Pháp luật về hoat động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦ N MẠ NH THƯỜ NG

PHP LUẬT V HOT ĐNG
CHO VAY ĐẦ U TƯ CHỨ NG KHOÁ N
CA NGÂN HNG THƯƠNG MI  VIT NAM

LUẬN VĂN THC SĨ LUẬT HỌC H NI – 2011



MC LC
Trang
Trang phụ bì a

Lờ i cam đoan

Mc lc

Danh mụ c cá c từ viế t tắ t

MỞ ĐẦ U
1
CHƯƠNG I: MỘ T SỐ VẤ N ĐỀ LÝ LUẬ N VỀ CHO VAY ĐTCK CỦ A
NHTM
5
1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM
5
1.2 Phân loại cho vay củ a NHTM
7
1.3 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán củ a
NHTM
10
1.3.1 Khái niệm về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM
10
1.3.2 Những đặc điểm của hoạt động cho vay ĐTCK
14
1.4 Vai trò của hoạt động cho vay ĐTCK
15
1.5 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay ĐTCK

44
2.4.2 Phương thứ c cho vay ĐTCK
45
2.5 Hợp đồng tín dng trong hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán
45
2.5.1 Nộ i dung củ a hợ p đồ ng tí n dụ ng
45
2.5.2 Hiệ u lự c củ a hợ p đồ ng tí n dụ ng
47
2.5.3 Gii quyt tranh chp phát sinh t hợp đồng tín dng
49
2.6 Qun l nhà nưc trong hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán
56
2.6.1 Vai trò củ a quả n lý Nhà nướ c đố i vớ i hoạt động cho vay ĐTCK
56
2.6.2 Thẩ m quyề n củ a cá c cơ quan quả n lý nhà nướ c
58
2.6.3 Các biện pháp qun l nhà nưc đi vi hoạt động cho vay ĐTCK
61
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY ĐTCK CỦA NHTM Ở VIỆT
NAM
68
3.1. Cơ sở đưa ra gii pháp
68
3.2. Một s kin nghị c thể
72
3.2.1 Hoàn thiện hệ thng pháp luật
72
3.2.2 Tăng cường việc giám sát thị trường tài chính để tăng tính minh bạch,

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 11 tháng 7 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Hai năm sau đó,
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu
tiên vào ngày 28 tháng 7 năm 2000. Là một thị trường non trẻ và quy mô khá
nhỏ so với các nước nhưng qua mười năm hoạt động, thị trường chứng khoán
Việt Nam đã chứng tỏ vai trò là một kênh dẫn vốn rất quan trọng cho hoạt động
đầu tư, sản xuất. Tuy nhiên, bản thân những kênh thu hút vốn cho thị trường
chứng khoán, trong đó có hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của các ngân
hàng thương mại Việt Nam thì chưa phải đã thực sự được khai thông.
Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán trong thời gian qua cho
thấy, nhu cầu vay và cho vay đầu tư chứng khoán ở Việt Nam là khá lớn. Đơn cử
như năm 2007, thời điểm trước khi hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán được
áp dụng, hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán diễn ra rất sôi động và là động
lực quan trọng đối với sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ
số Vn Index đã đạt tới mức đỉnh cao nhất là 1.170,67 điểm vào ngày 12 tháng 3
năm 2007. Tháng 10 năm 2010, thời điểm mà thị trường chứng khoán được hỗ
trợ mạnh bởi các đòn bẩy tài chính, có những phiên thanh khoản đạt mức kỷ lục
lên tới hơn 9000 tỷ đồng/phiên trên cả hai sàn. Điều đó chứng tỏ, sự tăng trưởng

cũng như những bất cập của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này và đưa ra
những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật là một vấn đề cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tà i này ở Việt Nam
Liên quan đến đề tài này, hiện có một số công trình nghiên cứu sau đây:

