩnh vực kinh tế rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội. Thương mại dịch vụ phát triển phong phú, đa dạng phụ thuộc
vào sự phát triển của nền kinh tế, trình độ phát triển khoa học công nghệ và tri thức
của con người trong xã hội. Điều này có thể thấy rõ ở các nước công nghiệp phát
triển như Mỹ, EU, Nhật Bản các ngành dịch vụ chiếm tới 70-80% GDP, còn đối với
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tỷ lệ này dừng ở mức 30-40%, ở các
nước kém phát triển tỷ lệ này thường ở mức trên dưới 10%. Xét trên bình diện
thương mại toàn cầu, theo báo cáo của WTO, các giao dịch thương mại dịch vụ
chiếm xấp xỉ 50% tổng giá trị thương mại toàn cầu. Bởi vậy, WTO đã đưa thương
mại là một trong các nội dung đàm phán quan trọng được điều chỉnh bằng một văn
kiện pháp lý riêng rẽ - Hiệp định GATS, trong đó có đưa ra các nguyên tắc quốc tế
chung để điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ trên phạm vi toàn cầu.
Để bắt kịp với xu thế hội nhập trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam
đã là thành viên WTO thì việc không ngừng hoàn thiện các quy định pháp lý về
thương mại dịch vụ là một vấn đề cấp bách.Thương mại dịch vụ gồm nhiều ngành
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghề khác nhau, tác động tới nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ như hoạt động trang
trí nội thất, hoạt động thiết kế, tư vấn, môi giới… Trong đó,tư vấn thiết kế trang trí

Theo điều 3 Luật thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay
nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận
hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội.
Trong đó, hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động
thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc
giữa thương nhân với các bên có liên quan. Theo quy định của pháp luật, thì hành vi
thương mại gồm các hành vi: mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới
thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công trong
thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giao nhận hàng hóa; dịch
vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bài giới thiệu
hàng hóa; hội chợ, triển lãm thương mại.
Hoạt động dịch vụ là loại hoạt động kinh tế rất quan trọng trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Bên cạnh việc thường xuyên tham gia vào các hợp đồng mua bán,
các doanh nghiệp luôn chú trọng tham gia vào các quan hệ để bảo đảm cung ứng
những điều kiện cần thiết cho sản xuất, vận tải, áp dụng tiến bộ KH-KT và công nghệ
mới, tăng năng suất lao động, cải tiến các dây chuyền sản xuất và phục vụ các nhu
cầu sinh hoạt xã hội.
Trong thương mại truyền thống thì hoạt động mua bán hàng hóa chiếm vị trí
chủ yếu và quan trọng. Nhưng ngày nay, hoạt động dịch vụ cũng chiếm một vị trí
đáng kể và nó có xu hướng ngày càng gia tăng. Nhiều tổ chức, cá nhân có uy tín
trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ thương mại đã khẳng định vị trí của mình trên
thương trường. Và ngành dịch vụ đã ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế
quốc dân. Cụ thể:
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1: Tỷ lệ tăng trưởng và mức độ đóng góp cho tăng trưởng GDP của
các lĩnh vực kinh tế giai đoạn 1995-2001

để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc
của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Và người làm dịch
vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vụ giao nhận hàng hóa. Còn giám định hàng hóa là hành vi thương mại do một tổ
chức giám định độc lập thực hiện để xác định tình trạng thực tế của hàng hóa theo
yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Luật thương mại năm 2005 thì quy định cụ thể hơn. Trong đó, hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo
đó, cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, trong đó một bên (sau đây gọi là bên
cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh
toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên
cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Như vậy, cung ứng dịch vụ là
một hoạt động thương mại do đó chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và pháp
luật có liên quan.
2. Yêu cầu của hợp đồng dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
Qua khái niệm về hoạt động cung ứng dịch vụ ở trên cho thấy, hoạt động cung
ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc nhằm
thực hiện các chính sách kinh tế xã hội. Mỗi doanh nghiệp có những phương thức
kinh doanh với những ngành nghề kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên mục đích cuối
cùng vẫn là lợi nhuận. Lợi nhuận là kết quả mà doanh nghiệp đạt được trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm trước đây thì chỉ có hoạt động mua bán
hàng hóa mới đem lại lợi nhuận cao, hoạt động cung ứng dịch vụ tuy đã xuất hiện
xong nhìn chung ít được quan tâm tới. Tuy nhiên cùng với xu hướng phát triển của
nền kinh tế đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì hoạt
động cung ứng dịch vụ ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong nền kinh tế.