3
- TS. Lê Thị Thu Thủy (2002), Pháp luật về cầm cố tài sản vay vốn ngân
hàng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 11);
- TS. Lê Thị Thu Thủy (2004), Tài sản cầm cố vay vốn ngân hàng, Tạp
chí khoa học pháp lý (số 4);
- PGS.TS Trần Ngọc Thơ (2007), Chỉ thị 03 làm cho thị trường chứng
khoán ảm đạm - Báo điệ n tử laodong.com.vn ngày 5/7;
- Nguyễ n Hà (2007), Khố ng chế cho vay chứ ng khoá n – C sốc mang tên
hành chnh, báo điện tử vietnamnet .vn ngà y 12/9;
- ThS. Nguyễn Thị Anh Đào (2009), Sự tham gia của cá c ngân hàng
thương mại cổ phầ n vào thị trường chứng khoán Việt Nam – Đề tài cấp trườ ng -
Đại học Quố c gia Hà Nộ i.
Những công trình nghiên cứu, bài viết trên chỉ đề cập đến một vài khía
cạnh của hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán chứ không phải là những công
trình nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống. Hiện nay chưa có công trình
nghiên cứu pháp luật chuyên sâu và mang tính tổng thể về vấn đề này. Vì vậy,
việc nghiên cứu đề tài này một mặt đảm bảo tính cấp thiết, mặt khác đảm bảo
tính mới cho một luận văn khoa học.
3. Phạm vi nghiên cứu củ a đề tà i
Đề tà i tậ p trung nghiên cứ u các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt
độ ng cho vay đầ u tư chứ ng khoá n củ a NHTM , có đối chiếu với pháp luật nước
ngoài; trên cơ sở đó , đề tài phân tích những bất cập , hạn chế của pháp luật hiện
hành và đề xuất phương hướng h oàn thiện pháp luật về hoạ t độ ng cho vay
ĐTCK củ a NHTM ở Việ t Nam.
4. Mục đích nghiên cứu

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY
ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là hoạt động phổ biến trong đời sống thương mại. Một số tài liệu
có định nghĩa về khái niệm “cho vay” nhưng giữa các tài liệu, nội hàm của khái
niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: “cho vay là sự chuyển vốn dưới
hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ nợ
hay người cho vay) cho một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là con nợ hay
người đi vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả vốn
và phải trả thêm một khoản lãi gọi là lợi tức”. [25]
Định nghĩa này chưa hoàn toàn chính xác khi cho rằng hoạt động cho vay
luôn có yếu tố lãi suất. Trên thực tế , lãi suất chỉ áp dụng trong đa số chứ không
phải trong tất cả các trường hợp cho vay , ví dụ như trong hoạt động cho vay giữ a
các cá nhân thì có thể không có lãi suất .
Theo từ điển Wikipedia, khái niệm “cho vay” được đồng nhất với khái
niệm “tín dụng”. Từ điển này định nghĩa: “Cho vay, còn gọi là tn dụng, là việc
một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chnh cho đối tượng khác (bên đi vay)
trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chnh cho bên cho vay trong một thời hạn
thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một
khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ”. [29]
Đây cũng là định nghĩa chưa chính xác, bởi lẽ nội hàm của khái niệm “cho
vay” hẹp hơn so với nội hàm của khái niệm “tín dụng”. Theo khoản 14 – Điều 4
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tn dụng là việc thỏa thuận để tổ
chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản

6
tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài
chnh, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tn dụng khác”.

- Về lã i suấ t : NHTM là mộ t chủ thể kinh doanh hoạ t độ ng vì mụ c tiêu lợ i
nhuậ n, vì thế, khi cho vay , NHTM luôn yêu cầ u bên đi vay phả i trả l ãi suất cho
khoản tiền vay. Mứ c lã i suấ t do cá c bên thỏ a thuậ n căn cứ và o quy định củ a phá p
luậ t tạ i thờ i điể m cho vay . Đây là mộ t sự khá c biệ t nữ a giữ a hoạ t độ ng cho vay
của NHTM với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng , hoạt động cho vay ngoài
ngân hà ng có thể có lã i suấ t hoặ c không .
- Về biệ n phá p bả o đả m thự c hiệ n hợ p đồ ng : để bảo đảm an toàn cho hoạt
độ ng củ a mình , khi cho khá ch hà ng vay tiề n , các NHTM thường yêu cầu khách
hàng phả i thự c hiệ n cá c biệ n phá p bả o đả m việ c trả lạ i tiề n vay . Trong đó , phổ
biế n nhấ t là biệ n phá p cầ m cố , thế chấ p và bả o lã nh , ngoài ra , trong mộ t số ít
trườ ng hợ p thì biệ n phá p tín chấ p cũ ng có thể đượ c á p dụ ng . Trong khi đó , đố i
vớ i cá c hoạ t độ ng cho vay ngoà i ngân hà ng thì không nhấ t thiế t phả i có cá c biệ n
pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng .
Vớ i nhữ ng đặ c điể m đã phân tích ở trên , có thể đưa ra khái niệm về hoạt
độ ng cho vay củ a NHT M như sau: Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động
mà trong đó, bên cho vay là cá c NHTM chuyể n nhượ ng quyề n sở hữ u mộ t khoả n
tiề n cho bên đi vay trên nguyên tắ c có hoà n trả cả gố c và lã i.
1.2 Phân loại cho vay củ a NHTM
Hoạt động cho vay của NHTM khá đa dạng. Việc phân loại cho vay của
NHTM có thể căn cứ vào các tiêu chí như phương thức, mục đích, thời hạn cho
vay… Cụ thể như sau: 8
- Căn cứ vào phương thức cho vay
Theo Quy chế cho vay củ a tổ chứ c tín dụ ng đố i vớ i khá ch hà ng (Ban hà nh
theo Quyế t định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngà y 31/12/2001 của Thống đốc
Ngân hà ng Nhà nướ c ), tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay việc áp
dụng các phương thức cho vay , bao gồ m:
+ Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực

dịch vụ thanh toán.
+ Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm.
- Căn cứ vào thờ i hạ n cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng . Thờ i hạ n cho vay
đượ c chia là m nhiề u mứ c :
+ Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng;
+ Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng;
+ Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở
lên.
- Căn cứ vào mụ c đí ch sử dụng vốn vay
Mặc d mục đích sử dụng vốn vay rấ t đa dạ ng nhưng có thể chia làm hai
loại cơ bản :
+ Vay tiền để kinh doanh : Chủ thể vay vố n là cá c doanh nghiệ p , nhà đầu
tư, họ vay tiền để phục vụ cho hoạt động kinh doanh . Đây là một hành vi thương
mại vì mục tiêu lợi nhuận . Để có thể vay tiề n củ a NHTM , họ phải đưa ra phương

10
án kinh doanh cụ thể để các ngân hàng thẩm định . Ngân hà ng chỉ cho vay nế u họ
thấ y rằ ng, phương á n kinh doanh củ a khá ch hà ng là khả thi . Trườ ng hợ p ngượ c
lại, ngân hà ng sẽ từ chố i cho vay .
+ Vay tiền để tiêu dù ng : Chủ thể vay tiêu dng chủ yếu là các hộ gia đình
và cá c cá nhân . Họ vay tiền không vì mục đích kinh doanh mà vì mục đích tiêu
dng như mua nhà ở , mua xe ô tô, đi du họ c…
Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường , để thu hút khách
hàng, các ngân hàng luôn nghiên cứu để đưa ra các sả n phẩ m tín dụng cụ thể ph
hợp với từng đối tượng khách hàng . Việc kết hợp các phương thức , mục đích ,
thời hạn vay tiền bằ ng nhiều cách khác nhau sẽ cho ra đời nhữ ng sản phẩm tín