những quy định trong Bộ Luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh
doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng. Không những chế định hợp đồng là một công cụ
pháp lý mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưu của người được thực thi và bảo đảm,
giúp cho luồng lưu thông hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội
và nền kinh tế. Do vậy, hợp đồng ngày càng được xác lập một cách phổ biến hơn,
thường xuyên hơn và trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta.
Trong nền kinh tế thị trường sản phẩm được làm ra để trao đổi mua bán do đó
mà hợp đồng không những là công cụ mà còn là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạch của các chủ thể kinh doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ phù
hợp với thị trường. Qua đây, các nhà sản xuất kinh doanh có căn cứ để xây dựng kế
hoạch sản xuất kinh doanh cho đơn vị mình. Đó là mục tiêu đầu vào, nơi tiêu thụ sản
phẩm đầu ra, chất lượng, số lượng, giá thành,….sự thỏa thuận đó đảm bảo sự bình
đẳng thực sự của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của họ.
Hợp đồng ra đời từ rất lâu và nó được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
như khế ước, thỏa thuận… Tuy nhiên, hợp đồng trong hoạt động kinh tế được quy
định một cách cụ thể lần đầu tiên trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
Theo đó, hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các
bên giao kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên
cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ- kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục
đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng
và thực hiện kế hoạch của mình.
Tuy Pháp lệnh hợp đồng đã quy định cụ thể về hợp đồng kinh tế tạo điều kiện
mở rộng các loại hình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, Pháp lệnh còn nhiều điểm bất
cập như việc quy định hạn chế chủ thể của hợp đồng hay hình thức của hợp đồng.
Điều này cũng hạn chế việc giao kết hợp đồng kinh tế trong thời gian này. Trong

Thứ hai, hợp đồng dịch vụ luôn thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên bình đẳng
với nhau.Đó là sự thỏa thuận về việc thực hiện một công việc nào đó của một bên
đối với bên kia. Quá trình hình thành hợp đồng là quá trình các bên bàn bạc, thương
lượng để đi đến thỏa thuận. Quá trình này, các bên được tự do bày tỏ ý chí để đi đến
hợp đồng. Hợp đồng thể hiện trung thành ý chí của các bên.
Hình thức của hợp đồng được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được
xác lập bằng hành vi cụ thể tức là ghi nhận lại các điều mà các bên đã thỏa thuận.
Thứ ba, các bên trong hợp đồng dịch vụ luôn có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất
định. Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng do các bên thỏa thuận mà ra. Tuy nhiên,
quyền và nghĩa vụ đó phải không trái pháp luật, đạo đức xã hội, và được pháp luật
công nhận và bảo vệ,
Cụ thể, chủ thể của hợp đồng dịch vụ là người cung ứng dịch vụ (người cung
ứng) và người thuê dịch vụ (khách hàng). Trong đó, khách hàng có nghĩa vụ cung cấp
các thông tin và tài liệu cần thiết và trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng. Khách hàng
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cũng có quyền yêu cầu bên cung ứng thực hiện công việc theo đúng thỏa thuận trong
hợp đồng.
Bên cung ứng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng theo thỏa thuận, giữ bí mật và
báo cáo về việc không đầy đủ thông tin, tài liệu cho khách hàng trong việc thực hiện
hợp đồng. Nếu vi phạm phải bồi thường thiệt hại. Bên cung ứng có quyền yêu cầu
khách hàng cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết, yêu cầu khách hàng trả tiền dịch
vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
Đặc điểm khác nhau cơ bản giữa hợp đồng dịch vụ và hợp đồng mua bán chính
là đặc điểm của đối tượng hợp đồng. Trong hợp đồng mua bán đối tượng của nó là
hàng hoá, còn trong hợp đồng dịch vụ đối tượng là một hoạt động cung ứng những
nhu cầu nhất định, là một công việc cụ thể do các chủ thể hợp đồng xác định theo
những yêu cầu của bên đạt dịch vụ.