đồng, công ty CK sẽ làm giấy chuyển nhượng sang tên lại cho nhà đầu tư. Nhà
đầu tư phải trả lại số tiền bằng giá công ty mua ban đầu cộng với lãi suất cho vay
ty theo thời hạn repo. [30]
- Cho vay CK củ a CTCK - hay còn gọi là bán khống (short sales) - là một
nghiệp vụ do các công ty CK thự c hiệ n . Theo đó, nhà đầu tư vay CK của công
ty CK để bán. Sau một thời gian, khách hàng sẽ phải mua loại CK đã vay trên
TTCK để trả lại cho công ty CK.
Khi thực hiện giao dịch này, nhà đầu tư mong đợi giá sẽ giảm trong tương
lai, khi đó họ sẽ mua được chứng khoán với giá thấp hơn và trả cho công ty CK.
Khoản chênh lệch là lợi nhuận của nhà đầu tư, song nếu CK tăng giá thì sẽ bị lỗ.
Bán khống có thể gây ra tình trạng giảm giá CK trong ngắn hạn và tăng giá trong
dài hạn. Vì khi đến hạn, nhà đầu tư phải mua CK để hoàn trả số chứng khoán đã
bán khống trước đó. [27]

12
Trên thế giớ i, việ c bá n khố ng chứ ng khoá n đượ c thự c hiệ n khá phổ biế n ở
các nước có thị trường chứng khoán phát triển .  Việt Nam hiệ n nay, các công
ty chứ ng khoá n chưa đượ c phé p thự c hiệ n nghiệ p vụ nà y do chưa có văn bả n quy
định cụ thể .
- Mua ký quỹ (margin purchase ) là một nghiệp vụ của giao dịch ký quỹ
(margin trading ). Theo đó , khi mua chứ ng khoá n , nhà đầu tư chỉ cần có một
phần tiền trong tổng giá trị số chứng khoán đặt mua, phần còn lại do công ty
chứng khoán cho vay. Sau khi giao dịch được thực hiện, số chứng khoán đã mua
được công ty chứng khoán giữ lại làm tài sản thế chấp cho khoản vay. Khi nhà
đầu tư có nhu cầu bán chứng khoán , công ty chứ ng khoá n sẽ thực hiện lệnh bán
chứng khoán và thu về phần vốn đã cho nhà đầu tư vay gồm cả gốc lẫn lãi. Nhà
đầu tư tiến hành giao dịch mua ký quỹ trong trường hợp họ kỳ vọng giá chứ ng
khoán sẽ tăng lên trong tương lai . [26]
 Việt Nam , các công ty CK đã cho nhà đầu tư CK mua ký quỹ t ừ khá
lâu, cho dù nhà nướ c chưa có văn bả n quy định cụ thể về nghiệ p vụ nà y . Ngày 1

2. Mục đích

Để đầ u tư CK
Sử dụ ng tiề n
bán CK để đầu
tư CK hoặ c vì
mục đích khác
Để đầ u tư
CK
Để đầ u tư CK
3. Thờ i hạ n
Hiệ n tạ i, các
NHTM chỉ cho
vay ngắ n hạ n
(tố i đa là 1
năm)
Ngắ n hạ n (tố i
đa là 1 năm)
Chưa có quy
định
Chưa có quy
định (theo dự
kiế n củ a
UBCK thì thờ i
hạn tối đa là 6
tháng)
4. Tài sản
bảo đảm
Các loại chứng
khoán, giấy tờ