chú ý tới. Trong những ngành dịch vụ đó có lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trí nội
thất. Trước đây, lĩnh vực này chưa được chú ý tới, vì với mỗi một công trình xây
dựng, việc trang trí nội thất trở thành một khâu nhỏ trong quá trình xây dựng nên
không được mọi người chú ý. Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với việc
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, các doanh nghiệp đã nhận thấy điểm mạnh trong
ngành nghề này, và nhận thấy ngành nghề này sẽ ngày càng phát triển. Bởi nhu cầu
của con người lúc này không phải là ăn no mặc ấm như ngày xưa, mà nhu cầu chủ
yếu của con người là làm đẹp. Không những làm đẹp cho chính họ mà còn làm đẹp
cho những vật dụng xung quanh ngôi nhà của họ.
Đáp ứng được yêu cầu đó, cùng với sự học hỏi của các nước đi trước, các doanh
nghiệp Việt Nam đã chú trọng hơn và phát triển tới ngành nghề kinh doanh này. Và
một số doanh nghiệp đã thành công trong lĩnh vực này như: công ty Hoà Phát, công
ty Xuân Hoà, Công ty Mộc Dũng…
2. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế
trang trí nội thất
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo khoản 1 điều 3 Luật thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Trong đó, cung
ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại mà một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ
cho một bên khác và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán
cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Như vậy, hoạt động cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại do đó chịu
sự điều chỉnh của Luật thương mại và pháp luật có liên quan. Tùy từng lĩnh vực cụ
thể như dịch vụ tư vấn, dịch vụ thiết kế, dịch vụ giám định…chịu sự điều chỉnh của
các quy định cụ thể khác nhau.
Họat động tư vấn thiết kế trang trí nội thất là một loại dịch vụ hiện đang phổ

những nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh.
Theo điều 389 Bộ Luật dân sự, thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các
nguyên tắc: tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái phápluật, đạo đức xã hội;
Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
• Căn cứ giao kết hợp đồng
Căn cứ để giao kết hợp đồng đó là: theo định hướng kế hoạch của nhà nước, các
chính sách chế độ, các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành; căn cứ theo nhu cầu thị
trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng; căn cứ vào khả năng phát triển
sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế của đơn vị mình; căn cứ vào tính
hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng bảo đảm về tài sản của các
bên cùng ký kết hợp đồng.
• Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia quan hệ hợp đồng bình đẳng, tự
nguyện thỏa thuận để xác định những quyền và nghĩa vụ với nhau. Chủ thể của hợp
đồng dịch vụ là các thương nhân. Theo điều 6 Luật thương mại 2005 thì thương nhân
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một
cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Để trở thành thương nhân các
cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân tổ hợp
tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân.
Ngoài ra, chủ thể của hợp đồng dịch vụ có thể là chi nhánh của thương nhân
nước ngoài. Theo khoản 3 điều 19 Luật thương mại 2005 thì Chi nhánh của thương
nhân nước ngoài có quyền giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt
động quy định trong giấy phép thành lập chi nhánh và theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, chủ thể của hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế

Về hình thức của hợp đồng, theo điều 74 Luật thương mại, hợp đồng dịch vụ
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối
với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì
phải tuân theo các quy định đó.
Yêu cầu về hình thức hợp đồng dịch vụ như vậy tương đối phù hợp với thực
tiễn kinh tế xã hội hiện nay, khi mọi hình thức giao dịch thông qua các phương tiện
kỹ thuật hiện đại mang tính trung gian như internet, điện tử viễn thông đang rất phát
triển. Bên cạnh đó, sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ quốc gia, quốc tế
trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, kinh tế đòi hỏi các hình thức giao lưu phải hết
sức thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả.
• Mục đích của hợp đồng
Mục đích chủ yếu của hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang
trí nội thất là nhằm thực hiện các công trình trang trí nội thất. Cụ thể như: việc sản
xuất các sản phẩm vách ngăn văn phòng, thực hiện tư vấn, thiết kế trang trí nội thất
theo từng yêu cầu của đối tác, …
• Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận của các bên. Các bên
có thể thỏa thuận về các nội dung chủ yếu (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005 ) như:
+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không
được làm;
+ Số lượng, chất lượng;
+ Giá, phương thức thanh toán;
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
+ Quyền, nghĩa vụ của các bên;
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
+ Phạt vi phạm hợp đồng;

yêu cầu của hợp đồng, không sử dụng những thủ đoạn trái pháp luật để thực hiện hợp
đồng.Các bên trong quan hệ hợp đồng phải hợp tác trên tinh thần cùng có lợi.
Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thể hiện: việc thực hiện hợp đồng
không được xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng. Không
vì việc thực hiện hợp đồng mà xâm phạm quyền và lợi ích của người khác, lợi ích
nhà nước và lợi ích công cộng.
• Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
Bên cung ứng dịch vụ sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa vụ cung ứng
các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ phù hợp
những thỏa thuận như thực hiện công việc đúng số lượng, chất lượng, thời hạn, địa
điểm và các thỏa thuận khác. Không được giao cho người khác thực hiện thay công
việc, nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ. Sau khi hoàn thành công việc,
bên cung ứng dịch vụ phải bảo quản và giao lại cho khách hàng những tài liệu và
phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ. Nếu những thông tin, tài liệu không đầy
đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành công việc thì phải thông báo ngay cho
bên thuê dịch vụ. Trong thỏa thuận có yêu cầu cần giữ bí mật về thông tin mà mình
biết thì trong quá trình cung ứng dịch vụ phải giữ bí mật theo đúng thỏa thuận.
Trường hợp mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật
thông tin thì phải bồi thường thiệt hại.
Để thực hiện tốt công việc của mình, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu
khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện có liên quan. Hoặc được thay đổi
điều kiện dịch vụ vì lợi ích của khách hàng mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của
khách hàng, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, nhưng phải báo
ngay cho khách hàng.
Theo điều 82 Luật thương mại quy định về thời hạn hoàn thành dịch vụ. Cụ
thể: bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạn hoàn thành dịch vụ thì bên cung
ứng dịch vụ phải hoàn thành dịch vụ trong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh

• Sửa đổi hợp đồng
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc
sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng
thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức
đó.
• Chấm dứt hợp đồng
Điều 525 Bộ Luật dân sự quy định: trong trường hợp việc thực hiện công việc
không có lợi cho khách hàng thì khách hàng có quyền đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng nhưng phải báo ngay cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời
gian hợp lý, khách hàng phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng đã
thực hiện và bồi thường thiệt hại. Nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của
mình hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận thì bên cung ứng có quyền đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 424 Bộ Luật dân sự 2005 quy định, hợp đồng chấp dứt trong các trường
hợp:
+ Hợp đồng đã được hoàn thành
+ Theo thỏa thuận của các bên
+ Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt
mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện
+ Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
+ Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không
còn và các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường
thiệt hại
+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định
• Hủy bỏ hợp đồng

Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp: xảy ra
trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận; xảy ra sự kiện bất khả
kháng; hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm
của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền
mà các bên không biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong trường hợp bên vi phạm không chứng minh được hành vi vi phạm của
mình thuộc trường hợp miễn trách thì bị áp dụng các hình thức chế tài trên. Các hình
thức này được quy định cụ thể trong điều 297,300,302,307,308,310,312,Luật thương
mại 2005.
4. Tranh chấp và các hình thức giải quyết tranh chấp
Trường hợp, nếu các bên thực hiện đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng
thì tranh chấp xảy ra là một điều không thể có. Trong trường hợp nếu xảy ra tranh
chấp, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ căn cứ vào vào điều khoản ghi trong hợp đồng
và những quy định của pháp luật để xác định xem bên nào vi phạm, bên nào bị vi
phạm. Từ đó, đưa ra những cách giải quyết có lợi nhất cho cả hai bên.
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, quan niêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Các quan hệ kinh tế ngày càng đa dạng, không những được thiết lập giữa các tổ chức
trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước. Trong
điều kiện như vậy, việc nảy sinh các tranh chấp là một điều không thể tránh khỏi.
Đặc biệt là trong việc thực hiện các hợp đồng dịch vụ.
Các tranh chấp phát sinh chứng tỏ quan hệ làm ăn của các chủ thể có vấn đề,
tức là đã có bất công, có mâu thuẫn mà nếu không giải quyết kịp thời thì quan hệ làm
ăn của họ có thể bị phá vỡ. Điều quan trọng là việc giải quyết các tranh chấp đó hoàn
toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên, sự can thiệp của Nhà nước có thẩm quyền

do thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh phù hợp với pháp luật là một quyền trong
quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh có
quyền lựa chọn hình thức giải quyết các tranh chấp nhằm bảo vệ lợi ích cho mình mà
không chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước. Theo quy định của pháp luật, các phương
thức được sử dụng để giải quyết tranh chấp gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài,
tòa án.
Trong đó, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai
trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình
bày quan điểm, chính kiến, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thỏa thuận thống
nhất. Yêu cầu của quá trình thương lượng là: đòi hỏi các bên phải có thiện chí, hợp
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tác và có đầy đủ những am hiểu cần thiết về chuyên môn. Kết quả của thương lượng
là những cam kết, thỏa thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ bế tắc hoặc bất
đồng phát sinh mà các bên thường không ý thức được trước đó.
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp một cách thân thiện nhằm tiếp tục
gìn giữ và phát triển các quan hệ kinh doanh trong một thời gian dài vì lợi ích chung
của cả hai bên. Các giao dịch thương mại ngày càng gia tăng với tốc độ phức tạp
ngày càng cao, việc các bên không chỉ đạt được thỏa thuận trong một tranh chấp, mà
còn gìn giữ các quan hệ làm ăn lâu dài là điều cơ bản và nhạy cảm với các nhà kinh
doanh. Để đạt được mục tiêu này, các bên phải có được cơ hội để bộc lộ, giải tỏa,
xóa bỏ những hiểu lầm, xác định các lợi ích nền tảng của mình và những lĩnh vực có
thể thỏa thuận để tìm ra giải pháp chung.
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp tại
trung tâm trọng tài trong đó các bên tranh chấp sẽ lựa chọn trọng tài viên cho mình để
giải quyết tranh chấp. Hai trọng tài viên được chọn sẽ chọn một trọng tài viên làm
chủ tịch hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông

trường như hiện nay, thời gian là vàng là bạc, do đó việc giải quyết tranh chấp cũng
phải được tiến hành nhanh chóng thuận lợi cho các bên.
I. Tổng quan về công ty TNHH Mộc Dũng
1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Mộc Dũng (MODUN) được thành lập năm 1999 theo giấy
phép số 4432GP/TLDN tại Hà Nội.
Tên viết tắt : Modun Co.,Ltd
Trụ sở chính : 395 Kim Mã – Q.Ba Đình- Hà Nội
Điện thoại: 8318 308-8316 770
Fax : 8461773
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Email :[email protected]
Tài khoản nội tệ : 4321.1.184 Ngân hàng Habubank
Mã số thuế : 01.00913701
Quyết định thành lập số 4432GP/TLDN do UBNDTP Hà Nội cấp ngày 14/06/1999
Vốn điều lệ: 1.500.000.000 đồng
Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất hàng nội thất bằng gỗ, kinh loại
- Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng
- Dịch vụ sửa chữa, bảo hành và cho thuê các sản phẩm trên
- Dịch vụ tư vấn, thiết kế và trang trí nội thất
Các đơn vị thành viên:
• Chi nhánh tại TP.HCM
Địa chỉ :số 745 Lê Hồng Phong - Phường 12 quận 10- TP.HCM
Điện thoại : 08 8629 883
Fax : 08 8657 964
Giám đốc chi nhánh : Đặng Văn Hậu

đầu tư của công ty là sản phẩm hàng nội thất cao cấp có công nghệ phức tạp trong
sản xuất và đòi hỏi trình độ quản lý cao. Phương châm kinh doanh của Mộc Dũng là
phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng và hàm lượng chấp xám cao, phức tạp về
cấu trúc để đi tiên phong trên thị trường.
Sản phẩm mũi nhọn của công ty là hệ thống vách ngăn nhôm bọc nỉ cho văn
phòng(sản phẩm này đạt tiêu chuẩn TCVN 0199 và đạt được huy chương vàng tại hội
chợ triển lãm hàng công nghệ năm 1999). Hiện nay công ty đã trở thành một trong ba
công ty lớn trong cả nước hoạt động trong lĩnh vực này. Sản phẩm mang thương hiệu
MODUN đã có mặt tại hầu hết các thành phố lớn trên toàn quốc: Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh, Đã Nẵng, Huế, Vũng Tàu, các tỉnh phía Bắc….và đặc biệt đã ngăn cho hàng
ngoại nhập tương tự vào Việt Nam.
Ngoài sản phẩm vách ngăn văn phòng, công ty còn cung cấp các sản phẩm nội
thất văn phòng cao cấp như bàn, ghế, tủ các loại…Công ty đã cung cấp các sản phẩm
Sinh viên: Nguyễn Thị Chiều Luật kinh
doanh k45
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status