các NHTM. Hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng : Đối tượng của hợp đồng cho vay
ĐTCK là mộ t khoả n tiề n . Số tiề n vay phụ thuộ c và o số lượ ng CK , giá trị CK mà
nhà đầu tư muốn mua trên TTCK .
- Thứ hai, về mục đích vay tiền: Khi đưa ra một sản phẩm tín dụng, các
NHTM luôn hướng tới một nhóm đối tượng khách hàng nào đó và gắn với mục
đích nhất định trong việc sử dụng tiền vay. Đối với hoạt động cho vay ĐTCK,
nhà đầu tư chỉ được sử dụng tiền vay để mua CK. Tất nhiên, các nhà đầu tư cũng
có thể cầm cố CK để vay tiền của NHTM và sử dụng vào các mục đích khác,
nhưng hoạt động đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này.
- Thứ ba, về tài sản bảo đảm tiền vay: Để đảm bảo an toàn cho hoạt động
của mình, trong đa số trường hợp, các NHTM đều yêu cầu khách hàng khi vay
tiền thì phải có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cho vay ĐTCK là hoạt
động chứa đựng rủi ro cao nên tất cả các NHTM đều yêu cầu khách hàng phải
có tài sản bảo đảm tiền vay. Tài sản bảo đảm tiền vay có thể là các loại CK, giấy
tờ có giá hoặc các tài sản khác.
- Thứ tư, về lãi suất: Cho vay ĐTCK luôn luôn có lãi suất. Đây là một
hành vi thương mại, người đi vay và người cho vay đều vì mục tiêu lợi nhuận, vì
thế, khi vay tiền đầu tư CK, các nhà đầu tư phải trả một khoản lãi suất cho ngân
hàng. Trong hầu hết các trường hợp, các NHTM không dành bất kỳ một sự ưu
đãi đáng kể nào về lãi suất cho các nhà đầu tư CK. Thậm chí, lãi suất cho vay
ĐTCK còn cao hơn so với mặt bằng lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác

15
- Thứ năm, về hạn mức cho vay: Do giá cả của các loại CK, đặc biệt là các
cổ phiếu công ty và chứng chỉ quỹ thường xuyên biến động, có thể giảm giá khá
nhanh, khi tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ là các loại CK thì để hạn chế rủi ro,
các NHTM thường chỉ cho vay thấp hơn thị giá của các loại CK được mang ra
cầm cố. Mỗi NHTM có một quy định về giới hạn cho vay tối đa khác nhau. Vào
những năm 2006 - 2007 - thời kỳ bng nổ của TTCK và cũng là thời kì hoàng

đòn bẩy tài chính (chủ yếu là cho vay đầu tư chứng khoán) thì thị trường tăng
trưởng mạnh và ngược lại, mỗi khi NHNN đưa ra các quy định hạn chế cho vay
ĐTCK thì đều làm thị trường mất điểm, thanh khoản giảm sút. Vì thế, ở một khía
cạnh nhất định, có thể nói rằng hoạt động cho vay ĐTCK có vai trò kích thích
TTCK phát triển.
- Đối với các NHTM : Là một chủ thể kinh doanh , các NHTM sẵn sàng
“mở hầu bao” cho khách hàng vay tiền nếu như họ thấy rằng việc cho vay là
tương đố i an toàn và mang lại lợi nhuận . Hoạt động cho vay ĐTCK có thể mang
lại cho các NHTM một khoản lợi nhuận đáng kể. Trên thực tế, lãi suất cho vay
ĐTCK thường cao hơn so với lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác nên các
NHTM cũng mong muốn được thực hiện nghiệp vụ này.
- Đối với các nhà đầu tư: Khi tham gia vào TTCK, họ kỳ vọng sẽ thu được
lợi nhuận. Một số nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư cá nhân, có nhiều hạn chế về
năng lực tài chính. Với mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, các nhà đầu tư sẵn sàng
sử dụng các đòn bẩy tài chính, trong đó có nghiệp vụ repo, mua ký quỹ, bán
khống chứng khoán và phổ biến nhất là đi vay tiền để ĐTCK. Vào những năm
2006 – 2007, rất nhiều nhà đầu tư vay tiền để ĐTCK và thu được nhiều lợi
nhuận. Mặc d sau đó có một số nhà đầu tư bị phá sản do TTCK suy giảm trong

17
một thời gian dài, nhưng nhìn chung, các nhà đầu tư vẫn rất cần đến sự hỗ trợ tài
chính của các NHTM.
Vai trò tích cực của hoạt động cho vay ĐTCK ở các NHTM đối với sự
phát triển của TTCK là không thể phủ nhận, tuy nhiên, nếu để hoạt động này
phát triển một cách tự do không có kiểm soát thì nó có thể dẫn đến một số tác
động tiêu cực, đó là:
- Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát . Khi cá c
NHTM và cá c nhà đầ u tư chạ y theo lợ i nhuậ n trướ c mắ t , hoạt động vay và cho
vay ĐTCK diễ n ra mộ t cá ch thá i quá dẫn tới TTCK phát triển nóng . Từ đó, hệ
thống doanh nghiệp và các ngân hàng dễ dàng huy động được vốn dẫn tới nhu

Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này có một ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi
lẽ, chỉ khi thu hồi được nợ gốc và tiền lãi của khách hàng thì ngân hàng mới có
thể bảo toàn và phát triển vốn, duy trì được tính thanh khoản để tiếp tục hoạt
động bình thường. Nếu các khoản nợ không thu hồi được chiếm tỷ lệ lớn, ngân
hàng có thể bị mất thanh khoản và rơi vào phá sản.
- Nguyên tắc vốn vay phải được sử dụng đng mục đch và có hiệu quả:
Đối với các nhà đầu tư vay vốn để ĐTCK, họ phải dng số tiền vay của
các NHTM để ĐTCK chứ không được sử dụng vào mục đích khác. Trong trường
hợp các nhà đầu tư cầm cố cổ phiếu để vay tiền của NHTM vì một mục đích
khác thì đó không phải là hoạt động cho vay ĐTCK.
Trên thực tế, không phải lúc nào ngân hàng cũng kiểm soát được khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không. Nhiều người thế
chấp tài sản để vay tiền của NHTM với mục đích (ghi trong hồ sơ vay vốn) là
vay tiêu dng hoặc vay để sản xuất, kinh doanh, nhưng sau đó lại dng số tiền đã

19
vay để ĐTCK. Như đã phân tích ở phần 1.1.4, những hành vi đó bị coi là vi
phạm hợp đồng tín dụng.
Việc sử dụng vốn vay để ĐTCK phải đảm bảo tính hiệu quả. Tính hiệu
quả của hoạt động ĐTCK phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của công ty mà
nhà đầu tư nắm giữ CK. Nhà đầu tư nên mua cổ phiếu của các công ty có kết quả
kinh doanh tốt, hệ số an toàn cao.
Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả một mặt giúp nhà đầu tư bảo toàn và
phát triển vốn, mặt khác, giúp ngân hàng có thể thu hồi nợ để bảo đảm an toàn
cho hoạt động của mình.
- Nguyên tắc cho vay có tài sản bảo đảm:
Hoạt động cho vay ĐTCK được coi là “nghiệp vụ chứa đựng rủi ro cao
trong số các nghiệp vụ chứa đựng rủi ro” của các NHTM . Khi cho khách hàng
vay tiền, ngân hàng đã chuyển giao quyền sở hữu số tiền đó cho khách hàng.
Việc khách hàng có hoàn trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng hay không phầ n lớ n

tạo điều kiện cho các nhà đầ u tư tiế p cậ n nguồ n vố n tín dụ ng để đầ u tư và o CK ,
trên cơ sở đó gó p phầ n thú c đẩ y sự phá t triể n củ a TTCK .
TTCK Việt Nam ra đời từ năm 2000 nhưng hoạt động cho vay ĐTCK của
các NHTM chỉ được triển khai vào cuối năm 2005 và phát triển mạnh mẽ vào
những năm 2006, 2007. Từ đó đến nay, các cơ quan Nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động cho vay ĐTCK. Dưới đây là một số
văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động này:
- Điểm 3 văn bản số 20/TB-VPCP ngày 29/1/2007 của Văn phòng Chính
phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và giám

Trích đoạn Hợp đồng tín dụng trong hoạt động chovay đầu tƣ chứng khoán Quản lý nhà nƣớc trong hoạt động chovay đầu tƣ chứng khoán Ngân hàng TMCP Á Châu ACB 25 25 2 TCT CP Bảo hiểm dầu khí PVI 5 KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status